Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số hiệu ứng phụ thuộc kích thước trong màng mỏng perovskite có trật tự xa luận án ts khoa học vật chất60 44 01

Luận án tiến sĩ nghiên cứu hiệu ứng phụ thuộc kích thước trong màng mỏng perovskite, đóng góp vào khoa học vật chất và ứng dụng công nghệ.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

116
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆU ỨNG PHỤ THUỘC KÍCH THƯỚC TRONG MÀNG MỎNG CÓ TRẬT TỰ XA

1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VỀ MÀNG MỎNG

1.2. Sự phụ thuộc nhiệt độ chuyển pha vào độ dày màng mỏng

1.3. Sự phụ thuộc của tham số trật tự vào độ dày màng mỏng

1.4. Sự tái định hướng spin phụ thuộc độ dày màng mỏng

1.5. Lý thuyết chuyển pha hiện tượng luận của Landau

1.6. Lý thuyết hàm Green hai thời điểm

2. CHƯƠNG 2: HIỆU ỨNG PHỤ THUỘC KÍCH THƯỚC TRONG MÀNG MỎNG MÔ TẢ BẰNG MÔ HÌNH ISING TRONG TRƯỜNG NGANG

2.1. HAMILTONIAN ISING TRONG TRƯỜNG NGANG VÀ DỌC

2.2. GẦN ĐÚNG TRƯỜNG TRUNG BÌNH CHO HỆ SPIN MÔ TẢ BẰNG MÔ HÌNH ISING NGANG

2.2.1. Phương trình xác định tham số trật tự

2.2.2. Phương trình xác định nhiệt độ chuyển pha Curie

2.2.3. Chuyển pha lượng tử theo lý thuyết trường trung bình

2.2.4. Kết quả tính số

2.3. PHƯƠNG PHÁP TÍCH PHÂN PHIẾM HÀM CHO MÔ HÌNH ISING TRONG TRƯỜNG NGANG

2.3.1. GẦN ĐÚNG GAUSSIAN CHO NĂNG LƯỢNG TỰ DO

3. CHƯƠNG 3: NĂNG LƯỢNG SÓNG SPIN VÀ ĐỘ CẢM TỪ CỦA MÀNG MỎNG MỘT LỚP MÔ TẢ BẰNG MÔ HÌNH XZ HEISENBERG

3.1. HAMILTONIAN CHO MÀNG MỎNG XZ HEISENBERG DỊ HƯỚNG ĐƠN LỚP

3.2. BIỂU DIỄN TÍCH PHÂN PHIẾM HÀM CHO HÀM GREEN MATSUBARA, GẦN ĐÚNG GAUSSIAN

3.3. ĐỘ CẢM TỪ VÀ NĂNG LƯỢNG SÓNG SPIN TRONG MÀNG MỎNG SPIN ĐƠN LỚP

4. CHƯƠNG 4: ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC TƯƠNG TÁC ĐẾN NHIỆT ĐỘ CURIE VÀ SỰ TÁI ĐỊNH HƯỚNG SPIN TRONG MÀNG MỎNG TỪ MÔ TẢ BẰNG MÔ HÌNH HEISENBERG DỊ HƯỚNG

4.1. SỰ TÁI ĐỊNH HƯỚNG SPIN TRONG MÀNG MỎNG TỪ HEISENBERG VỚI DỊ HƯỚNG ION ĐƠN TRỤC

4.2. Mô hình Heisenberg với dị hướng ion đơn trục cho màng mỏng từ

4.3. Kết quả và thảo luận

4.4. VAI TRÒ CỦA TƯƠNG TÁC LƯỠNG CỰC VÀ DỊ HƯỚNG TRONG MÀNG MỎNG

4.4.1. Mô hình Heisenberg cho màng mỏng từ có chứa tương tác lưỡng cực và dị hướng

4.4.2. Hàm Green Matsubara

4.4.3. Kết quả tính số

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

KẾT LUẬN CHUNG CHO LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về hiệu ứng phụ thuộc kích thước trong màng mỏng

Hiệu ứng phụ thuộc kích thước trong màng mỏng là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong vật lý vật liệu. Các màng mỏng ferroic, bao gồm màng sắt từ và sắt điện, đã thu hút sự chú ý lớn do tính chất độc đáo và ứng dụng tiềm năng trong công nghệ điện tử. Khi kích thước của màng mỏng giảm xuống cấp độ nano, các hiệu ứng vật lý mới xuất hiện, ảnh hưởng đến các tham số như nhiệt độ Curie, độ từ hóa và độ phân cực. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về các hiện tượng vật lý mà còn mở ra hướng đi mới cho các ứng dụng công nghệ trong tương lai.

