CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Vật liệu khung hữu cơ-kim loại 1. Giới thiệu chung về vật liệu khung hữu cơ-kim loại Vật liệu khung hữu cơ-kim loại (Metal-Organic frameworks – MOFs) là một trong những nhóm vật liệu xốp có cấu trúc tinh thể được cấu tạo dựa trên cơ sở bộ khung cơ kim gồm các ion kim loại liên kết với nhau bằng các cầu nối hữu cơ [1]. Các cầu nối hữu cơ này thường chứa các nhóm giàu điện tử phổ biến như carboxylate, phosphonate, sulfonate, phenolate và dẫn xuất của nitơ như pyridine và imidazole [2] tạo liên kết phối trí với các ion kim loại chuyển tiếp (Co, Cu, Zn, Mn, Ni, Fe,…) trong các cụm nguyên tử gọi là đơn vị cấu trúc thứ cấp (secondary building unit SBU) [3].
Không giống các vật liệu rắn xốp truyền thống như zeolite, silica và than hoạt tính, khả năng tổng hợp MOFs có tính linh động hơn do chỉ cần thay đổi tỷ lệ kim loại, cầu nối hữu cơ, nhiệt độ tổng hợp hay độ phân cực của dung môi tổng hợp,… có thể thu được một loại MOFs mới [4, 5]. Ví dụ như MOF-118 có cấu trúc không gian ba chiều được tạo nên từ sự liên kết giữa ion Cu2+ ở trung tâm và cầu nối hữu cơ 4,4’- biphenyldicarboxylic acid (H2BPDC) (Hình 1. 1) [6], hoặc cấu trúc MTV-MOF-5 được tạo từ sự liên kết giữa ion Zn2+ với cầu nối là dẫn xuất của 1,4- benzenedicarboxylic acid (H2BDC-X) trong đó X là các nhóm Br-, OH-, NO2- (Hình 1. Cấu trúc MOF 118 [6].
Cấu trúc MTV-MOF-5 [7]. Ngoài ra, vật liệu MOFs có nhiều tính chất nổi bật như cấu trúc tinh thể xốp, có diện tích bề mặt riêng lớn và có thể điều chỉnh được kích thước lỗ xốp. Hơn nữa, MOFs còn có ưu thế nhờ có mật độ tâm kim loại cao và phân bố đều trên toàn bộ vật liệu cũng như khả năng bắt giữ chọn lọc một số phân tử vào trong cấu trúc xốp [5]. Nhờ các tính chất nổi bật trên, trong hai thập kỷ qua số lượng vật liệu MOFs được tổng hợp ngày càng nhiều.
Vật liệu MOFs được tổng hợp bằng nhiều phương pháp như phương pháp nhiệt dung môi [6], phương pháp điện hóa học [8], phương pháp có sự hỗ trợ của vi sóng [9-11], phương pháp có sự hỗ trợ của siêu âm [12]. Trong đó, phương pháp nhiệt dung môi là phổ biến nhất (Hình 1. 3), phương pháp này có ưu điểm là thu được tinh thể MOFs có độ đơn tinh thể cao, cấu trúc xốp và có bề mặt riêng lớn [13]. Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là phản ứng cần ổn định nhiệt, thời gian hình thành tinh thể kéo dài [14], điều kiện của phương pháp nhiệt dung môi không phù hợp với những tác chất ban đầu dễ bị phân hủy bởi nhiệt.
Biểu đồ biểu thị phần trăm số lượng vật liệu MOFs được tổng hợp bằng các phương pháp khác nhau [13]. Với các tính chất đặc biệt như đã trình bày, vật liệu MOFs đang được quan tâm nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như hấp phụ và lưu trữ khí [15- 17], phân tách hóa học [18, 19], cảm biến [20], lưu trữ thuốc [21] và xúc tác [22]… Trong xúc tác, MOFs được sử dụng làm xúc tác dị thể để khắc phục nhược điểm của các xúc tác đồng thể truyền thống như lượng chất xúc tác lớn và không thể thu hồi. Từ năm 2002-2014 nghiên cứu về vật liệu MOFs trong lĩnh vực xúc tác bắt đầu phát triển đáng kể, bài báo về MOFs làm xúc tác xuất hiện càng nhiều (Hình 1. Sự phát triển trong lĩnh vực nghiên cứu MOFs làm xúc tác so với các nghiên cứu chung về MOFs giai đoạn từ 2002-2014 (SciFinder cập nhật đến 15 tháng 01, 2014) [23].
