Đặt vấn đề Ung thư đã và đang là mối quan tâm ngày càng tăng của nhân loại nhất là khi xã hội đang ở giai đoạn phát triển vượt bậc về y học, khoa học và công nghệ. Theo ước tính của Đài quan sát Ung thư Toàn cầu, sẽ có khoảng 29,5 triệu trường hợp ung thư mới, trong đó việc thực hiện các chiến lược phòng chống ung thư sẽ cứu sống gần 15 triệu người. Áp lực oxy hóa được biết đến là sự mất cân bằng của các loại oxy phản ứng (ROS) và các chất chống oxy hóa trong cơ thể, có thể dẫn đến tổn thương tế bào và mô, cản trở sự phát triển của ung thư. Do vậy, ROS bao gồm cả gốc tự do như hydro peroxid và oxy không gốc tự do như, anion superoxid, oxy đơn và gốc hydroxyl là các phân tử có phản ứng cao, có thể được giảm bớt thông qua bổ sung chất chống oxy hóa.
Trong nhiều thập kỷ, một số chất chống oxy hóa phenolic tổng hợp bao gồm butylat hydroxycanisole, butylat hydroxytoluen và propyl gallat đã được sử dụng để điều trị các bệnh liên quan đến ROS đã được báo cáo là gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng. Tiếp cận với một số ít các liệu pháp hóa trị ung thư, các tác dụng phụ có hại của chúng và giá thành cao của hầu hết các loại thuốc này, khiến việc điều trị bệnh trở nên khó khăn. Hơn nữa, nhiều liệu pháp hiện tại không điều trị hiệu quả một số bệnh ung thư và các khối u đa kháng thuốc càng làm gây khó khăn trong việc điều trị. Việc phát hiện ra các tác nhân trị liệu hóa học mới là mục tiêu chính của các nhà hóa học dược liệu và sản phẩm tự nhiên.
Vì vậy, cần phải tìm kiếm các chất chống ung thư và chống oxy hóa thay thế từ các nguồn tự nhiên như vi sinh vật có thể khắc phục sự thất bại của hóa trị cũng như ngăn ngừa nguy cơ ung thư. Nấm nội sinh đa dạng ở trong thực vật, đại diện cho nguồn tài nguyên sinh học dồi dào về hợp chất tự nhiên có tiềm năng khai thác trong lĩnh vực dược phẩm và nông nghiệp. Tuy nhiên, quan sát thấy rằng hầu hết sự đa dạng nấm nội sinh vẫn chưa được khai thác nhiều. Nhiều hợp chất được sản xuất bởi 1 các loại nấm này có hoạt tính sinh học và bao gồm các alcaloid, flavonoid, steroid, terpenoid, peptid, polyketon, quinol và phenol cũng như một số hợp chất chứa clo.
Cho đến năm 2003, khoảng 4.000 chất chuyển hóa thứ cấp có hoạt tính sinh học đã được báo cáo từ nấm. Rất nhiều thông tin về sự phân lập các hợp chất hoạt tính sinh học khác nhau từ nấm nội sinh đã được báo cáo trong ba thập kỷ qua. Hầu hết các chất chuyển hóa này được sản xuất bởi các loài Acremonium, Aspergillus, Fusarium và Penicillium. Schulz và cộng sự (2002) đã phân lập khoảng 6.500 chủng nấm nội sinh và thử nghiệm tiềm năng sinh học của chúng.
