Nghiên cứu hội chứng chuyển hóa và nồng độ leptin IL-1β trong bệnh thoái hóa khớp gối nguyên phát

Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối liên hệ giữa hội chứng chuyển hóa và nồng độ leptin IL-1β ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối nguyên phát.

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Nội khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2019

68
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH THOÁI HÓA KHỚP

1.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán thoái hóa khớp gối

1.3. Quan điểm mới trong cơ chế bệnh sinh của thoái hóa khớp

1.4. HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA

1.5. LIÊN QUAN GIỮA HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA VÀ THOÁI HÓA KHỚP

1.6. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA, LEPTIN, IL-1β Ở BỆNH NHÂN THOÁI HÓA KHỚP GỐI

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2. Thiết kế nghiên cứu

2.3. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.4. Các bước tiến hành nghiên cứu

2.5. Các chỉ tiêu nghiên cứu và tiêu chuẩn sử dụng

2.6. Đạo đức nghiên cứu

2.7. PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÁC NHÓM NGHIÊN CỨU

3.2. TỈ LỆ HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI CÁC GIAI ĐOẠN THOÁI HÓA KHỚP GỐI NGUYÊN PHÁT

3.3. NỒNG ĐỘ LEPTIN VÀ IL-1β HUYẾT TƯƠNG

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA NHÓM BỆNH NHÂN THOÁI HÓA KHỚP GỐI

4.2. HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI CÁC GIAI ĐOẠN THOÁI HÓA KHỚP GỐI NGUYÊN PHÁT

4.3. NỒNG ĐỘ LEPTIN, IL-1β HUYẾT TƯƠNG VÀ TỈ SỐ IL-1β/LEPTIN

NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về hội chứng chuyển hóa

Hội chứng chuyển hóa là một tập hợp các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh lý tim mạch và tiểu đường, bao gồm béo phì, kháng insulin, rối loạn lipid máutăng huyết áp. Trong nghiên cứu này, tỉ lệ hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối được xác định là 59%, cao hơn so với nhóm không mắc. Điều này cho thấy mối liên quan chặt chẽ giữa hội chứng chuyển hóathoái hóa khớp. Béo phì, đặc biệt, được xem là yếu tố nguy cơ chính, gây ra tình trạng viêm mạn tính cấp độ thấp, ảnh hưởng đến nhiều cơ quan trong cơ thể. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng béo phì không chỉ làm tăng tải trọng lên khớp mà còn làm gia tăng các cytokine gây viêm, trong đó có IL-1β. Việc hiểu rõ về hội chứng chuyển hóa sẽ giúp các bác sĩ có cái nhìn tổng quát hơn về tình trạng bệnh lý của bệnh nhân thoái hóa khớp gối.

1.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng chuyển hóa

Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng chuyển hóa thường dựa trên các yếu tố như béo phì, tăng huyết áp, rối loạn lipidkháng insulin. Theo tiêu chuẩn của IDF, một người được coi là mắc hội chứng chuyển hóa khi có ít nhất ba trong số các yếu tố này. Việc xác định chính xác các yếu tố này là rất quan trọng trong việc điều trị và quản lý bệnh nhân. Nghiên cứu cho thấy rằng việc kiểm soát các yếu tố này có thể làm giảm nguy cơ phát triển các bệnh lý liên quan, bao gồm cả thoái hóa khớp. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi và can thiệp sớm đối với những bệnh nhân có nguy cơ cao mắc hội chứng chuyển hóa.

II. Nồng độ leptin và vai trò của nó trong thoái hóa khớp

Leptin là một hormone được sản xuất chủ yếu bởi mô mỡ, có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh cân nặng và chuyển hóa năng lượng. Nghiên cứu cho thấy nồng độ leptin tăng cao ở bệnh nhân béo phì, dẫn đến hiện tượng kháng leptin. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến khả năng kiểm soát cân nặng mà còn làm gia tăng tình trạng viêm trong cơ thể. Trong bối cảnh thoái hóa khớp, leptin được coi là một yếu tố gây viêm, tương tác với các cytokine khác như IL-1β để thúc đẩy quá trình thoái hóa sụn. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nồng độ leptin có mối liên quan chặt chẽ với mức độ viêm và tổn thương khớp ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối. Việc theo dõi nồng độ leptin có thể giúp đánh giá tình trạng viêm và tiến triển của bệnh.