3 Đã có những báo cáo về khả năng xúc tác của Ni-MOFs, Co-MOFs, Zn-MOFs và Fe-MOFs trong thời gian gần đây, trong đó các báo cáo về sử dụng Cu-MOFs làm xúc tác vẫn chiếm số lượng đáng kể nhờ tâm đồng có thể đóng vai trò là acid Lewis hoặc chất oxy hoá-khử nên thích hợp làm xúc tác cho nhiều dạng phản ứng tổng hợp hữu cơ [24-30]. Các Cu-MOFs đã được nghiên cứu tổng hợp và ứng dụng làm xúc tác cho các phản ứng tổng hợp hữu cơ như Cu(BDC) [31, 32], Cu3(BTC)2 [33, 34], Cu2(BDC)2(DABCO) [35, 36], Cu2(BPDC)2(BPY) [37, 38], Cu2(NDC)2(DABCO) [39], Cu2(BDC)2(BPY) [40]… Một trong những Cu-MOFs mới được tổng hợp trong những năm gần đây là Cu-MOF-74 [41] và MOF-Cu(INA)2 [42], tổng quan về hai loại MOFs này sẽ được trình bày trong phần tiếp theo của chương. Vật liệu Cu-MOF-74 Trong thập kỷ qua, nhiều nhóm nghiên cứu đã tổng hợp các vật liệu khung hữu cơ-kim loại sử dụng 2,5-dihydroxyterephthalic acid (H2dhtp) làm cầu nối hữu cơ [43]. Cầu nối này có thể liên kết với nhiều ion kim loại như Zn2+, Mg2+, Ni2+, Fe2+, Co2+ hoặc hỗn hợp (Zn2+/ Co2+) tạo thành một cấu trúc ba chiều giống nhau gọi là họ MOF- 74 (Hình 1.
Họ MOF-74 có mạng tinh thể xốp nên có tiềm năng lớn trong lĩnh vực xúc tác, hấp phụ khí, phân tách và tinh chế hỗn hợp hydrocarbon [43]. Cấu trúc M-MOF-74 [43]. 4 Trên cơ sở họ MOF-74, năm 2013 tác giả Sanz và cộng sự đã công bố báo cáo về tổng hợp một vật liệu mới thuộc họ MOF-74 là Cu2(dhtp) hay Cu-MOF-74 có cùng cấu trúc họ MOF-74 (Hình 1. Cu-MOF-74 có cấu trúc gồm các tâm kim loại Cu2+ tạo liên kết phối trí với các nhóm carboxylate và hydroxyl trong cầu nối H2dhtp tạo thành cấu trúc bền vững trong không gian ba chiều [41].
Trong cấu trúc không gian này các tâm kim loại Cu2+ không chỉ liên kết với nhau thông qua càng carboxylate mà còn liên kết với nhau thông qua nguyên tử oxy của nhóm hydroxyl tạo nên cấu trúc bền vững. Ngoài ra, các tâm kim loại Cu2+ còn tạo liên kết phối trí yếu với các phân tử khách như DMF, H2O. Các phân tử khách này phân bố trong các lỗ xốp sẽ bị loại ra khỏi cấu trúc Cu-MOF-74 trong quá trình hoạt hóa. Cu-MOF-74 được tổng hợp bằng phương pháp nhiệt dung môi theo quy trình của hai tác giả Sanz [41] và Calleja [44] cùng cộng sự.
Theo đó, Cu-MOF-74 được tổng hợp từ muối Cu(NO3)2.3H2O và cầu nối 2,5-dihydroxyterephthalic acid trong hệ dung môi DMF/ H2O (tỷ lệ thể tích 20/ 1) hoặc DMF/ isopropanol (tỷ lệ thể tích 20/ 1) (Sơ đồ 1. Phản ứng tổng hợp Cu-MOF-74 [41]. Tùy thuộc vào hệ dung môi sử dụng mà Cu-MOF-74 tạo thành tương ứng có sự khác nhau về diện tích bề mặt riêng và thể tích xốp [41]. 1 cho thấy sự ảnh hưởng của dung môi tổng hợp đến tính chất của Cu-MOF-74.
Ảnh hưởng của dung môi tổng hợp đến tính chất của Cu-MOF-74 [41]. Mẫu SBET (m2/ g) VP (cm3/ g) Đường kính trung bình lỗ xốp (Å) Cu-MOF-74 605 0. Vật liệu MOFs Cu(INA)2 Trong nhiều phương pháp tổng hợp MOFs, dung môi gần như luôn luôn được sử dụng để tạo thuận lợi cho sự khuếch tán và sự va chạm của các thành phần. Tuy nhiên cũng có những phương pháp không dùng dung môi.H2O và isonicotinic acid (INA).