Họ đã phân tích 135 chất chuyển hóa thứ cấp và thấy rằng 51% các hợp chất có hoạt tính sinh học được phân lập từ nấm nội sinh là sản phẩm tự nhiên mới. Trên cơ sở các nghiên cứu trên về tiềm năng khai thác vi nấm nội sinh trên cây dược liệu, tôi thực hiện đề tài: “Sàng lọc và đánh giá hoạt tính gây độc tế bào ung thư và chống oxy hóa của chủng vi nấm nội sinh trên cây thiết sam núi đá (Tsuga chinensis (Franch.) tại Hà Giang”. Mục đích nghiên cứu Sàng lọc và tuyển chọn được chủng vi nấm nội sinh trên cây thiết sam núi đá có hoạt tính gây độc tế bào ung thư và kháng vi sinh vật kiểm định cao. Đánh giá được hoạt tính chống oxy hóa và định danh chủng tuyển chọn.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vi nấm nội sinh và tiềm năng khai thác các chất có hoạt tính sinh học 1. Tổng quan về vi nấm nội sinh Vi nấm nội sinh (endophytes, endophytic fungi) là những vi sinh vật có mặt ở khắp nơi trong tự nhiên và cư trú trong tế bào hoặc nội bào trong thực vật nhưng không gián tiếp hoặc trực tiếp gây bất lợi cho thực vật. Vi nấm nội sinh có mối quan hệ chặt chẽ với cây chủ, chúng sử dụng các chất dinh dưỡng trong cây để tồn tại, mang lại nhiều lợi ích cho cây như tạo ra các sản phẩm trao đổi chất có hoạt tính sinh học như các hormon sinh trưởng, các chất kháng sinh có khả năng bảo vệ cây khỏi các vi sinh vật gây bệnh.
Chúng cũng đóng vai trò như một kho chứa các hoạt chất sinh có khả năng hỗ trọ và chống lại các bệnh như: kháng khuẩn, chống ung thư, chống oxy hóa, kháng virus, chống tiểu đường, ức chế miễn dịch, chống viêm và chống bệnh alzheimer và một số bệnh khác để sử dụng trong ngành dược phẩm và hóa chất nông nghiệp (Archana và cs, 2021). Sự tương tác giữa thực vật và vi nấm nội sinh (Nguồn: Gaurav và cs, 2017) 3 Bất kỳ sự tương tác nào giữa thực vật và vi nấm nội sinh đều có một số rào cản vật lý và hóa học cần phải vượt qua để thiết lập thành công mối quan hệ giữa thực vật và vi nấm nội sinh (hình 1. Giả thuyết “đối kháng cân bằng”, khi vi nấm nội sinh xâm nhập cây chủ, phản ứng phòng vệ được kích hoạt và các phân tử được tạo ra hạn chế sự phát triển của vi nấm nội sinh. Vi nấm nội sinh sản xuất các chất chuyển hóa để vượt qua phản ứng bảo vệ của vật chủ.
Nếu yếu tố độc lực của vi nấm nội sinh và khả năng phòng vệ của thực vật cân bằng, thì sự liên kết giữa vi nấm nội sinh và cây chủ sẽ duy trì sự đối kháng cân bằng. Ngược lại, nếu khả năng bảo vệ của thực vật bị đánh bại bởi độc lực của nấm, mối liên kết sẽ là mối quan hệ giữa cây trồng và mầm bệnh và do đó dẫn đến cây nhiễm bệnh. Còn nếu các cơ chế phòng vệ thực vật chống lại hoàn toàn các yếu tố độc lực của vi nấm nội sinh, thì dẫn đến vi nấm nội sinh sẽ bị chết. Sự gia tăng gần đây nhu cầu về các sản phẩm tự nhiên và những khó khăn trong việc tiếp cận và phân lập, sàng lọc và tuyển chọn chủng vi nấm nội sinh có khả năng sinh tổng hợp các hoạt chất sinh học mới là một bước quan trọng được thực hiện dựa trên sự kết hợp giữa các phương pháp sinh học và hóa học.
Việc đánh giá các hoạt tính sinh học như kháng vi sinh vật kiểm định, gây độc tế bào ung thư và chống oxy hóa được xem là các phương pháp sàng lọc sinh học hữu hiệu để tuyển chọn được chủng vi nấm nội sinh tiềm năng có nguồn gốc từ thực vật. Để phân lập các chủng vi nấm nội sinh trên cây thiết sam núi đá, chọn những bộ phận của cây tươi, không bong tróc, gây dập và sạch bệnh. Trước khi phân lập vi nấm nội sinh, mẫu cấy được rửa dưới vòi nước chảy sau đó là khử trùng bề mặt, quá trình này thay đổi tùy thuộc vào loại nguyên liệu thực vật và chất gây ô nhiễm. Đối với rễ và thân rễ, sau khi rửa dưới vòi nước chảy, cần rửa kỹ mẫu bằng nước cất.
