Đặt vấn đề Ngày nay các bệnh về dạ dày bao gồm cả ung thƣ dạ dày ngày càng phổ biến trên thế giới và cả Việt Nam. Năm 1982, Marshall và Warren phát hiện một loại vi khuẩn hiện diện ở niêm mạc dạ dày đặt tên là Campylobacter pylori, sau đặt tên là Helicobacter pylori (viết tắt là HP). Vi khuẩn này đƣợc xác định là nguyên nhân chính gây ra phần lớn các bệnh lý liên quan đến dạ dày, do vậy tiêu diệt Helicobacter pylori đƣợc xem là liệu pháp quan trọng trong điều trị các bệnh dạ dày [33]. Hiện nay có rất nhiều loại thuốc có nguồn gốc hóa dƣợc để điều trị dạ dày nhƣ: Amoxicilline, Lanzoprazole, Rabeprazole, Clarithromycin, Metronidazole, Imidazole … những loại thuốc này có tác dụng rất tốt trong việc điều trị tuy nhiên vẫn có những hạn chế khi gây ra một số tác dụng phụ nhƣ đau bụng, buồn nôn, chóng mặt, đau đầu, dị ứng [31].
Để khắc phục các vấn đề trên đòi hỏi các nhà nghiên cứu và nhà sản xuất các sản phẩm hỗ trợ, điều trị bệnh sản xuất từ nguồn nguyên liệu thiên nhiên. Việt Nam là một trong những quốc gia nằm trong vùng mƣa nhiệt đới, có thảm thực vật phong phú, trong đó có nguồn cây thuốc dồi dào với những cây thuốc quý mà từ xa xƣa đã đƣợc con ngƣời sử dụng để điều trị dạ dày nhƣ cây khôi, dạ cẩm, cải bắp, nghệ,… Trong số các loại thuốc có nguồn gốc tự nhiên đó phải nói đến chè dây, cây khôi đều là những loại thảo dƣợc quý trong điều trị các bệnh về dạ dày, đã đƣợc nghiên cứu qua thực tế của GS.TS Phạm Thanh Kỳ trƣờng Đại học dƣợc Hà Nội, Tiến sĩ Vũ Nam khoa Y Dƣợc Đại học Y Hà Nội và đƣợc nêu trong cuốn “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi (2004). Chè dây, cây khôi là những loại thảo dƣợc khá gần gũi với nhân dân ta, có nhiều trong các vùng núi Việt Nam, có các hoạt chất sinh học có lợi hỗ trợ điều trị dạ dày và hoàn toàn không gây tác dụng phụ do đó có thể sử dụng lâu dài [19],[15],[21]. c 2 Tuy nhiên các sản phẩm từ các loại thảo dƣợc trên hiện chƣa nhiều, chủ yếu đƣợc sử dụng dƣới dạng hãm hoặc sắc làm nƣớc uống nhiều lần.
Tính tiện dụng không cao đối với nhiều đối tƣợng không có thời gian để sắc uống. Với những đánh giá đã nêu trên, nhằm nâng cao giá trị sử dụng và hiệu quả kinh tế tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất viên nang con nhộng hỗ trợ điều trị bệnh dạ dày từ thảo dược”. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất viên nang con nhộng từ chè dây, cây khôi có tác dụng hỗ trợ, điều trị bệnh dạ dày.
Yêu cầu Xác định đƣợc các thông số công nghệ của quá trình tạo cao chè dây Xác định tỷ lệ phối trộn nguyên liệu thích hợp (cao chè dây, cao cây khôi) Nghiên cứu lựa chọn nhiệt độ sấy thích hợp Phân tích chỉ tiêu sản phẩm 1. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học của đề tài Xác định đƣợc quá trình tách chiết các chất có hoạt tính sinh học cao từ cao chè dây và ứng dụng trong điều trị bệnh dạ dày. Ý nghĩa thực tiễn Tạo đƣợc sản phẩm viên nang con nhộng đáp ứng nhu cầu của thị trƣờng về các sản phẩm hỗ trợ điều trị dạ dày, làm đa dạng hóa và phong phú thêm các sản phẩm hỗ trợ điều trị dạ dày.
c 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Viêm dạ dày Viêm dạ dày là tình trạng tổn thƣơng niêm mạc dạ dày do nhiều nguyên nhân khác nhau và đƣợc chia làm 3 typ nguyên nhân: Typ A (Autoimmunc): Do tự miễn Typ B (Bacteria): Do vi khuẩn. Nguyên nhân gây viêm dạ dày do vi khuẩn Helicobacter pylori chiếm đến 70%-80% [10]. HP đã đƣợc xem là nguyên nhân chính gây viêm, loét dạ dày, tá tràng ở trẻ em.