1.1. Hiệu ứng kích thước và tính chất vật lý của màng mỏng

Khi màng mỏng được chế tạo với độ dày giảm, các tính chất vật lý như độ từ hóa và độ phân cực điện có thể thay đổi đáng kể. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhiệt độ Curie giảm khi độ dày màng mỏng giảm xuống chỉ còn vài lớp nguyên tử. Điều này cho thấy sự phụ thuộc mạnh mẽ của các tham số vật lý vào kích thước của màng mỏng.

1.2. Ứng dụng của màng mỏng trong công nghệ hiện đại

Màng mỏng ferroic được sử dụng rộng rãi trong các linh kiện điện tử như bộ nhớ sắt điện (FeRAMs), cảm biến từ trường và các tụ điện có dung lượng lớn. Những tính chất độc đáo của màng mỏng giúp cải thiện hiệu suất và khả năng lưu trữ thông tin trong các thiết bị điện tử hiện đại.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu màng mỏng

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về màng mỏng, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc hiểu rõ các hiệu ứng phụ thuộc kích thước. Một trong những vấn đề chính là xác định giới hạn kích thước mà tại đó các tham số trật tự thay đổi so với vật liệu khối. Các mô hình lý thuyết hiện tại vẫn chưa hoàn toàn giải thích được các hiện tượng phức tạp này.

2.1. Khó khăn trong việc mô hình hóa màng mỏng

Việc áp dụng các mô hình lý thuyết như mô hình Ising hay Heisenberg cho màng mỏng với độ dày vài lớp nguyên tử gặp nhiều khó khăn. Các mô hình này thường không cung cấp được lời giải chính xác cho các hiện tượng vật lý phức tạp xảy ra trong màng mỏng.

2.2. Sự khác biệt giữa lý thuyết và thực nghiệm

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa kết quả lý thuyết và thực nghiệm. Điều này đặt ra câu hỏi về tính chính xác của các mô hình lý thuyết hiện tại và cần có những nghiên cứu sâu hơn để làm rõ vấn đề này.

III. Phương pháp nghiên cứu hiệu ứng phụ thuộc kích thước

Để nghiên cứu hiệu ứng phụ thuộc kích thước trong màng mỏng, nhiều phương pháp khác nhau đã được áp dụng. Các phương pháp này bao gồm lý thuyết trường trung bình, lý thuyết chuyển pha hiện tượng luận của Landau và phương pháp tích phân phiếm hàm. Mỗi phương pháp có những ưu điểm và hạn chế riêng, và việc lựa chọn phương pháp phù hợp là rất quan trọng.

3.1. Lý thuyết trường trung bình trong nghiên cứu màng mỏng

Lý thuyết trường trung bình (MFA) là một trong những phương pháp phổ biến nhất để nghiên cứu các hiệu ứng phụ thuộc kích thước. Phương pháp này giúp đơn giản hóa các tính toán và cung cấp cái nhìn tổng quan về các hiện tượng vật lý trong màng mỏng.

3.2. Phương pháp tích phân phiếm hàm

Phương pháp tích phân phiếm hàm là một công cụ mạnh mẽ trong nghiên cứu màng mỏng. Phương pháp này cho phép tính toán các tham số trật tự và nhiệt độ Curie một cách chính xác hơn, đặc biệt trong các hệ spin phức tạp.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu về hiệu ứng phụ thuộc kích thước trong màng mỏng đã chỉ ra rằng các tham số như nhiệt độ Curie và độ từ hóa có thể thay đổi đáng kể khi độ dày màng mỏng giảm. Những phát hiện này không chỉ có ý nghĩa lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc phát triển các linh kiện điện tử mới.

4.1. Kết quả thực nghiệm về nhiệt độ Curie

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng nhiệt độ Curie của màng mỏng sắt điện giảm nhanh chóng khi độ dày màng giảm xuống dưới một ngưỡng nhất định. Điều này cho thấy sự phụ thuộc mạnh mẽ của nhiệt độ Curie vào kích thước màng.