Các vật liệu đã khử trùng bề mặt này được khử trùng thêm bên trong tủ hút bằng thủy ngân clorua (0,1% w/v), các nồng độ khác nhau của etanol (50%, 70%, 90% và tuyệt đối) trong 30 giây đến 1 phút và natri 4 hypoclorit (4%) trong 2-3 phút sau đó rửa lại bằng nước cất hai lần để làm sạch mẫu cấy và làm khô trên giấy thấm vô trùng. Các mẫu cấy đã khử trùng được nuôi cấy trong đĩa petri có chứa môi trường thạch potato dextrose (PDA) bổ sung 100 µg/ml thuốc kháng sinh streptomycin, ampicillin và chloramphenicol (Mahajan và cs, 2014) được bọc kín bằng parafilm, ủ ở 27°C ± 2°C trong tủ ấm để thúc đẩy sự phát triển của sợi nấm, trong các điều kiện được kiểm soát, sau đó là nuôi cấy thuần để xác định. Tất cả các thao tác phân lập nấm nội sinh phải được thực hiện trong điều kiện vô trùng. Sự phát triển của các khuẩn lạc của vi nấm nội sinh từ các mô thực vật được quan sát hàng ngày.
Các vi nấm nội sinh này có thể được xác định dựa trên các đặc điểm hình thái của bào tử và sợi nấm, xét nghiệm sinh hóa và xác định đặc điểm phân tử. Hơn nữa, để xác định hình thái học, các màu sắc khác nhau có thể được sử dụng để xác định các vi nấm nội sinh đã phân lập ở cấp độ ban đầu (Yash và cs, 2014). Tiềm năng khai thác hoạt tính sinh học từ vi nấm nội sinh Các loại vi nấm nội sinh cư trú trong thực vật rất đa dạng, là đại diện cho một nguồn tài nguyên phong phú của các sản phẩm tự nhiên có hoạt tính sinh học có tiềm năng khai thác ở lĩnh vực dược phẩm và nông nghiệp. Một số lượng lớn các chất chuyển hóa thứ cấp đã được chiết xuất và đặc trưng từ các vi sinh vật nội sinh.
Nhiều hợp chất trong số này là các thành phần hoạt tính sinh học và các hợp chất bao gồm paclitaxel, podophyllotoxin, vinca alkaloid, camptothecin, hypericin, emodin, azadirachtin và deoxypodophyllotoxin được phân lập từ vi nấm nội sinh ký sinh trong thực vật (Kaul và cs, 2012 ). Các chất chuyển hóa của vi nấm nội sinh ảnh hưởng lớn đến đặc điểm sinh học của động vật ăn thịt. Một số chi nấm nổi tiếng như: Penicillium, Fusarium, Aspergillus, Sclerotium, Myxormia, Alternaria, Colletotrichum, Cladosporium, Diaporthe và Curvularia là nguồn tuyệt vời để sản xuất các hợp chất hoạt tính sinh học. Cùng với các chi nấm nói trên, một số vi nấm nội sinh khác cũng được biết là sản xuất các hợp chất hoạt tính sinh học có vai trò quan trọng trong việc kiễm soát dịch bệnh (Jia và 5 cs, 2016).
Các hợp chất hoạt tính sinh học có nguồn gốc từ vi nấm nội sinh được phân loại theo các nhóm chức năng alkaloid, steroid, flavonoid, axit phenolic, benzopyranone, quinine, tannin, xanthone, terpenoid, và nhiều loại khác. Một số hợp chất hoạt tính sinh học phân lập từ vi nấm nội sinh Hợp chất hoạt Tài liệu tham STT Cây chủ Vi nấm nội sinh tính sinh học khảo Thủy tùng Nhật Bản Strobel và cs, 1 Paclitaxel Alternaria sp. (Taxus cuspidata) 1996 Chi thông tre Aspergillus 2 Paclitaxel Sun và cs, 2008 (Podocarpus sp.