Luận án tiến sĩ nghiên cứu hội chứng ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ ở người mắc hội chứng chuyển hóa và đánh giá kết quả sau các can thiệp điều trị

Luận án tiến sĩ nghiên cứu hội chứng ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ ở người mắc hội chứng chuyển hóa và đánh giá hiệu quả can thiệp điều trị.

Chuyên ngành

Nội khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2023

169
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ và hội chứng chuyển hóa

Ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (OSA) là một rối loạn hô hấp phổ biến, đặc trưng bởi những cơn ngừng thở hoặc giảm thở lặp đi lặp lại trong suốt thời gian ngủ. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ mà còn gây ra nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, bao gồm rối loạn tim mạch và chuyển hóa. Theo các nghiên cứu, tỷ lệ mắc OSA trong cộng đồng dao động từ 2% đến 4%, và có xu hướng gia tăng. OSA có thể dẫn đến các biến chứng như tăng huyết áp, đái tháo đường, và rối loạn lipid máu. Hội chứng chuyển hóa (HCCH) cũng có mối liên hệ chặt chẽ với OSA, với các yếu tố như béo phì, tăng huyết áp, và rối loạn lipid máu. Việc điều trị OSA không chỉ giúp cải thiện giấc ngủ mà còn có tác động tích cực đến các yếu tố nguy cơ tim mạch và chuyển hóa.

1.1. Ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ

Ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (OSA) được xác định bởi sự lặp lại của các cơn ngừng thở do tắc nghẽn đường hô hấp trên. Các cơn ngưng thở này có thể kéo dài từ vài giây đến vài phút và thường đi kèm với cảm giác buồn ngủ ban ngày quá mức. OSA có thể gây ra các vấn đề nghiêm trọng như đột tử khi ngủ và các rối loạn tim mạch. Tình trạng này thường gặp ở những người béo phì, và tỷ lệ mắc OSA ở người có chỉ số khối cơ thể (BMI) cao thường cao hơn. Việc chẩn đoán OSA thường dựa vào chỉ số ngưng thở - giảm thở (AHI), với ngưỡng chẩn đoán là AHI ≥ 5 lần/giờ.

1.2. Hội chứng chuyển hóa

Hội chứng chuyển hóa (HCCH) là một tập hợp các rối loạn chuyển hóa, bao gồm tăng huyết áp, tăng triglyceride máu, giảm cholesterol HDL, và tăng glucose máu. HCCH có liên quan mật thiết đến OSA, với nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng người mắc HCCH có nguy cơ cao hơn mắc OSA. Cả hai hội chứng này đều có thể dẫn đến các biến chứng tim mạch nghiêm trọng. Việc điều trị hiệu quả OSA có thể giúp cải thiện các yếu tố nguy cơ của HCCH, từ đó giảm thiểu nguy cơ mắc các bệnh lý tim mạch.

1.3. Liên quan giữa ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ và hội chứng chuyển hóa

Mối liên hệ giữa OSA và HCCH đã được nghiên cứu rộng rãi. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng OSA có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng của HCCH, và ngược lại, HCCH cũng có thể làm tăng nguy cơ mắc OSA. Việc điều trị OSA không chỉ giúp cải thiện giấc ngủ mà còn có tác động tích cực đến các yếu tố nguy cơ của HCCH, như huyết áp và lipid máu. Do đó, việc nhận diện và điều trị đồng thời cả hai hội chứng này là rất quan trọng trong việc cải thiện sức khỏe tổng thể của bệnh nhân.

II. Các yếu tố nguy cơ chung

Các yếu tố nguy cơ của OSA và HCCH bao gồm béo phì, tuổi tác, giới tính, và di truyền. Béo phì là yếu tố nguy cơ chính, với nhiều nghiên cứu cho thấy rằng người có chỉ số BMI cao có nguy cơ mắc OSA cao hơn. Tuổi tác cũng là một yếu tố quan trọng, với tỷ lệ mắc OSA tăng lên ở người cao tuổi. Giới tính cũng đóng vai trò, với nam giới có tỷ lệ mắc OSA cao hơn nữ giới. Di truyền cũng có thể ảnh hưởng đến nguy cơ mắc OSA, với những người có tiền sử gia đình mắc OSA có nguy cơ cao hơn. Việc nhận diện các yếu tố nguy cơ này có thể giúp trong việc chẩn đoán và điều trị sớm OSA và HCCH.

