CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Thâm canh cây trồng ngày càng phát triển đã và đang làm thay đổi rất nhiều điều kiện sinh thái, môi trường sống và nguy hiểm hơn vì những chuyển dịch này lại đang nghiêng về phía tiêu cực, tạo ra một thế cân bằng mới bất lợi cho con người. Tuy nhiên, vì lợi nhuận nhất thời muốn làm tăng năng suất cây trồng và do nhu cầu lương thực, thực phẩm nuôi sống con người nên con người vẫn phải đầu tư thâm canh ngày càng cao, làm phá vỡ hệ sinh thái đồng ruộng. Các quần thể ký sinh, bắt mồi ăn thịt đã bị giảm về số lượng.
Ong bướm thụ phấn cho hoa cũng bị tiêu diệt, đặc biệt đối với các cây trồng thụ phấn chéo. Môi trường sống bị nhiễm các chất độc sau nhiều lần phun thuốc. Số lượng thuốc hoá học có độ độc cao ngày càng lớn nhưng hiệu quả trong nhiều lần phun lại rất thấp, do sâu bệnh kháng và chống thuốc. Người ta đã xác định được chỉ có 0,1-0,3% thuốc trừ sâu bệnh đạt được mục tiêu và 5-40% thuốc trừ cỏ có thể diệt được cỏ dại.
Ở Mỹ, các nhà khoa học đã tính toán 35-50% thuốc hoá học trừ sâu bệnh đã được sử dụng một cách không cần thiết. Phần lớn thuốc sử dụng rộng rãi không đúng mục đích phòng trừ sâu, bệnh hại; một phần thuốc sử dụng ở nồng độ rất thấp để kích thích sự ra hoa, quả trái vụ… điều đó đã gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Trước thực trạng đó, việc nghiên cứu và sử dụng một số loài thực vật bản địa trong phòng trừ sâu hại và cỏ dại sẽ giúp cho sản xuất rau an toàn hơn và môi trường ít bị ô nhiễm. Đề tài góp phần sử dụng và bảo tồn nguồn tài nguyên thực vật phong phú, đa dạng trong nước, đẩy mạnh hướng nghiên cứu về cạnh tranh sinh học, về mối quan hệ giữa các loài thực vật với nhau và mối quan hệ giữa thực vật với sâu hại cây trồng, đồng thời nâng cao ý thức mọi người, đặc biệt người nông dân về nền nông nghiệp sinh thái, hạn chế sử dụng thuốc hoá học BVTV, cải tạo 6 sinh cảnh và môi sinh.
Đề tài nghiên cứu sẽ là những dẫn liệu khoa học phục vụ cho việc sản xuất rau an toàn đảm bảo chất lượng cũng như môi trường, góp phần bảo vệ nguồn thiên địch có ích, tạo dựng một nền nông nghiệp sinh thái bền vững. Tổng quan tài liệu 1. Giá trị dinh dưỡng và ý nghĩa kinh tế của cây rau 1. Giá trị dinh dưỡng của cây rau Cây rau có vị trí và tầm quan trọng hết sức to lớn đối với đời sống con người, bởi chúng cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết mà không loại thực phẩm nào có thể thay thế được.
Rau xanh có tác dụng cân bằng dinh dưỡng trong chế độ ăn uống của cơ thể con người, chúng cung cấp phần lớn các chất cần thiết như: vitamin, chất khoáng mà cây trồng khác không cung cấp đủ. Kết quả nghiên cứu về mức tiêu thụ rau xanh tính trên đầu người cho thấy: ở các nước phát triển thường có mức tiêu thụ rau trên đầu người cao hơn các nước đang phát triển. So sánh trên cùng một đơn vị diện tích trồng trọt, về hàm lượng các chất dinh dưỡng thì rau xanh có nhiều hơn so với cây lương thực khác, số liệu của Trung tâm phát triển châu Á (2008).1: Hàm lượng dinh dưỡng thu được từ một số loại cây trồng Cây trồng Năng suất tiêu thụ Protein ß-carotene Vitamin C (tấn/ha) (kg/ha) (g/ha) (kg/ha) Cải 39,7 707 537 20,6 Súp lơ 23,9 229 6,9 8,0 Hành 59,5 941 - 2,8 Tỏi 9,5 565 0 0,6 Cà chua 60,1 535 299 20,2 Khoai tây 43,9 345 - 4,8 Lúa 5,6 414 0 0 Khoai lang 24,6 216 116,9 6,7 Đậu tương 2,5 167 1,9 0,28 7 Qua bảng 1.1 ta thấy: Nguồn dinh dưỡng từ rau xanh rất phong phú, chúng bao gồm: vitamin, protein, lipit, gluxit, các chất khoáng và xơ,… Trong đó, chất khoáng và vitamin trong rau xanh nhiều hơn hẳn so với các cây trồng khác. Hiện nay, trong khẩu phần ăn của con người, rau xanh cung cấp khoảng 90-99% nguồn vitamin A, 60-70% vitamin B2 và gần 100% vitamin C.
