CHƯƠNG I LUẬN CỨ KHOA HỌC VỀ MÔ HÌNH CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG TRONG XU THẾ MỞ RỘNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ. KHÁI LƯỢC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỀN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MAI VÀ TỔ CHỨC TÍN DỤNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở KHU VỤC.1/ Tién té trong lịch sử. Xuất phát từ quá trình phát triển của trao đổi hàng hoá và nghiên cứu quá trình phát triển các hình thái tiền tệ trong lịch sử kinh tế cho thấy tiền tệ là sản phẩm từ phát mình vĩ dại của loài ngươi, nó trải qua một thời kỳ "thai nghén” rất dài và được dân dân ra dời trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá. Ngay từ buổi bình mình của thời Kỳ xã hội bất đầu phan chia giai cap.
nhu cầu trao dôi sản phẩm giữa những người lao dộng xuất hiện thì phương thức trao đôi sơ Khai nhất là trao dối theo công thức H - HÍ (hàng dối hàng). Công thức này chỉ xẩy ra khi đồng thời cả hai bên cùng có nhu cầu hàng hoá của nhau và những cuộc “kiếm tìm” sự phù hợp dó dần dần được dịa chi hoá và từ dó khái niệm “chợ” được hình thành. Phải mất nhiều thế kỷ sau, loài người tiếp tục phát minh ra công thức trao dối khác tiến bộ hơn dó là: H-VNG-H (Hàng - Vật ngang giá - Hàng). Trong quá tình vận dộng, phát triển lâu dài vật ngang giá đã cố dịnh dần ở một số hàng hoá nhất định tuỳ theo tính điển hình và tính đơn giản theo quan niệm và thói quen của từng nơi.
Vật ngang giá đó trên thực tế đã mang bản chất tiền.Mac khi vật ngang giá chung được cố định bằng một số vật liệu có giá trị nội tại cao và có nhiều thuộc tính tự nhiên thuận lợi cho việc chia nhỏ, bảo quản, lưu hành như bạc, vàng.thì đó là tiền.Mac cũng có câu nói nổi tiếng "vàng là tiền, nhưng tiền không nhất thiết là vàng" - Quan điểm này trùng với quan điểm của các nhà kinh tế học hai hiện đại cho rằng bất kỳ vật gì đóng vai trò là vật ngang giá chung được bên bán và mua đồng ý làm phương tiện thanh toán thì vật dó chính là tiền. Như vậy thực ra tiền đã có từ rất sớm trong lịch sử phát triển của loài người. Tuy nhiên, tiền với tư cách là một hàng hoá đặc biệt dược qui chuẩn hoá và nhất là được trở thành đối tượng kinh doanh, dịch vụ của một ngành đặc thù của mà ta gọi là ngành Ngân hàng thì đó lại là một sự phat minh vĩ đại nữa con người trong quá trình lao động sản xuất, trao đổi và kinh doanh hàng hoá. Khởi thuỷ của ngành Ngân hàng xuất phát từ dịch vụ cất trữ, bao quan tài sản quí hiếm như vàng.
Với uy tín rất cao của mình, người nhận bảo quan an toàn tài sản ghi giấy biên nhận cho người gửi. Dần dần giấy biên nhận này có một quyền năng đặc biệt mà người sở hữu nó có thể sử dụng làm phương tiện thanh toán nếu người phát hành nó và người bán hàng dồng ý. Cùng với quá trình "nhất thể hoá” tiền tệ Ở môi quốc gia là quá trình ra lưu đời lần lượt các "nấc" thang phát triển của các chè dộ tiển bản vị: Khi thông hàng hoá còn chưa phát triển mạnh thì trong xã hội hầu như chỉ lưu thông trực tiếp bằng đồng tiền vàng do một Ngân hàng dược Nhà nước chỉ định phát hành theo đúng kích thước, trọng lượng vàng nhất dịnh cho một loại tển nhất dịnh. Khi sản xuất, lưu thông phát triển mạnh hơn, vật liệu vàng để đúc tiền khan hiếm dần thì nhu cầu khách quan đã buộc Nhà nước phải cho chuyển sang chế độ song bản vị, nghĩa là ngoài vàng, còn có một loại vật liệu khác được dùng để đúc tiền (thường là bạc) và hai đồng tién song song lưu hành theo một tỷ giá danh nghĩa định sắn.