2.1. Tác động của leptin đến tình trạng viêm

Leptin không chỉ tham gia vào việc điều chỉnh cân nặng mà còn có vai trò quan trọng trong việc điều hòa phản ứng viêm. Nghiên cứu cho thấy rằng leptin có thể kích thích sản xuất các cytokine gây viêm, bao gồm IL-1β, từ đó làm gia tăng tình trạng viêm trong khớp. Sự gia tăng nồng độ leptin trong huyết tương có thể dẫn đến tình trạng viêm mạn tính, làm trầm trọng thêm các triệu chứng của thoái hóa khớp. Điều này cho thấy rằng việc kiểm soát nồng độ leptin có thể là một chiến lược tiềm năng trong việc điều trị và quản lý bệnh thoái hóa khớp gối.

III. Mối liên hệ giữa IL 1β và thoái hóa khớp

IL-1β là một cytokine gây viêm quan trọng, có vai trò chủ đạo trong quá trình thoái hóa khớp. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nồng độ IL-1β trong huyết tương có mối liên quan chặt chẽ với mức độ tổn thương khớp ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối. IL-1β không chỉ thúc đẩy quá trình viêm mà còn làm giảm khả năng tái tạo của sụn khớp. Sự gia tăng nồng độ IL-1β có thể dẫn đến sự suy giảm chất lượng của sụn và làm tăng nguy cơ phát triển các biến chứng liên quan đến thoái hóa khớp. Việc theo dõi nồng độ IL-1β có thể giúp đánh giá tình trạng viêm và tiến triển của bệnh, từ đó đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời.

3.1. Tác động của IL 1β đến quá trình thoái hóa khớp

IL-1β có tác động mạnh mẽ đến quá trình thoái hóa khớp thông qua việc kích thích sản xuất các enzyme phân hủy sụn và làm giảm khả năng tái tạo của mô sụn. Nghiên cứu cho thấy rằng sự gia tăng nồng độ IL-1β trong khớp có thể dẫn đến sự suy giảm chất lượng của sụn và làm tăng nguy cơ phát triển các biến chứng liên quan đến thoái hóa khớp. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát nồng độ IL-1β trong việc điều trị và quản lý bệnh nhân thoái hóa khớp gối.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH THOÁI HÓA KHỚP 1. Khái niệm Thoái hóa khớp (THK) trước đây được xem là bệnh lý của riêng sụn khớp, hiện nay người ta cho rằng THK đặc trưng bởi mất tính toàn vẹn của toàn bộ cấu trúc khớp gồm: sụn khớp, xương dưới sụn, sụn chêm, màng hoạt dịch, dây chằng, bao khớp và cơ cạnh khớp [3]. Ước tính 40% nam, 47% nữ mắc THK gối, tần suất THK tăng khi tăng tuổi thọ và tăng tỉ lệ bệnh béo phì [1].

Theo một nghiên cứu ở Việt Nam, tỉ lệ THK gối dựa trên x quang (XQ) ở người trên 40 tuổi là 34,2% [2]. Có nhiều cách phân loại THK, theo cách có tìm được nguyên nhân hay không người ta chia THK thành hai loại: THK nguyên phát khi không tìm thấy nguyên nhân rõ ràng; THK thứ phát khi tìm thấy nguyên nhân cụ thể như chấn thương, bất thường trục khớp bẩm sinh, viêm xương sụn vô khuẩn, gút, viêm khớp dạng thấp, bệnh hệ thống, nhiễm khuẩn khớp, lao… Nhưng sự phân biệt đôi khi khó khăn. THK có rất nhiều yếu tố bệnh nguyên, được chia làm hai loại là nhóm các yếu tố không thể thay đổi (tuổi, giới, chủng tộc, gen di truyền…) và nhóm các yếu tố có thể thay đổi (béo phì, thiếu hụt dinh dưỡng khoáng chất, mức hoạt động thể lực…). Trong nhóm các yếu tố không thể thay đổi, tuổi là yếu tố nguy cơ mạnh nhất, tuy nhiên THK không phải là hệ quả tất yếu của quá trình lão hóa, lão hóa chỉ làm khớp dễ bị tổn thương hơn.