Phản ứng bắt đầu với việc giảm thiểu kích thước hạt để tạo điều kiện tương tác giữa muối kim loại với acid và chỉ xảy ra trong vài phút, công đoạn tiếp theo chỉ là gia nhiệt lên khoảng 200oC trong vòng 3 giờ để loại bỏ nước, acid acetic và các sản phẩm phụ để tạo lỗ trống và hình thành khung xốp cho vật liệu (Sơ đồ 1. Phản ứng giữa copper (II) acetate và isonicotinic acid [42]. Ngoài ra MOFs Cu(INA)2 còn được tổng hợp bằng phương pháp nhiệt dung môi đã được tác giả Liu cùng các cộng sự công bố trước đó [45], giữa 4- cyanopyridine, isonicotinic acid và copper (II) chloride CuCl2 trong hỗn hợp dung môi nước và ethanol, được gia nhiệt ở 150oC trong vòng 48 giờ (Sơ đồ 1. Phản ứng giữa copper (II) chloride và isonicotinic acid [45].
Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu của tác giả Lu và tác giả Babb đã công bố tổng hợp MOFs Cu(INA)2 (Hình 1. 6) trên nhiều hệ dung môi khác nhau [46] như methanol và 1-propanol, ethanol và pentane hay ethanol và 1-propanol. Cấu trúc MOF-Cu(INA)2 [46]. Trong đề tài này, nhóm tác giả đã tìm ra phương pháp tổng hợp MOFs Cu(INA)2 với một hệ dung mới hoàn toàn mới khác với các công trình đã được công bố trước đây.
Ứng dụng của Cu-MOFs 1. Những ứng dụng gần đây của xúc tác đồng thể tâm Cu cho phản ứng ghép đôi CN Khả năng xúc tác đồng thể tâm Cu cho nhiều phản ứng hữu cơ được báo cáo qua nhiều bài báo. Và để có cái nhìn rõ hơn về tiềm năng ứng dụng của kim loại này, phần tiếp theo sẽ trình bày sơ lược một số nghiên cứu tiêu biểu gần đây về những phản ứng ghép đôi sử dụng xúc tác Cu. Vào năm 2009, nhóm nghiên cứu của tác giả Rao và các cộng sự đã có báo cáo về phản ứng ghép đôi CN (Sơ đồ 1.
4) giữa phenylboronic acid với gốc amino (NH3.H2O) để tổng hợp aniline với hiệu suất 76%, theo đó phản ứng được thực hiện trong điều kiện nhiệt độ phòng trong dung môi methanol với sự hiện diện của xúc tác Cu2O [47]. Phản ứng ghép đôi CN giữa phenylboronic acid với gốc amino (NH3. Cũng trong năm 2009, nhóm nghiên cứu của tác giả Larsson và cộng sự cũng có bài báo cáo về phản ứng ghép đôi CN giữa pyrazole và phenyliodide (Sơ đồ 1. 5) tạo thành sản phẩm với hiệu suất đến 88% với điều kiện phản ứng ở 135oC trong 24 giờ được thực hiện trong hệ thống microwave, trong đó phản ứng tổng hợp sử dụng base là K3PO4, dung môi toluene, chất hỗ trợ là N,N’-Dimethylethylenediamine (DMEDA) với xúc tác sử dụng cho phản ứng là CuCl2 [48].
Phản ứng ghép đôi CN giữa pyrazole và phenyliodide [48]. Năm 2010, tác giả Zhang đã có một báo cáo về phản ứng CN (Sơ đồ 1. Theo đó, phản ứng giữa p-toluidine và phenylacetylene được thực hiện trong dung môi toluene với sự hiện diện của xúc tác CuBr2 (10 mol%), TEMPO (10%), pyridine (4 đương lượng) và O2 thu được hiệu suất 90% [49]. Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp này là sử dụng thêm ligand hữu cơ và chất hỗ trợ, đặc biệt là pyridine rất độc, thời gian phản ứng kéo dài (18 giờ) và chỉ thực hiện được trên các nhóm thế amine bậc 1 của aniline.
Phản ứng ghép đôi CN giữa p-toluidine và phenylacetylene [49]. Vào năm 2011, tác giả Guo và các cộng sự cũng có trình bày báo cáo về phản ứng ghép đôi CN giữa benzoxazole và triethylamine (Sơ đồ 1. Phản ứng này sử dụng dung môi là dioxane, với xúc tác CuBr2 (10 mol%) cùng với lượng acid 8 CH3COOH (20 mol%), điều kiện phản ứng trong môi trường O2 (1 atm) ở 120oC thì hiệu suất tạo thành sản phẩm là 89% trong thời gian 16 giờ. Phản ứng ghép đôi C-N giữa benzoxazole và triethylamine [50].