4.2. Ứng dụng trong công nghệ điện tử

Các màng mỏng ferroic có tiềm năng ứng dụng lớn trong công nghệ điện tử, đặc biệt là trong các bộ nhớ sắt điện và cảm biến từ trường. Những tính chất độc đáo của màng mỏng giúp cải thiện hiệu suất và khả năng lưu trữ thông tin trong các thiết bị điện tử hiện đại.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu màng mỏng

Nghiên cứu về hiệu ứng phụ thuộc kích thước trong màng mỏng đang mở ra nhiều hướng đi mới cho các ứng dụng công nghệ. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần được giải quyết để hiểu rõ hơn về các hiện tượng vật lý phức tạp trong màng mỏng. Tương lai của nghiên cứu này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều phát hiện mới và ứng dụng tiềm năng trong lĩnh vực vật liệu.

5.1. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc phát triển các mô hình lý thuyết chính xác hơn để giải thích các hiện tượng vật lý trong màng mỏng. Việc kết hợp giữa lý thuyết và thực nghiệm sẽ giúp làm rõ hơn các vấn đề còn tồn tại.

5.2. Tiềm năng ứng dụng trong tương lai

Với sự phát triển của công nghệ, màng mỏng ferroic có thể trở thành một phần quan trọng trong các linh kiện điện tử thế hệ mới. Nghiên cứu về hiệu ứng phụ thuộc kích thước sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các ứng dụng công nghệ tiên tiến.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ HIỆU ỨNG PHỤ THUỘC KÍCH THƯỚC TRONG MÀNG MỎNG CÓ TRẬT TỰ XA Ảnh hưởng quan trọng nhất của hiệu ứng kích thước đối với các màng mỏng ferroic là ảnh hưởng lên các đặc trưng của chuyển pha trật tự - mất trật tự, nghĩa là ảnh hưởng đến nhiệt độ TC, tham số trật tự (độ từ hóa, độ phân cực điện), nhiệt dung. Sự phụ thuộc của sự tồn tại tính sắt từ hoặc tính sắt điện vào kích thước (độ dày màng) là điều rất quan trọng khi chế tạo các linh kiện sử dụng các hiệu ứng liên quan đến các tính chất đó. Vấn đề quan trọng nhất đó là xác định giới hạn kích thước trong đó các tham số trật tự (nhiệt độ Curie, độ từ hóa/ độ phân cực.) thay đổi so với các giá trị trong vật liệu khối tương ứng.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VỀ MÀNG MỎNG 1. Sự phụ thuộc nhiệt độ chuyển pha vào độ dày màng mỏng Sự suy giảm nhiệt độ chuyển pha khi độ dày của các màng mỏng giảm là một hiện tượng phổ biến của các màng mỏng. Nguyên nhân gây ra hiệu ứng kích thước này là do sự giảm số lượng các nguyên tử theo hướng vuông góc với bề mặt màng dẫn đến sự suy giảm năng lượng tương tác trao đổi. Về mặt thực nghiệm các phép đo sự phụ thuộc của nhiệt độ Curie vào độ dày màng đã đư ợc thực hiện trên các màng mỏng sắt từ như Ni [82], Co[75], Fe[48], Gd [55], các màng thủy tinh spin CuMn [1].

Ngoài ra, nhiều nghiên cứu thực nghiệm cũng đư ợc thực hiện trên các cấu trúc đa lớp Gd/W [4] và màng mỏng sắt điện [26]. Sự phụ thuộc của nhiệt độ Curie vào độ dày màng Ni [78]. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các phép đo thực nghiệm đã chỉ ra sự phụ thuộc của nhiệt độ Curie vào độ dày màng: nhiệt độ Curie sẽ giảm khi độ dày màng mỏng giảm xuống chỉ còn vài lớp nguyên tử. 1 cho thấy nhiệt độ Curie của màng mỏng kim loại Nikel nuôi trên đế Cu có định hướng khác nhau với độ dày 5 lớp nguyên tử có thể giảm tới một nửa giá trị so với màng có độ dày vài chục lớp nguyên tử.

Nhiệt độ Curie sắt điện của màng mỏng perovskite PbTiO3 giảm rất nhanh khi độ dày màng cỡ 6-7 kích thước ô cơ sở và hầu như bằng không khi độ dày màng cỡ khoảng 3 kích thước ô cơ sở. Đường chấm mờ mô tả kết quả khi làm khớp số liệu thực nghiệm theo lý thuyết Landau [26]. 2 cho thấy nhiệt độ Curie sắt điện trong màng mỏng perovskite PbTiO3 [26] giảm rất nhanh theo sự giảm của độ dày. Kết quả rút ra từ lý thuyết Landau cho thấy TC bằng 0 khi màng mỏng có độ dày 3 ô cơ sở (3 lớp nguyên tử Titan).