Tỉ lệ THK tăng theo tuổi ở tất cả các vị trí khớp. Trong nhóm các yếu tố có thể thay đổi, béo phì là yếu tố nguy cơ mạnh nhất. Béo phì được đặc trưng bởi tình trạng viêm mạn tính cấp độ thấp, ảnh hưởng đến nhiều cơ quan. Béo phì là yếu tố nguy cơ cao luan an của một loạt bệnh mạn tính.

Tác động đáng kể nhất của béo phì lên hệ thống xương khớp là gây THK ở cả khớp chịu tải trọng (như khớp gối) và khớp không chịu tải (như khớp bàn tay) thông qua cơ chế cơ sinh học (tăng lực đè lên khớp, giảm cơ lực quanh khớp) và viêm (thông qua chất chuyển hóa trung gian là các cytokine, hormone…) [10]. Giảm cân giúp cải thiện đáng kể các triệu chứng lâm sàng, giảm tổn thương cấu trúc khớp [11]. Tiêu chuẩn chẩn đoán thoái hóa khớp gối THK gối được chẩn đoán theo tiêu chuẩn của Hội thấp khớp học Mỹ (American College of Rheumatology) 1991 [12]. Chẩn đoán xác định khi có các yếu tố 1, 2 hoặc 1, 3, 5, 6 hoặc 1, 4, 5, 6.

Độ nhạy 94%, độ đặc hiệu 88%. Đau khớp gối trong hầu hết các ngày của tháng trước (2). Gai xương ở rìa khớp (trên XQ) (3). Dịch khớp là dịch thoái hoá (4).

Cứng khớp buổi sáng ≤ 30 phút (6). Lạo xạo khi cử động Chẩn đoán xác định THK luôn cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh khớp khác vì hình ảnh XQ THK tồn tại ở người lớn tuổi, song triệu chứng có thể do nhiều nguyên nhân khác. Bệnh sinh Mặc dù tổn thương sụn là vấn đề cơ bản của THK, nhưng tất cả các mô khớp cùng bị ảnh hưởng, thứ tự mô khớp bị tổn thương phụ thuộc vào yếu tố khởi phát, thường rất khó biết chính xác thứ tự này. THK không tiến triển với cùng tốc độ ở các cá nhân nên không phải cứ mắc bệnh sớm thì sau này sẽ bị nặng hơn.

Việc dự đoán ai bị nặng, ai nhẹ vẫn là một thách thức của y học. Sụn khớp Sụn là chất “hấp thụ shock”. Những thay đổi bệnh lý sớm nhất thường thấy ở bề mặt sụn tại vùng chịu tải trọng lớn. Ban đầu sụn dày lên do mạng collagen lỏng lẻo cho phép các proteoglycan ưa nước hút nước sưng phồng lên, thể hiện nỗ lực sửa chữa của mô sụn, duy trì chức năng khớp ổn định trong nhiều năm.

Tế bào sụn là loại tế bào duy nhất trong mô sụn, không hoạt động sinh sản trong điều kiện bình thường. Trong THK người ta thấy tế bào sụn thoái hóa có thể phân bào ở mức độ vừa, tạo thành các cụm tế bào, tăng sản xuất collagen, proteoglycan, acid hyaluronic với chất lượng thấp [13]. Đồng thời các cytokine gây viêm thúc đẩy sản xuất protease liên tục; các mảnh protein chất nền gây phản hồi ngược, kích thích tế bào sụn tạo ra nhiều cytokine gây viêm và protease hơn, tạo thành vòng xoắn bệnh lý. Khi tổn thương chất nền ngoại bào đáng kể, có thể thấy chết tế bào sụn, tạo thành vùng không có tế bào sụn.

Các cụm tế bào sụn xen kẽ các vùng vô bào sẽ tạo thành bề mặt sụn gồ ghề. Xương Gai xương hình thành ở vùng rìa khớp, thường không kèm bào mòn xương. Xơ cứng xương dưới sụn là do tăng collagen và khoáng hóa không đúng cách. Nang xương hình thành tại nơi bè xương chịu tải trọng bị đứt gãy kèm hoại tử ở trung tâm và xơ hóa cục bộ vùng xung quanh.

