MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài Lịch sử phát triển kinh tế - xã hội thế giới cho thấy không có một nền kinh tế nào phát triển mà không gắn với quá trình đô thị hóa. Quá trình đô thị hoá đã mang lại những lợi ích to lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của một vùng, quốc gia. Theo Liên Hợp Quốc [146], xu hướng đô thị hóa sẽ còn tiếp tục gia tăng; tới năm 2050, 68% dân số thế giới sẽ sống ở khu vực đô thị.
Hệ thống các đô thị mở rộng nhanh cả về số lượng và quy mô với sự dẫn dắt của các siêu quần tụ đô thị thường diễn ra ở những nước phát triển. Những quần tụ đô thị này có sức ảnh hưởng đáng kể đến kinh tế của vùng và quốc gia, và có tác động quan trọng tới vùng lãnh thổ lân cận. Những quần tụ đô thị này được gọi là những vùng thành phố (VTP). Sự hình thành và phát triển những VTP hiện nay là một xu hướng tất yếu, không chỉ ở các nước phát triển mà ở cả những nước đang phát triển.
Hiện nay, ở nước ta đã có hai VTP lớn là vùng Thủ đô Hà Nội (VTĐ Hà Nội) và vùng Thành phố Hồ Chí Minh (VTP Hồ Chí Minh) đã được lập và phê duyệt quy hoạch xây dựng (QHXD). Tuy vậy, kết quả thực hiện QHXD VTĐ Hà Nội và QHXD VTP Hồ Chí Minh mặc dù đã mang lại một số kết quả tích cực, song cũng còn nhiều bất cập: (i) Phạm vi, ranh giới VTP được xác định còn mang tính chất duy ý chí, chủ quan và bằng quyết định hành chính; (ii) nội dung về phát triển còn mang tính tiếp cận kỹ thuật chuyên ngành, chưa bắt kịp với tinh thần tích hợp của Luật Quy hoạch 2017 gần đây; (iii) công tác đầu tư và phát triển còn mang nặng tính 'vật thể' (đầu tư chủ yếu vào cơ sở hạ tầng); (iv) mô hình quản lý VTP được đưa ra không phát huy được hiệu quả và tác dụng như mong đợi. Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 24/01/2022 về Quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (sau đây là ‘Nghị quyết số 06-NQ/TW năm 2022 về Đô thị’ [8]) đã chỉ ra những bất cập về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững (PTBV) các đô thị của Việt Nam, đồng thời xác định rõ các quan điểm, muc tiêu và nhiệm vụ, nổi bật trong đó 2 là chủ trương về quản lý và phát triển các vùng thành phố phù hợp với giai đoạn mới. Những quan điểm trên của Đảng đã thể hiện sự quan tâm kịp thời, phù hợp với xu hướng phát triển đô thị của thế giới hiện nay, khắc phục những hạn chế trong đô thị hóa và phát triển đô thị trước đây, khuyến khích xây dựng những đầu tàu tăng trưởng trên cơ sở lấy các thành phố lớn làm hạt nhân, có sức lan toả xung quanh để hình thành và phát triển các VTP trên địa bàn toàn quốc.
Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã cụ thể hoá chủ trương trên bằng định hướng phát triển mạng lưới các VTP tương tác. Tuy vậy, nghiên cứu về hình thành và phát triển VTP vẫn còn là vấn đề tương đối mới ở Việt Nam. Khối lượng các công trình nghiên cứu khoa học về VTP còn khiêm tốn. Các kết quả nghiên cứu mới chủ yếu tiếp cận nghiên cứu về VTP ở một số góc độ chuyên ngành, đặc biệt là việc đề cập, định nghĩa khái niệm VTP.
Có thể nói sự vận động của VTP gồm hai quá trình đan xen với nhau giữa hình thành và phát triển, trong đó nội dung về hình thành VTP gồm việc xác định phạm vi, ranh giới và quá trình thiết lập cơ cấu quy hoạch (CCQH); còn một số nội dung chính về phát triển VTP lại bao gồm nhiều khía cạnh như phát triển kinh tế; đô thị hoá, phân bố dân cư; tổ chức không gian, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, bảo vệ môi trường và xây dựng cơ chế, chính sách quản lý VTP. Cho đến nay, có thể nói chưa có một nghiên cứu nào có hệ thống về mặt lý luận và thực tiễn về hình thành và phát triển VTP ở Việt Nam theo giác độ của chuyên ngành kinh tế phát triển trong mối quan hệ hữu cơ với các chuyên ngành khoa học khác. như một hệ thống lãnh thổ tích hợp về điều kiện kinh tế, xã hội, môi trường. Trong bối cảnh đổi mới về công tác quy hoạch ở nước ta hiện nay, những yêu cầu mới về khoa học, phát triển vùng lãnh thổ, trong đó với vai trò động lực phát triển kinh tế vùng và là các đầu mối phát triển KT-XH và phân bố dân cư trong hệ thống đô thị quốc gia và trong nền kinh tế quốc dân, VTP đòi hỏi phải được nghiên cứu sâu sắc từ nhiều giác độ khoa học khác nhau, đặc biệt là kinh tế phát triển.