Trong viêm dạ dày mạn tính 77,4%-77,9%, loét hành tá tràng >95% và loét dạ dày>75% tìm thấy căn nguyên là HP [13],[22]. Theo kết quả nghiên cứu nguy cơ mắc viêm loét dạ dày ở ngƣời nhiễm HP tăng gấp 3-10 lần so với những ngƣời không nhiễm. Khoảng 10-25% ngƣời nhiễm HP sẽ xuất hiện viêm loét dạ dày. Trong đó 70-95% loét tá tràng và 30-70% loét dạ dày có liên quan tới HP [23], [36].
Viêm dạ dày do nhiễm HP chiếm tỷ lệ 20-30% dân số ở các nƣớc công nghiệp và 70-90% ở các nƣớc đang phát triển. Ở Pháp tỷ lệ nhiễm HP chiếm 53% số ngƣời đến khám bệnh và đƣợc nội soi tiêu hóa. Tỷ lệ nhiễm HP đang giảm ở vùng Châu Á- Thái Bình Dƣơng, nhƣng ở Việt Nam còn rất cao xấp xỉ 60% dân số [40].Ở Việt Nam chƣa có theo dõi trên cộng đồng lớn, chủ yếu số liệu thống kê dựa theo những nghiên cứu rải rác trong các cộng đồng nhỏ. Tỷ lệ nhiễm HP ở lứa tuổi 15-75 là 56-75,2% với xét nghiệm huyết thanh học và tỷ lệ nhiễm qua nội soi ở ngƣời lớn vào khoảng 53-89,5% tại một số bệnh viện lớn thành phố [45].
HP lây lan chủ yếu qua đƣờng ăn uống kém vệ sinh. Ƣớc tính có khoảng 50% dân số thế giới đã nhiễm HP và tại Việt Nam, các nghiên cứu từ năm 2005- 2010 cho thấy tỷ lệ này dao động khoảng từ 65,5-78,8% [13],[40]. Đặc điểm của vi khuẩn Helicobabcter Pylori Helicobabcter Pylori là một xoắn khuẩn gram âm, hình cong hoặc hình chữ S, đƣờng kính 0,3-1 μm, dài 1,5-5 μm với đến 6 lông mảnh ở mỗi đầu, chính nhờ các lông này cùng với hình thể của mình mà HP có thể chuyển động trong môi trƣờng nhớt [11], [15],[38]. HP thƣờng cƣ trú ở trong lớp nhày tập trung chủ yếu ở hang vị sau đó là thận vị và có thể thấy HP ở những vùng có dị sản dạ dày ở tá tràng.
Không thấy HP trên bề mặt niêm mạc ruột và dị sản ruột ở dạ dày. HP gắn chọn lọc vào một vị trí đặc hiệu của chất nhày và một vị trí glycerolipidic của màng. Nó sản sinh ra một lƣợng lớn urease, lớn hơn rất nhiều so với bất kỳ loại vi khuẩn nào khác, vì vậy ở dạ dày sự hiện diện của urease gần nhƣ đồng nghĩa với sự có mặt của HP [9]. Hình thái điển hình của HP chỉ gặp khi soi tƣơi hoặc nhuộm mô bệnh học các mẫu sinh thiết.
Trong môi trƣờng nuôi cấy, ngƣời ta gặp các hình thái HP dài hơn và có độ xoắn thấp hơn. Ngoài ra trong môi trƣờng nuôi cấy để lâu hoặc trong môi trƣờng ngoài, HP thƣờng chuyển thành dạng hình cầu với nhiều kích thƣớc khác nhau. Dựa vào đặc điểm hình thái học, ngƣời ta có thể phát hiện trực tiếp vi khuẩn HP theo phƣơng pháp tế bào học bằng cách nhuộm gram hoặc soi kính hiển vi đối quan phân kỳ từ các mẫu bệnh phẩm sinh thiết dạ dày và theo phƣơng pháp mô bệnh học [45]. Điều kiện lý tƣởng cho vi khuẩn phát triển là môi trƣờng có 5% O2, 10% CO2, 85% N2, nhiệt độ 35-370C và có độ ẩm cao.