Nếu chỉ có gai xương đơn độc mà không có các biến đổi đi kèm như nang xương, xơ cứng xương dưới sụn thì có thể biểu hiện THK lão hóa đơn thuần [13]. Bao khớp và màng hoạt dịch Tăng sản tế bào lót, thâm nhiễm kết tập lympho bào cạnh mạch máu, viêm màng hoạt dịch nhưng không gây bào mòn sụn tại rìa khớp, không tạo màng máu thâm nhiễm vào bề mặt sụn khớp. Sự dày lên của bao khớp gây hạn chế vận động. Tràn dịch khớp, mất sự hòa hợp của bao khớp dẫn đến thoát vị màng hoạt dịch như kén Baker…[13].

Mô mềm Trong giai đoạn đầu, dây chằng bị sưng phù do tăng tổng hợp proteoglycan và collagen. Sau đó dây chằng bị xơ hóa lớp nội, ngoại mạc, giãn dây chằng bên, tràn dịch khớp mạn có thể dẫn tới lỏng khớp. Teo yếu cơ cạnh khớp do giảm vận động chi đau hoặc do phản xạ thần kinh [13]. Quan điểm mới trong cơ chế bệnh sinh của thoái hóa khớp Trước đây người ta coi thoái hóa khớp (Osteoarthrosis hay Degeneration) là do lão hóa kết hợp quá trình hao mòn cơ học “sờn và rách” đơn thuần, nhưng cơ chế bệnh sinh thực sự của THK phức tạp hơn nhiều.

Hiện nay, người ta dùng thuật ngữ “Osteoarthritis” với hậu tố “-itis” có nghĩa là viêm. Các yếu tố cơ sinh học và các chất trung gian gây viêm đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của THK [14]. Viêm mạn tính hệ thống cấp độ thấp Năm 1993, Hotamisligil lần đầu đưa ra khái niệm viêm chuyển hóa (metabolic inflammation) khi thấy chất tumor necrosis factor alpha (TNF-α) tăng ở người béo phì, sau đó người ta đưa khái niệm viêm mạn tính cấp độ thấp khi thấy có nhiều cytokine gây viêm khác cùng tăng. Các tế bào mỡ tiết ra các adipokine (leptin, resistin, visfatin…); các đại thực bào trong mô mỡ tiết cytokine gây viêm (TNF-α, IL-1β, IL-6…) trong đó IL-6 nguồn gốc mô mỡ chiếm 1/3 lượng IL-6 tuần hoàn và tương quan mạnh với mức béo phì [13], [15].

Các adipokine và cytokine gây viêm đều liên quan đến hình thành phát triển các thành phần của hội chứng chuyển hóa (HCCH) và THK [16]. Tương quan thuận giữa nồng độ leptin dịch khớp với chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index - BMI) [17], tăng nồng độ leptin cả trong dịch khớp và máu của bệnh nhân THK, liên quan với mức độ nặng của THK [18], [19]. Viêm mạn tính cấp độ thấp giúp giải thích tăng nguy cơ THK bàn tay - một khớp không chịu tải trọng - ở những người béo phì. Có mối liên quan giữa nồng độ protein C phản ứng độ nhạy cao (high sensitivity C reactive protein - hsCRP) và thay luan an đổi cấu trúc THK dựa trên XQ, tuy nhiên tăng hsCRP liên quan mạnh với các triệu chứng THK hơn là các thay đổi XQ [20].

Viêm mạn tính cấp độ thấp cũng liên quan đến tuổi và lão hoá tế bào, đặc biệt là dưới ảnh hưởng của các chủng oxy phản ứng (reactive oxygen species - ROS), đáp ứng với stress oxy hoá [21]. Thuật ngữ viêm do lão hóa (inflammaging) chỉ sự kết hợp của lão hóa và viêm [22]. Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy HCCH liên quan với THK nhưng cơ chế vẫn chưa được biết đầy đủ, HCCH liên quan đến THK do có chung cơ chế bệnh sinh mà không tìm được liên quan trực tiếp nào. Gần đây, những nghiên cứu thực nghiệm đáng tin cậy trên động vật giúp củng cố giả thuyết về vai trò độc lập của viêm mạn tính hệ thống cấp độ thấp do béo phì và HCCH gây ra THK dù có tình trạng thừa cân hay không.