Tuy nhiên tỷ giá này biến động và bị xuyên tạc nhiều trong diễn biến thực tế do tác động khách quan của qui luật "đồng tiền xấu đẩy đồng tiền tốt ra khỏi lưu thông”. Những bất cập này tiếp tục thúc đẩy chế độ song bản vị trở về đơn bản vị nhưng là bản vị vàng nguyên thuỷ đúc thành thoi tiêu chuẩn để đảm bảo cho tiền giấy ngoài lưu thông kèm theo qui định hạn chế đổi tiền giấy ra vàng. Vay là tiền giấy ra đời mang dấu hiệu của của cải dựa theo cơ chế của “giấy” biên nhận gửi tài sản nhưng được chuẩn hoá mẫu mã và vô danh hoá tên của người sở hữu giấy biên nhận đó. Chỉ với một tổng giá trị danh nghĩa tiền giấy đủ lớn tương đương với giá trị tương thích của một số loại thoi vàng tiêu chuẩn thì mới được đổi thành vàng.
Mặc dù vậy, quá trình mở mang, phát triển mạnh lưu thông hàng hoá vẫn làm cho nhiều nước có trữ lượng vàng lớn bị chảy máu ra nước ngoài. Để hạn chế sự dịch chuyển này, các quốc gia giàu có đã phát minh ra chế độ bản vị vàng hối đoái để thay vì qui chế đồi tiền ra vàng trực tiếp thì phải trước hết đổi ra ngoại tệ mạnh và với một tổng giá trị danh nghĩa ngoại tệ mạnh dủ lớn mới dược đổi ra vàng tiêu chuẩn.Cơ chế của việc chuyên đổi này là: đồng tiền yếu thông qua ty giá (thường bị ép) đổi ra đồng tiền mạnh với tổng danh nghĩa dủ lớn mới dược dối ra vàng thoi. Chế dộ bản vị vàng hối dodi bang Anh ra doi sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 -1918). Nước Anh trở thành trung tâm thương mại quốc tế cho tới năm 1931 khi nước này bị chảy máu vàng đến mức không thể chựu nồi do nhiều nước tham chiến thế giới thứ 2 đổ xô xuất khẩu sang Anh lấy bảng Anh chuyển thành vàng dể mua vũ khí.
Sau dại khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933) và khi đại chiến thế giới thứ 2 đến độ ác liệt nhất (1944), chế độ bản vị vàng hối đoái Dola Mỹ ra đời. Ngày 22/7/1944 tại BrettonWood nước Mỹ, hơn 40 quốc gia đã họp để tìm cách cứu vãn nền kinh tế và nền tiền tệ thế giới đang suy thoái mạnh mế bởi cuộc chiến phân chia thế giới lần thứ hai đang ở giai đoạn "đỉnh" cao nhất. Tại đây qui tiền tệ quốc tế (ME) và Ngân hàng thế giới (WB) đã ra đời - Theo đó đồng USD được chọn làm phương tiện thanh toán quốc tế chủ chốt và là đồng tiền mang bản vị vàng với hàm kim lượng được ấn định 35 USD/Ounce vàng tương đương 28,35 gram vàng. Các qui luật diễn biến sau đó cũng tương tự như ở quốc gia tiền nhiệm vai trò này, sau 2 lần bị phá giá 10% theo ty giá cố định nói trên, tháng 10/1971 Tổng thống Mỹ Nich Son đã buộc phải tuyên bố phá sản chế độ bản vị vàng hối đoái Dola cố định như trên, chấm dứt kỷ nguyên bản vị vàng hối đoái Dola.