2.1. Béo phì

Béo phì là yếu tố nguy cơ hàng đầu cho cả OSA và HCCH. Nghiên cứu cho thấy rằng người có BMI > 25 kg/m2 có nguy cơ mắc OSA cao gấp nhiều lần so với người có BMI bình thường. Mỡ thừa, đặc biệt là mỡ bụng, có thể gây áp lực lên đường hô hấp, dẫn đến tắc nghẽn trong khi ngủ. Việc giảm cân có thể giúp cải thiện tình trạng OSA và giảm nguy cơ mắc HCCH.

2.2. Tuổi tác

Tuổi tác là một yếu tố không thể thay đổi, nhưng nó có ảnh hưởng lớn đến nguy cơ mắc OSA. Tỷ lệ mắc OSA tăng lên theo độ tuổi, đặc biệt là ở những người trên 65 tuổi. Nhiều người cao tuổi mắc OSA mà không có triệu chứng rõ ràng, dẫn đến việc chẩn đoán muộn. Việc theo dõi sức khỏe định kỳ ở người cao tuổi là rất cần thiết để phát hiện sớm OSA.

2.3. Giới tính

Giới tính cũng là một yếu tố quan trọng trong việc xác định nguy cơ mắc OSA. Nam giới có tỷ lệ mắc OSA cao hơn nữ giới, đặc biệt là trong độ tuổi trung niên. Sau thời kỳ mãn kinh, tỷ lệ mắc OSA ở nữ giới cũng tăng lên, cho thấy rằng sự thay đổi hormone có thể ảnh hưởng đến nguy cơ mắc OSA. Việc nhận diện giới tính trong chẩn đoán OSA là cần thiết để có phương pháp điều trị phù hợp.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ và hội chứng chuyển hóa 1. Ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ 1. Các khái niệm Ngưng thở khi ngủ là tình trạng được đặc trưng bởi những cơn ngưng thở hoặc giảm thở ngắn, lặp đi lặp lại nhiều lần trong suốt thời gian ngủ.

Cơn ngưng thở được xác định khi biên độ của dòng khí lưu thông qua mũi giảm ít nhất 90% so với thời điểm trước đó, và kéo dài ít nhất 10 giây. Giảm thở xảy ra khi biên độ của dòng khí lưu thông qua mũi giảm từ 30% trở lên trong thời gian ít nhất 10 giây kết hợp với giảm độ bão hòa oxy ít nhất 3% hoặc có kèm theo vi thức giấc. Giảm thở có hậu quả lâm sàng tương đương ngưng thở [1]. Độ nặng của ngưng thở khi ngủ được đánh giá dựa vào chỉ số ngưng thở - giảm thở (Apnea Hypopnea Index - AHI) là tổng số lần ngưng thở và giảm thở xảy ra trong một giờ ngủ.

Có ba kiểu ngưng thở khi ngủ: - Ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ: Cơn ngưng thở có kèm theo gắng sức hô hấp, gây ra do đường hô hấp trên bị hẹp hoặc xẹp dẫn đến cản trở thông khí. - Ngưng thở trung ương khi ngủ: Cơn ngưng thở không kèm theo cử động hô hấp, do không có tín hiệu từ trung tâm hô hấp đến các cơ hô hấp, dẫn đến không có thông khí. - Ngưng thở hỗn hợp khi ngủ: Cơn ngưng thở gồm cả giai đoạn ngưng thở tắc nghẽn và giai đoạn ngưng thở trung ương. Các kiểu ngưng thở khi ngủ (Nguồn: Robert Hiesch, 2020 [15]) Người mắc chứng ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (OSA) có thể có vài chục đến hàng trăm cơn ngưng thở hoặc giảm thở do sự hẹp hoặc tắc nghẽn đường hô hấp trên trong khi ngủ, dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng như đột tử khi ngủ, buồn ngủ ban ngày quá mức ảnh hưởng đến vận hành máy móc, tàu xe hay các rối loạn tim mạch, chuyển hóa như THA, ĐTĐ typ 2, rối loạn lipid máu, bệnh mạch vành, suy tim, rối loạn nhịp tim,….