Các đặc tính chuyển pha trong màng mỏng cũng đư ợc nghiên cứu và giải thích bằng nhiều lý thuyết khác nhau nhau như lý thuyết Landau [15, 16, 24, 85, 99], lý TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuyết trường trung bình [50], lý thuyết trường hiệu dụng [60], lý thuyết hàm Green [6], phương pháp sóng spin [43]. Tuy nhiên có nhiều sự khác biệt giữa các kết quả thực nghiệm với các kết quả tính toán lý thuyết, đồng thời giữa các lý thuyết cũng cho kết quả khác nhau và cũng không hoàn toàn đ ầy đủ. Ví dụ như độ dày tới hạn của màng PbTiO3 tại nhiệt độ phòng đư ợc ước tính là khoảng 5,5nm theo lý thuyết hiện tượng luận [49]. Tuy nhiên các phép đo thực nghiệm lại cho thấy trạng thái ổn định với độ phân cực vuông góc bề mặt màng có thể tồn tại ở màng PZT (lead zinconate titanate).

Tính toán theo nguyên lý đầu tiên thậm chí tìm thấy trạng thái có độ phân cực điện vuông góc có thể duy trì ở điều kiện đoản mạch cho màng mỏng cỡ 1,2 nm (3 ô cơ sở). Mặc dù có nhiều nghiên cứu về sự phụ thuộc của nhiệt độ Curie vào kích thước (độ dày màng) và độ dày tới hạn của các màng siêu mỏng [34, 49, 90, 101, 108, 114, 113] nhưng bản chất vật lý và lý do tồn tại của nó vẫn chưa chắc chắn. Ngoại trừ các trường hợp đơn giản nhất, tính toán số sử dụng nguyên lý đầu tiên (ab initio) [34] hoặc cách tiếp cận nhiệt động lực học [90, 101] là các công cụ chính để khai thác lĩnh vực này. Các cách tiếp cận này có hiệu quả tốt khi nghiên cứu chuyển pha trong các mô hình liên tục và xác định được điểm chuyển pha khá chính xác.

Tuy nhiên khi áp dụng cho các mô hình không liên tục thì hiện tượng xảy ra phức tạp hơn và chưa có câu trả lời thỏa đáng. Việc xác định sự phụ thuộc của nhiệt độ Curie vào độ dày màng siêu mỏng (vài đơn lớp) cũng đã được tính toán bằng nhiều mô hình như mô hình Ising [51, 53], mô hình Heisenberg [103], mô hình XY,. Trong số đó, mô hình Ising trong trư ờng ngang được sử dụng khá nhiều để nghiên cứu sự chuyển pha lượng tử cả trong màng mỏng sắt từ và sắt điện [50- 54] và có hiệu quả khá tốt. Kết quả của các công trình này chỉ ra sự phụ thuộc của nhiệt độ Curie và độ từ hóa của màng mỏng vào trường ngang đặt vào màng với các độ dày khác nhau.

Các nghiên cứu trên cho thấy rằng, nhiệt độ Curie của màng sẽ tăng khi trường ngang giảm. Tuy nhiên nhiệt độ Curie cũng phụ thuộc vào tương tác trao đổi giữa các lớp spin bề mặt và các lớp spin bên trong màng. Nhiệt độ Curie tăng khi tương tác giữa các spin trên bề mặt màng và các spin ở lớp bên trong tăng lên. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Một vấn đề nghiên cứu khác được đặt ra là ảnh hưởng của tương tác giữa các lớp trong màng lên nhiệt độ tới hạn.

Tác dụng chồng chéo của các lớp lên nhiệt độ tới hạn minh họa cho tương tác này.Ví dụ như nhiệt độ TC của màng Fe/W(110) thấp hơn nhiệt độ TC của màng Fe được phủ Ag có độ dày bằng nhau. Điều này có thể do sự tăng cường momen từ của Fe khi kết hợp với Ag dẫn đến sự tăng nhiệt độ Curie. Đối với màng mỏng từ tính, quá trình nghiên cứu quan trọng nhất là sự phụ thuộc nhiệt độ của các tham số trật tự (độ từ hóa) gần điểm tới hạn. Khác với số mũ t ới hạn, giá trị của TC là đặc trưng của hệ (nó phụ thuộc vào độ lớn của các tương tác).