Ký nguyên lưu thông tiền giấy với tư cách là dấu hiệu của của cải, dấu hiệu (tưởng tượng) của vàng ra đời và phát triển da dạng, đa chế độ ty giá trên khắp thế giới và cũng là kỷ nguyên phát triển hơn bao gìơ hết các loại hình hoạt động Ngân hàng và mạng lưới các Ngân hàng thương mại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. L21 Sư ra đòi Vegản hàng thương mai trong lịch sử: Như dã nói về quá trình xuất hiện đồng tiền trong lưu thông, tiền thân của Ngân hàng chính là quá trình biến đổi trong hoạt động của những người chuyên làm nghề dịch vụ kho qui, những người thợ vàng, thợ bạc và Ngân hàng ra đời do sự thúc đẩy khách quan của quá trình phát triển sản xuất, lưu thông hàng hoá và hoạt dộng thương mại, Sự "lệch pha” về mặt thời gian giữa thời hạn gửi tài sản so với thời hạn mà người cầm giấy biên nhận cùng với một "khoản” thù lao cho người bảo quản đến “chuộc” tài sản đã tự nhiên trở thành quá trình phân cực giữa "nguồn” (là tài sản của người gửi đổ nằm trong kho) với dấu hiệu giá trị của nguồn tài sản đó (biểu hiện bằng giá trị danh nghĩa ghi trên các giấy biên nhận gửi tài sản) lưu hành trong xã hội. Mặt khác, trong xã hội tồn tại nhiều loại "tiền" khác nhau về hình thức, sức mua, uy tín.đã thúc đẩy sự ra đời của hoạt động dịch vụ chuyển đổi tiền tệ. Bên cạnh đó, tính vô danh ghi trên giấy biên nhận về loại tài sản gửi, cùng với những mâu thuẫn giữa "cung" và "cầu” của xã hội về việc sử dụng tiền trong sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng cũng đã làm xuất hiện nghiệp vụ cho vay của các ông chủ giữ kho và phát hành giấy biên nhận, ông chủ giữ kho trở thành nhà kinh doanh tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của người khác v.
Một cách ngẫu nhiên, quá trình đó chính là quá trình sơ khai của qui trình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại - Nghiã là nghiệp vụ hoạt động Ngân hàng ra dời trước khi người ta đặt cho việc làm của người trông coi tài sản và phát hành giấy biên nhận giữ tài sản đó cái tên là Ngân hàng. Dấu hiệu đầu tiên để hình thành Ngân hàng là thay vì người nhận bảo quản tài sản được thu một khoản tiền công đối với người gửi thì do lợi ích thu được từ việc sử dụng nguồn nhàn rỗi để cho người khác vay mà chính người nhận gửi tai san lại phải “trả” cho người đến gửi một khoản hoa hồng trích từ lợi ích sử dụng vốn của họ trong thời gian họ gửi tài sản cho người nhận gửi. Khi mới ra đời loại hình hoạt động nói trên, mỗi quốc gia xuất hiện rất nhiều loại "tiền" khác nhau tuỳ theo cách qui định mẫu mã, ký hiệu và uy tín của người ký phát hành giấy biên nhận tài sản của khách hàng. Nhu cầu khách quan của quá trình phát triển sản xuất và lưu thông hàng hoá cùng với sự xuất hiện những hạn chế ca về mặt không gian, cả về mặt thời gian và nhất là về dộ tín cây trong thanh toán của chế độ đa tiền tệ đồng hành trong một quốc gia da thúc dẩy quá trình sàng lọc xã hội mang tính khách quan để loại trừ dần những nhà phát hành kém uy tín ra khỏi lĩnh vực hoạt động Ngân hàng cho đến khi trong mỗi quốc gia chỉ còn một số rất ít, thậm chí chỉ một Ngân hàng dủ tư cách là Ngân hàng phát hành tiền, trong khi nhiều Ngân hàng khác chỉ thuần tuý hoạt động kinh doanh, dịch vụ trong các lĩnh vực tín dụng, thanh toán bằng tiền của Ngân hàng khác với khách hàng.