HP có thể tồn tại đƣợc 12 tháng trong môi trƣờng bảo quản ở nhiệt độ -700C [5],[42]. Sống ở phần sâu của lớp nhày bao phủ niêm mạc dạ dày, giữa lớp nhày với bề mặt của lớp tế bào biểu mô và ở các vùng nối giữa các tế bào này. Tần suất nhiễm HP thay đổi tùy thuộc vào độ tuổi, tình trạng kinh tế và chủng tộc. Ƣớc tính có hơn nửa dân số thế giới đã bị nhiễm HP, chủ yếu các nƣớc đang phát triển với tần số nhiễm rất cao từ 50-90% ở lứa tuổi 20 và hầu hết trẻ em bị nhiễm từ 2-8 tuổi [12],[28].
Việt Nam cũng là vùng có tỷ lệ nhiễm HP cao, vào khoảng 70% ở ngƣời lớn. Ở các nƣớc phát triển tuổi bị nhiễm thƣờng 50 tuổi, c 5 chiếm 50% dân số. Tỷ lệ nhiễm HP ở dạ dày ở miền Bắc Việt Nam từ 52-72,8%; ở thành phố Hồ Chí Minh 64,7% [12]. Cấu tạo của vi khuẩn HP Hình 2.1 Hình ảnh vi khuẩn Helicobacter pylori [12] Cấu tạo của vi khuẩn HP bao gồm các bộ phận chính [22]: - Flagenlla (3-5 chiên mao): Giúp vi khuẩn chui sâu và sống đƣợc trong nhầy bao phủ trên niêm mạc dạ dày.
- Double membrane: Hai màng bao bọc bên ngoài. - Circular chromosome: Nhiễm sắc thể vòng. Cơ chế gây bệnh của vi khuẩn Helicobabcter Pylori Nhờ hoạt động của tiên mao và cấu trúc hình xoắn, vi khuẩn HP dễ dàng di chuyển qua lớp niêm dịch và lớp dƣới niêm mạc dạ dày để tồn tại trong môi trƣờng axit của dịch vị. Sau khi vận động vào trong lớp nhày của dạ dày, HP bám dính vào biểu mô tiết ra nhiều men urease, phân hủy ure thành ammoniac trong dạ dày, gây kiềm hóa môi trƣờng xung quanh, giúp HP tránh đƣợc sự tấn công của axit-pepsin trong dịch vị.
Ammoniac cùng với các độc chất tế bào (cytotoxin) phân hủy thành các thành phần của chất nhày dạ dày. Mặt khác, sau khi bám vào màng tế bào, HP sẽ tiết ra nội độc tố (endocytotoxin), gây tổn thƣơng trực tiếp các tế bào biểu mô dạ dày, gây thoái hóa, hoại tử, long tróc tế bào, tạo điều kiện để axit-pesin thẩm thấu, tiêu hủy, gây trợt rồi loét [15]. c 6 HP sản xuất ra nhiều yếu tố có tác dụng hoạt hóa bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu đơn nhân, đại trực bào, giải phóng các yếu tố trung gian hóa học trong viêm (các Interleukin, các gốc tự do), giải phóng các yếu tố hoạt hóa tiểu cầu- một chất trung gian quan trọng trong viêm, làm cho biểu mô phù nề hoại tử, long tróc, bị acid- pepsin ăn mòn dẫn tới trợt và loét. Cơ thể bị nhiễm HP, sản xuất ra kháng thể chống lại HP.
Các kháng thể này lại gây phản ứng chéo với các thành phần tƣơng tự trên các tế bào biểu mô dạ dày của cơ thể, gây tổn thƣơng niêm mạc dạ dày [15], [26]. Nhƣ vậy tổn thƣơng niêm mạc dạ dày do HP gây viêm loét dạ dày qua ba cơ chế khác nhau: Sự thay đổi sinh lý dạ dày, nhiễm độc trực tiếp từ các sản phẩm của vi khuẩn, các phản ứng viêm với sự giải phóng nhiều sản phẩm phản ứng độc tố khác nhau. Nếu nhiễm trùng không đƣợc điều trị thì sau 10-20 năm sẽ teo viêm mạc dạ dày. Các tuyến bị mất, viêm teo niêm mạc dạ dày dị sản ruột, điều này có thể khởi đầu cho giai đoạn ác tính [15], [35].