Sự phụ thuộc của tham số trật tự vào độ dày màng mỏng Những nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng tham số trật tự ở các lớp bề mặt của màng mỏng nhỏ hơn các lớp bên trong.4 cho thấy sự phụ thuộc moment từ vào độ dày của các màng mỏng La-Mn-Sr-O và Au/Ni/Si (100). Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng moment từ của màng mỏng giảm mạnh khi độ dày màng giảm. Sự phụ thuộc moment từ vào độ dày của màng La-Mn-Sr-O [76]. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Sự phụ thuộc kích thước của độ từ hóa bão hòa trong màng mỏng Au/Ni/Si(100) [91]. Việc phá vỡ đối xứng ở bề mặt hoặc ở các vùng tiếp xúc là nguồn gốc của những thay đổi quan trọng trong cấu trúc điện tử của nguyên tử theo hướng vuông góc với bề mặt khi so sánh với vật liệu khối (được Neél chỉ ra đầu tiên) và dẫn đến sự tăng cường momen từ bề mặt. Những thay đổi về momen từ có thể được hiểu là kết quả của việc địa phương hóa và thu hẹp các orbitals nguyên tử của các nguyên tử bề mặt, dẫn đến mật độ các trạng thái điện tử lớn hơn tại mức Fermi và sự mất cân bằng spin gia tăng [31, 57]. Nói cách khác ở bề mặt số nguyên tử lân cận giảm đi (về một phía) nên mật độ trạng thái điện tử sẽ tăng lên.

Trong giới hạn hai chiều, thậm chí một số kim loại không có từ tính trong trạng thái thể tích sẽ trở nên có từ tính ở trạng thái bề mặt [27]. Tuy nhiên hiện tượng này không thể giải thích do sự tăng lên của mật độ trạng thái N(EF) mà là do hiệu ứng lai hóa. Trường hợp của kim loại Vanadi (V) là một ví dụ: momen từ của V có thể xuất hiện trên bề mặt một số đế mẫu kim loại sắt từ. Trên các bề mặt (hay bề mặt chuyển tiếp giữa các lớp) của các kim loại sắt từ như Fe, Co, Ni, momen từ của V có phân cực âm (so với momen từ của Fe) và có thể đạt tới giá trị 1,9 µ B.

Cơ chế của sự xuất hiện momen từ này của V là do mức độ lai hóa khác nhau giữa các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trạng thái 3d (Fe)-3d(V) trong các phân vùng spin thuận và spin nghịch. Khi khảo sát một cách chi tiết, trong một vùng chuyển tiếp của các màng mỏng đa lớp Fe/V (001), người ta còn phát hiện thấy momen từ của Fe và V thay đổi theo từng lớp nguyên tử trong vùng chuyển tiếp đó. Đó cũng có th ể là kết quả của sự thay đổi nồng độ theo khoảng cách, dẫn đến sự thay đổi mức độ lai hóa 3d (Fe)-3d(V) theo vị trí nguyên tử. Các phép đo thực nghiệm trong các màng mỏng sắt điện cũng cho th ấy kết quả tương tự.

Hiệu ứng phụ thuộc kích thước của độ phân cực đã đư ợc tìm thấy trong màng mỏng BTO có độ dày từ 35 đến 250nm (Hình 1. Ở đây cho thấy sự suy giảm mạnh của độ phân cực khi độ dày màng giảm đi. Ảnh hưởng của độ dày màng BTO lên độ phân cực tại nhiệt độ phòng [42]. Bên cạnh các phép đo thực nghiệm các tính toán về sự phụ thuộc kích thước của các tham số trật tự trong các màng mỏng ferroic cũng đư ợc nhiều tác giả thực hiện theo các lý thuyết khác nhau.

Sử dụng lý thuyết Landau–Ginzburg–Devonshire tổng quát tính toán cho màng mỏng perovskite sắt điện PZT, nhóm tác giả Gang Liu và Ce-Wen Nan [33] cho thấy sự gia tăng độ dày dẫn đến sự tăng độ lớn của độ phân cực thể hiện trong Hình 1. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Sự phụ thuộc độ dày màng PZT của độ phân cực tỷ đối [33]. Sự tái định hướng spin phụ thuộc độ dày màng mỏng Một vấn đề khác thu hút được nhiều sự chú ý khi nghiên cứu về hiệu ứng kích thước trong màng mỏng là sự chuyển pha tái định hướng spin, xảy ra khi dị hướng vuông góc bị giảm bớt do dị hướng trong mặt phẳng khi độ dày màng hoặc nhiệt độ của màng thay đổi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