Điều trị THK hiệu quả cần kiểm soát tốt tình trạng rối loạn chuyển hóa đi kèm [23]. Các cytokine gây viêm Viêm là cơ chế bệnh sinh quan trọng của THK, có thể viêm cục bộ trong màng hoạt dịch hoặc viêm hệ thống với nhiều cytokine trong máu. Các cytokine gây viêm (pro-inflammatory cytokine) quan trọng gồm IL-1β, TNF- α, IL-6; ngoài ra còn có các cytokine gây viêm khác như IL-15, IL-18… cũng có vai trò phá hủy sụn gây THK [24], [25]. IL-1β là cytokine gây viêm quan trọng trong cơ chế bệnh sinh THK vì ức chế tổng hợp collagen týp II và aggrecan dẫn tới thoái hóa chất nền ngoại bào, dị hóa sụn.

IL-1β kích thích sản xuất một số cytokine và chemokine khác như IL-6 và IL-8 góp phần gây ra tình trạng viêm [26], [27]. TNF-α kích thích sản xuất cytokine gây viêm IL-6, IL-8… Các thụ thể TNF hòa tan trong máu bệnh nhân THK tương quan thuận với mức độ đau, cứng khớp và mức độ tổn thương trên XQ [24]. luan an IL-6: Sụn bình thường khỏe mạnh rất ít sản xuất IL-6, khi tiếp xúc với cytokine gây viêm (IL-1β, TNF-α) tế bào sụn tăng sản xuất IL-6, nồng độ IL- 6 dịch khớp không tương quan với BMI, tuổi. Nồng độ IL-6 tương quan thuận với số lượng gai xương.

IL-6 có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc mất sụn giai đoạn sớm [24], [26]. Các cytokine chống viêm Các cytokine chống viêm (anti-inflammatory cytokine) như IL-2, IL-4 và IL-10 góp phần ức chế viêm màng hoạt dịch. Bằng cách chống viêm, chúng hỗ trợ sản xuất sụn, hoạt động như các tác nhân đồng hóa làm chậm tiến triển THK. Cytokine chống viêm còn ít được nghiên cứu [24].

Chemokine và các yếu tố tạo mạch Một số cytokine khác nguồn gốc tế bào sụn: IL-7, IL-8, IL-15, IL-17, IL-18, oncostatin M… là các chất thu hút các đại thực bào vào khớp, thúc đẩy thoái hóa chất nền ngoại bào bằng cách kích thích các protease khác nhau nên chúng còn được gọi là chemokin.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu hội chứng chuyển hóa và nồng độ leptin IL-1β trong bệnh thoái hóa khớp gối nguyên phát" của tác giả Nguyễn Thị Thanh Mai, dưới sự hướng dẫn của PGS. Đào Hùng Hạnh tại Học viện Quân y, tập trung vào việc phân tích mối liên hệ giữa hội chứng chuyển hóa và nồng độ leptin cũng như IL-1β trong huyết tương của bệnh nhân mắc bệnh thoái hóa khớp gối. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cơ chế bệnh sinh mà còn mở ra hướng đi mới trong việc điều trị và quản lý bệnh thoái hóa khớp gối, từ đó giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến nội khoa và các nghiên cứu tương tự, bạn có thể tham khảo bài viết "Nghiên cứu nồng độ IgA, IgG, IgM huyết tương ở bệnh nhân hội chứng thận hư nguyên phát", nơi cũng đề cập đến các chỉ số sinh học trong bệnh lý. Ngoài ra, bài viết "Nghiên cứu mức lọc cầu thận bằng cystatin C ở bệnh nhân tiền đái tháo đường và đái tháo đường típ 2" sẽ giúp bạn hiểu thêm về các chỉ số sinh học trong các bệnh lý nội khoa khác. Cuối cùng, bài viết "Nồng độ Serp5, RBP4 và IL18 trong huyết thanh ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2" cũng là một nguồn tài liệu quý giá để tìm hiểu thêm về mối liên hệ giữa các yếu tố sinh học và bệnh lý chuyển hóa. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến hội chứng chuyển hóa và các chỉ số sinh học trong y học.