Vitamin đã giúp cho các hoạt động sinh lý trong cơ thể diễn ra một cách bình thường, mỗi loại vitamin có một chức năng khác nhau, nếu thiếu bất kỳ một loại vitamin nào sẽ gây rối loạn chức năng hoạt động sống của con người, ví dụ: nếu thiếu vitamin A sẽ bị bệnh quáng gà, hoặc mắt không có khả năng thích nghi với ánh sáng mờ, nếu bị nặng sẽ phát triển thành bệnh Xeropthlmia làm hỏng thị lực. Thiếu vitamin B sẽ gây mệt mỏi, kém ăn, cơ thể tê phù. … Như vậy, nếu thiếu các loại vitamin sẽ làm giảm sức dẻo dai, giảm hiệu suất làm việc, dễ phát sinh bệnh tật.1 ta cũng thấy rằng: Các cây trồng thuộc họ cải cho hàm lượng vitamin và protein là rất lớn .Trong đó thì bắp cải là một loài thuộc chi cải( Brassica), có nguồn gốc ở vùng biển phía Đông và Tây Châu Âu. Bắp cải là loại rau chủ lực trong họ nhà cải còn gọi là họ hoa thập tự ( Brassicacêal Cruciferae).
Về mặt dinh dưỡng có trong 100g bắp cải, cung cấp cho cơ thể 25 calo, natri là 18mg; tinh bột là 5g; chất xơ là 2g; protein là 1g; vitamin A là 133IU; vitamin C là 32g; canxi là 47mg và sắt là 1mg. Lượng vitamin C có trong bắp cải chỉ thua cà chua, lượng vitamin C có trong bắp cải nhiều hơn 4,5 lần so với cà rốt và 3,6 lần so với khoai tây và hành tây (Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam) 1. Ý nghĩa kinh tế của cây rau Rau xanh là cây trồng mang lại giá trị và hiệu quả kinh tế cao, trong nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu thì rau xanh đã đóng góp một nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể. Những năm 1986-1990, nước ta đã xuất khẩu rau sang Liên 8 Xô và các nước Đông Âu, nhưng do tình hình chính trị biến động nên việc xuất khẩu bị giảm.
Từ năm 1995 trở lại đây, hoạt động xuất khẩu rau xanh được phục hồi, hiện nay có tới hơn 40 nước là thị trường rau của Việt nam. Các mặt hàng rau xuất khẩu chủ yếu là: ớt cay, cà chua, dưa chuột. Nếu những năm 1986-1990, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 70 triệu USD/năm, thì từ năm 1991 đến nay lượng rau xuất khẩu đã đạt 10.000 tấn, so với lúa gạo thì giá trị rau quả xuất khẩu gấp 1,5 – 3 lần (Tạ T. Thu Cúc và cs, 2000) [3] Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2000 cho biết, tổng giá trị sản xuất của ngành trồng trọt năm 1990 là 51.