OSA là dạng thường gặp nhất của rối loạn hô hấp khi ngủ. Dịch tễ học ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ OSA gặp khá phổ biến với tỷ lệ ước tính là 2 - 4% trong dân số chung và được cho là đang gia tăng liên tục [16],[17],[18]. Với ngưỡng chẩn đoán xác định là chỉ số AHI ≥ 5 lần/giờ và có các triệu chứng lâm sàng của bệnh, tỷ lệ mắc OSA dao động từ 9 - 38% [19],[20]. Năm 2007, Tổ chức Y tế thế giới ước tính có hơn 100 triệu người mắc OSA trên toàn cầu [21].

Đến năm 2019, một phân tích tổng hợp từ các nghiên cứu của 16 quốc gia trên thế giới [22], sử dụng ngưỡng chẩn đoán OSA của Viện Y học giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep Medicine - AASM) là AHI ≥ 5 lần/giờ ước tính rằng có khoảng 936 triệu người lớn từ 30 - 69 tuổi mắc OSA, trong đó có 425 triệu người mắc OSA trung bình - nặng (AHI ≥ 15 lần/giờ), một vài nước có tỷ lệ mắc OSA trên 50%, cao nhất là Trung Quốc, tiếp đến là Hoa Kỳ, Brazil và Ấn Độ. 5 Tỷ lệ nam giới mắc OSA thường cao gấp hai đến ba lần nữ giới. Nữ thường mắc OSA nhiều hơn sau thời kỳ mãn kinh. OSA cũng có tính chất gia đình.

Những người có quan hệ trực thuộc (ví dụ cha/mẹ - con hay anh/chị - em) có nguy cơ mắc OSA cao gấp hai lần người bình thường [23]. OSA có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng phổ biến hơn ở người cao tuổi. Người trên 65 tuổi có tỷ lệ mắc khá cao nhưng hầu như không có triệu chứng lâm sàng [23]. Báo cáo của Motamedi Kevin từ năm 2009 thấy rằng hơn 85% người bệnh có triệu chứng OSA chưa bao giờ được chẩn đoán [24].

Bản đồ tỷ lệ mắc OSA trên thế giới (Nguồn: Benjafield, 2019 [22]) Tại Việt Nam, năm 2009, Nguyễn Xuân Bích Huyên lần đầu tiên nghiên cứu tỷ lệ OSA trên người bệnh có rối loạn giấc ngủ tại Khoa Hô hấp - Bệnh viện Chợ Rẫy dựa vào đa ký hô hấp/ đa ký giấc ngủ. Tác giả thấy tần suất mắc hội chứng này là 127/163 (77,9%) [25]. Đến năm 2016, tác giả cũng báo cáo hiệu quả thở áp lực dương liên tục (Continuous Positive Airway Pressure - CPAP) điều trị OSA nặng giúp đưa AHI trở về mức bình thường, giảm ngáy và buồn ngủ ban ngày [26]. Năm 2018, báo cáo từ nghiên cứu đa trung tâm được thực hiện tại Bệnh viện Chợ Rẫy và Đơn vị Nghiên cứu lâm 6 sàng - Trường Cao đẳng Y tế Lâm Đồng cho thấy tỷ lệ hiện mắc của OSA ở người trưởng thành Việt Nam là 8,5% [27].