Gần đây, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 138/NQ-CP ngày 25/10/2022 về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (sau đây là 3 Nghị quyết số 138/NQ-CP năm 2022 về QHTTQG’), trong đó ở Phần VIII về định hướng phát triển hệ thống đô thị và nông thôn quốc gia đã xác định “vùng đô thị Cần Thơ” là một trong bốn vùng đô thị lớn được định hướng hình thành và phát triển 1. Bên cạnh đó, Thuyết minh quy hoạch vùng (QHV) đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thời kỳ 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 287/QĐ-TTg ngày 28/02/2022 (sau đây là ‘Quyết định số 287/QĐ-TTg năm 2022 về QHV ĐBSCL’ [139]), trong đó đã xác định VTP Cần Thơ (một trong ba vùng kinh tế - kĩ thuật) với vị trí, vai trò đặc biệt, là khu vực động lực phát triển KT-XH ở vùng ĐBSCL. Tuy nhiên, phương án được đề xuất mới chỉ dừng ở ý tưởng còn phạm vi, ranh giới và nội hàm phát triển VTP Cần Thơ tương lai giống như VTĐ Hà Nội và VTP Hồ Chí Minh, vẫn chưa được nghiên cứu kỹ và còn thiếu những chứng cứ khoa học về sự hình thành và phát triển VTP Cần Thơ. Xuất phát từ những phân tích trên, việc nghiên cứu đề tài luận án tiến sĩ (LATS) "Hình thành và phát triển vùng thành phố Cần Thơ" nhằm góp phần hoàn thiện cơ sở khoa học và thực tiễn của kinh tế phát tiển theo giác độ đổi mới, từ đó đưa ra các giải pháp về hình thành và phát triển VTP ở Việt Nam nói chung và VTP Cần Thơ nói riêng là rất cần thiết.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về hình thành và phát triển VTP trên cơ sở phân tích tổng quan, đánh giá thực trạng hình thành và phát triển, từ đó đề xuất phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp hình thành và phát triển VTP Cần Thơ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu 1 Có bốn vùng đô thị được định hướng hình thành và phát triển gồm: Vùng đô thị Hà Nội, vùng thành phố Hồ Chí Minh, vùng đô thị Đà Nẵng và vùng đô thị Cần Thơ. Trước đó, nội dung về hình thành và phát triển một số vùng đô thị lớn cũng đã được xác định trong dự thảo trong Dự thảo Báo cáo tổng hợp Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kì 2021-2030, tầm nhìn đến năm, trong đó thuật ngữ được sử dụng là “Vùng thành phố Cần Thơ”.
Nội dung được trình bày cụ thể hơn ở Chương 3. 4 – Làm rõ những vấn đề lý luận về hình thành và phát triển vùng thành phố làm cơ sở nghiên cứu sự hình thành và phát triển của VTP Cần Thơ. – Nghiên cứu thực tiễn phát triển hình thành và phát triển VTP của một số quốc gia trên thế giới và thực tiễn phát triển VTĐ Hà Nội và VTP Hồ Chí Minh. – Sử dụng phương pháp nghiên cứu và luận cứ khoa học, đặc biệt là kinh tế phát triển để xác định phạm vi, ranh giới VTP Cần Thơ.
– Nghiên cứu đánh giá thực trạng hình thành và phát triển VTP Cần Thơ, những nhân tố ảnh hưởng hình thành và phát triển VTP, làm rõ hạn chế chủ yếu và nguyên nhân cản trở hình thành và phát triển VTP Cần Thơ. – Đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện quá trình hình thành, phát triển VTP Cần Thơ. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là các định hướng, giải pháp hoàn thiện quá trình hình thành và phát triển VTP Cần Thơ với phạm vi, ranh giới được xác định trong LA.
Phạm vi nghiên cứu a) Về nội dung: LA chủ yếu tập trung nghiên cứu cơ sở lý thuyết của kinh tế phát triển và các bộ môn khoa học khác có liên quan về hình thành và phát triển VTP, trong đó tập trung vào các nội dung cơ bản như: (1) Khái niệm, định nghĩa về VTP; (2) Khái niệm, định nghĩa về hình thành và phát triển VTP; (3) Những nhân tố ảnh hưởng đến hình thành và phát triển VTP; (4) Đánh giá hình thành và phát triển VTP Cần Thơ; (5) Một số định hướng, đề xuất giải pháp hoàn thiện quá trình hình thành và phát triển VTP Cần Thơ. b) Về không gian: vùng ĐBSCL, trong đó tập trung vào VTP Cần Thơ được xác định trong LA gồm bảy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long, Hậu Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh. 5 c) Về thời gian: Phần phân tích và đánh giá thực trạng VTP Cần Thơ, LA tập trung vào giai đoạn từ năm 2010 đến nay. Phần phân tích về khung pháp lý cho VTP và phát triển đô thị ở Việt Nam, LA tập trung vào giai đoạn từ năm 2001 trở lại đây (thời điểm ban hành Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05/10/2001 của Chính phủ về việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị).
Phần đề xuất giải pháp, LA tập trung vào giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và khung nghiên cứu 4. Cách tiếp cận nghiên cứu VTP là một khái niệm được xây dựng và hoàn thiện bởi nhiều ngành, lĩnh vực khoa học và vấn đề phát triển VTP cũng tương đối phức tạp nên đòi hỏi cách tiếp cận đa dạng để giải thích hiện tượng.