Trong đó, riêng rau đậu đã đạt được 3. Năm 2000, tổng giá trị của ngành trồng trọt là 86.860 tỷ đồng, trong đó sản phẩm rau, đậu đạt 5. Trồng rau có hiệu quả hơn so với các cây trồng khác về khả năng khai thác năng suất/một đơn vị diện tích/một đơn vị thời gian, vì chúng có đặc điểm là sinh trưởng và phát triển nhanh trong một thời gian ngắn. Theo Cẩm nang trồng rau, cứ 1 ha khoai tây có thể cung cấp lượng calo nhiều hơn 1-1,5 lần so với 1 ha lúa hoặc lúa mì, năng suất đậu có thể lên tới 20 - 30 tấn/ha trong đó 5 – 6 tháng, chỉ trong 20 – 30 ngày năng suất rau dền và rau muống đạt tới 10 tấn/ha (Trần Văn Lài, Lê Thị Hà, 2002) [8].
Theo Tô Thị Thu Hà và Nguyễn Văn Hiền (2005), tại vùng ven đô Hà Nội, thu nhập của việc trồng rau cao gấp 4 lần so với các cây lương thực, trong khi chi phí chỉ gấp 2 lần. Điều này dẫn tới lãi thuần của cây rau cao hơn 14 lần so với cây lương thực. Cây rau đã góp phần cải thiện được đời sồng của người nông dân trong những năm gần đây, góp phần xoá đói giảm nghèo, điển hình: Ở Hưng Yên diện tích rau màu của huyện Yên Mỹ chỉ được trồng với diện tích nhỏ nhưng hiện nay cây rau đã trở thành cây trồng có giá trị kinh tế cao cho thu nhập 5 - 7 triệu đồng/sào. Xã Xuân Bắc (huyện Xuân Lộc) tỉnh Đồng Nai là một vùng thuần nông trước đây người dân sống 9 chủ yếu bằng nghề trồng lúa nên đời sống hết sức khó khăn.
Vài năm gần đây nhiều nông dân đã chuyển diện tích trồng lúa sang trồng rau, đậu các loại năng suất 3,5 tấn/sào mang lai thu nhập cao hơn trồng lúa 6 - 7 lần. Người dân xóm 7 xã Yên Khánh (Ninh Bình) đã thành công trong phát triển rau trái vụ với gần 100 hộ tham gia, bình quân các hộ trong xã đều đạt thu nhập từ 20 - 30 triệu đồng nhờ trồng rau trái vụ. Bắp cải thích hợp với đất thịt nhẹ, cao ráo, dễ thoát nước. Sau 3 tháng, thu hoạch có năng suất đạt 2 tấn/sào, với giá bán cho thương lái 3,5 - 4 ngàn đồng/kg sau khi trừ chi phí còn cho lãi trên 110 triệu đồng.
Như vậy so với các cây trồng khác cây rau là cây có giá tri kinh tế cao, cho thu nhập vượt trội hơn so với lúa và một số loại cây trồng khác, điều này đã được thực tiễn chứng minh và công nhận. Sơ lược tình hình phát triển rau trên thế giới và Việt nam 1. Sơ lược tình hình phát triển rau trên thế giới Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều chủng loại rau được gieo trồng, diện tích rau ngày càng gia tăng để đáp ứng nhu cầu về rau của người dân (Mai Phương Anh, Trần Văn Lài, Trần Khắc Thi, 1996) [11] Năm 1961 – 1965, tổng lượng rau của thế giới là 200.234 tấn; từ năm 1971 – 1975 tổng lượng rau đạt 293.657 tấn và từ năm 1981 – 1985 là 392.060 tấn; đến năm 1996 tổng lượng rau đã lên đến 565. Sản lượng rau trên thế giới tăng lên rất nhanh, điều đó chứng tỏ nhu cầu rau của con người ngày càng tăng.
Trên thế giới, những nước có sản lượng rau tăng nhanh nhất là Ý, năm 1961 đạt 9.859 nghìn tấn; đến năm 1996 sản lượng tăng đạt 13. Ở Hà Lan, năm 1985 bình quân 84 kg/người/năm; đến năm 1990 đạt 202 kg/người/năm. Ở Canada, mức tiêu thu rau bình quân là 70 kg/người/năm (Tạ T. 10 Cho đến nay, tình hình sản xuất rau trên thế giới không ngừng phát triển cả về diện tích và sản lượng thể hiện qua bảng sau: Bảng 1.2: Tình hình sản xuất rau trên thế giới qua các năm.
Năngsuất Năm Diện tích(ha) Sản lượng(tấn) (tấn/ha) 2005 16.