Phân tích tổng hợp của Benjafield và cộng sự [22] dựa vào tỷ lệ mắc OSA của các quốc gia có dữ liệu, xét sự tương đồng về dân số, chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index - BMI), chủng tộc và độ gần về vị trí địa lý để ước tính số lượng và tỷ lệ OSA cho từng quốc gia, trong đó chỉ ra tỷ lệ ước tính mắc OSA ở người Việt Nam từ 30 - 69 tuổi là 9,5% và tỷ lệ OSA trung bình - nặng trong độ tuổi này là 5,4%. Tỷ lệ mắc OSA trung bình - nặng chiếm tỷ lệ từ 2 - 7% ở nữ giới và 4 - 16% ở nam giới [22]. Nghiên cứu EPSASIE tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ này là 5,2% [27], khá gần với ước tính của Benjafield kể trên. Nghiên cứu Winconsin Sleep Cohort có tỷ lệ OSA trung bình - nặng là 9,5 - 13% [28].

So với người OSA nhẹ, người mắc OSA trung bình - nặng được quan tâm nhiều hơn do có liên quan đến các bệnh đồng mắc tim mạch, chuyển hóa, có thể xảy ra các biến cố tim mạch hay đột quỵ vào ban đêm và nguy cơ tai nạn do buồn ngủ quá mức ban ngày. Tỷ lệ OSA trung bình - nặng trên thế giới (Nguồn: Benjafield, 2019 [22]) 7 1. Sinh lý bệnh ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ Trong khi ngủ, cơ bị giảm trương lực, nhất là ở giai đoạn giấc ngủ nghịch thường. Sự mất trương lực cơ dẫn đến hầu bị sụp xuống.

Nếu trương lực cơ giảm và hầu bị sụp một phần nhưng không khí vẫn đi qua được thì khi đó sẽ có ngáy và giảm thở. Nếu mất trương lực cơ và hầu bị sụp đổ hoàn toàn gây tắc nghẽn, hiện tượng ngừng thở sẽ xảy ra. Ở người mắc OSA, cấu trúc vùng hầu rất dễ bị xẹp. Khi ở trạng thái thức tỉnh, thần kinh của các cơ giãn đường hô hấp trên sẽ được kích hoạt và sự kích hoạt này sẽ mất đi lúc bắt đầu ngủ, dẫn đến đường hô hấp thu hẹp và/hoặc xẹp lại.

Khuynh hướng lặp đi lặp lại mang tính chu kỳ của ngưng thở là kết quả cuối cùng của nhiều đáp ứng [3]. Cơ chế bệnh sinh của OSA có sự tham gia của nhiều yếu tố khác nhau, các yếu tố chính bao gồm: - Vai trò của đường dẫn khí trên: Do đường dẫn khí trên ở người không có các cấu trúc xương hoặc sụn nâng đỡ, nhất là vùng hầu nên dễ bị xẹp và tắc nghẽn trong khi ngủ [29]. Ngoài ra, đường kính vùng hầu còn tùy thuộc vào sự cân bằng giữa các lực làm giãn và làm xẹp đường hô hấp trên. Lực làm giãn đường hô hấp vùng hầu chủ yếu do sự co của các cơ vùng hầu giúp đường hô hấp mở rộng.

Lực làm xẹp đường hô hấp trên chủ yếu do cơ hoành và hoạt động của các cơ làm giãn nở lồng ngực thì hít vào. Khi ngủ, lực làm giãn đường hô hấp trên của các cơ vùng hầu yếu hơn cơ hoành. Sự thay đổi sinh lý này gây ra bất thường sức cản đường thở trên thì hít vào, có thể làm hẹp đường hô hấp trong khi ngủ [29]. - Vai trò của các yếu tố thuộc về xương: Bất thường của các yếu tố thuộc về xương góp phần quan trọng trong bệnh sinh OSA do làm đường hô hấp hẹp nhiều hơn.

Thường gặp nhất là các bất thường xương hàm dưới như hàm dưới đưa ra sau hoặc hàm nhỏ làm tăng 8 nguy cơ tắc nghẽn vùng hạ hầu. Vị trí của xương móng cũng là một yếu tố nguy cơ của OSA nếu nằm thấp xuống phía dưới. Điều này thường kèm theo sự di chuyển xuống dưới của lưỡi vào vùng hạ hầu, gây xẹp đường hô hấp trong khi ngủ [29]. - Vai trò của các yếu tố thuộc về mô mềm: Mô mềm của vùng hầu họng gồm amiđan, thành bên của hầu, lưỡi gà, khẩu cái mềm và lưỡi.

Phì đại các cấu trúc mô mềm ở bên trong hay xung quanh đường hô hấp góp phần đáng kể làm hẹp đường hô hấp trên ở người mắc OSA. Khẩu cái mềm lớn và lưỡi hay lưỡi gà to sẽ chiếm hầu hết đường kính trước sau của đường hô hấp trên [30], trong khi thành hầu dày sẽ chiếm mặt phẳng bên. Hầu họng là nơi thường xảy ra tắc nghẽn ở hầu hết người bệnh OSA [31]. Ngoài ra, khi tích lũy ngay cả một lượng nhỏ chất lỏng phù nề ở đường hô hấp trên cũng sẽ làm các cấu trúc mô mềm ở người bệnh OSA to ra, đặc biệt là khẩu cái mềm, làm hẹp đường thở và gây ra ngưng thở.

Khi nằm, xu hướng dịch di chuyển từ chi dưới lên phía đường hô hấp trên cũng góp phần gây phù nề cấu trúc mô mềm [4]. Tựu chung lại, cơ chế gây hẹp/xẹp đường hô hấp trên khi ngủ có thể được giải thích thông qua mô hình kháng trở Starling - là mô hình của một ống cứng với đoạn giữa có khả năng xẹp lại nằm trong một hộp kín. Đoạn này tương ứng với vùng hầu họng ở người. Khi áp suất ở khoang mũi thấp hơn áp suất tới hạn ở hầu họng thì đường hô hấp khu vực này sẽ bị xẹp và tắc nghẽn [32].

Điều trị OSA áp dụng từ mô hình này là làm tăng chênh lệch áp suất giữa khoang mũi và hầu họng, bằng cách: (1) làm tăng áp suất khoang mũi nhờ áp lực CPAP thích hợp để mở đường hô hấp hoặc (2) làm giảm áp suất tới hạn ở hầu họng thông qua giảm áp lực đè lên đường hô hấp trên (ví dụ giảm cân hoặc thay đổi về cấu trúc giải phẫu sọ mặt…) hoặc bằng cách gia tăng hoạt động kiểm soát thần kinh cơ của trương lực đường hô hấp. Mô hình kháng trở Starling và cơ chế gây hẹp đường dẫn khí (Nguồn: Sy Duong-Quy, 2023 [33]) 1. Triệu chứng của ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ - Triệu chứng cơ năng: Triệu chứng thường gặp của OSA là ngáy, thở hổn hển và ngưng thở về đêm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu hội chứng ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ ở người mắc hội chứng chuyển hóa" cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa hội chứng ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ và hội chứng chuyển hóa. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ các yếu tố nguy cơ mà còn chỉ ra tầm quan trọng của việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời để cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Độc giả sẽ nhận được thông tin hữu ích về cách thức hội chứng này ảnh hưởng đến sức khỏe tổng thể và những biện pháp can thiệp có thể thực hiện.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối liên quan giữa resistin visfatin với một số nguy cơ tim mạch chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2, nơi khám phá mối liên hệ giữa các yếu tố sinh học và nguy cơ tim mạch. Ngoài ra, bài viết Đánh giá sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp ở trung tâm y tế huyện giồng riềng tỉnh kiên giang năm 2021 cũng sẽ cung cấp thông tin về sự tuân thủ điều trị, một yếu tố quan trọng trong quản lý bệnh lý chuyển hóa. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận án tiến sĩ nghiên cứu mật độ xương tình trạng vitamin d và một số markers chu chuyển xương ở trẻ từ 6 đến 14 tuổi tại thành phố cần thơ, để thấy được ảnh hưởng của dinh dưỡng và sức khỏe xương đến các hội chứng chuyển hóa. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề sức khỏe liên quan.