Tổng quan luận án

Bệnh lý sỏi tiết niệu là vấn đề sức khỏe phổ biến với tỷ lệ mắc ước tính từ 1% đến 15% dân số toàn cầu, phụ thuộc vào yếu tố giới tính, tuổi tác, chủng tộc và vị trí địa lý. Theo số liệu của Scales C.D và cộng sự (2012), tỷ lệ sỏi thận ở người lớn tại Hoa Kỳ giai đoạn 2007 - 2010 là 8,8%. Việt Nam nằm trong khu vực "vành đai sỏi" của thế giới, trong đó sỏi thận chiếm khoảng 40% tổng số các trường hợp sỏi tiết niệu. Sự phát triển của các phương pháp can thiệp ít xâm lấn (tán sỏi ngoài cơ thể, nội soi niệu quản ngược dòng, lấy sỏi thận qua da) đã thu hẹp tỷ lệ mổ mở tại các nước phát triển xuống còn 1% - 5,4%. Tại Việt Nam, tỷ lệ mổ mở vẫn còn ở mức cao do người bệnh thường phát hiện và điều trị muộn khi sỏi đã có kích thước lớn và gây nhiều biến chứng.

Đối với sỏi thận có kích thước lớn hơn 2cm, các hướng dẫn lâm sàng của Hiệp hội Tiết niệu châu Âu (EAU) và Hiệp hội Tiết niệu Hoa Kỳ (AUA) năm 2010 và cập nhật năm 2020 đều khuyến cáo lấy sỏi thận qua da (Percutaneous Nephrolithotomy - PCNL) là phương pháp điều trị được lựa chọn đầu tiên. Mặc dù kỹ thuật này đã được triển khai tại Việt Nam từ cuối năm 2000, các công trình nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu tập trung vào tỷ lệ sạch sỏi ban đầu và các biến chứng ngoại khoa thông thường. Khoảng trống nghiên cứu lớn được đặt ra là việc đánh giá một cách toàn diện, định lượng các yếu tố liên quan đến hiệu quả điều trị và đặc biệt là sự thay đổi chức năng thận sau mổ bằng phương pháp xạ hình thận – một kỹ thuật y học hạt nhân có giá trị đánh giá chức năng từng thận riêng rẽ.

Luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Lê Đình Nguyên với đề tài "Nghiên cứu kết quả điều trị sỏi thận có kích thước lớn hơn 2cm bằng phương pháp lấy sỏi thận qua da" (Chuyên ngành Ngoại khoa, Mã số: 9720104, Học viện Quân y, 2021) được thực hiện nhằm giải quyết hai mục tiêu cụ thể:

  1. Đánh giá kết quả và một số yếu tố liên quan trong điều trị sỏi thận có kích thước lớn hơn 2cm bằng phương pháp lấy sỏi thận qua da tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.
  2. Đánh giá chức năng thận sau điều trị sỏi thận có kích thước lớn hơn 2cm bằng phương pháp lấy sỏi thận qua da.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các bệnh nhân được chẩn đoán sỏi thận có kích thước lớn hơn 2cm và được chỉ định điều trị bằng phương pháp lấy sỏi thận qua da.
  • Phạm vi không gian: Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Hà Nội.
  • Thời gian hoàn thành: Năm 2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án hệ thống hóa các nền tảng giải phẫu ứng dụng, cơ sở sinh lý bệnh học và lịch sử can thiệp ngoại khoa lấy sỏi thận qua da:

1. Cơ sở giải phẫu ứng dụng trong chọc dò và tạo đường hầm

  • Cấu trúc thận và liên quan khoang sau phúc mạc: Trục dọc thận chếch ra ngoài từ trên xuống dưới, cực dưới đẩy nhẹ ra trước, thận xoay ra trước một góc khoảng 30° so với mặt phẳng đứng ngang (Elkoushy M. và cộng sự, 2016). Cực trên thận liên quan chặt chẽ với cơ hoành và màng phổi. Lang E. và cộng sự (2009) chỉ ra nguy cơ tổn thương phổi khi chọc dò trên xương sườn 11 là 14% ở bên trái và 29% ở bên phải ở tư thế nằm sấp.
  • Mối liên quan với đại tràng sau thận: Hopper K. và cộng sự (1987, 2012) ghi nhận tỷ lệ đại tràng nằm phía sau thận ở tư thế sấp là 4,7%, chủ yếu gặp ở cực dưới thận phải (80%), khuyến nghị góc chọc kim vào cực dưới sau không vượt quá 30° so với mặt phẳng đứng dọc để tránh tổn thương đại tràng.
  • Cấu trúc phân nhánh đài - bể thận: Sampaio F. và cộng sự (1988) phân loại hệ thống đài bể thận thành nhóm A (chiếm 62,2% với 2 đài lớn trên và dưới) và nhóm B (chiếm 37,8% với các đài nhỏ giữa đổ độc lập vào bể thận). Phân bố đài nhỏ theo trục trước - sau theo kiểu Brodel hoặc Hodson (Kaye K. và cộng sự, 1984; Eisner B. và cộng sự, 2009; Miller J. và cộng sự, 2013), khuyến cáo đường vào đài dưới tối ưu là đài thứ 2 hướng ra sau.
  • Phân bố mạch máu và diện vô mạch Brodel: Động mạch thận phân chia thành nhánh trước (cấp máu 3/4) và nhánh sau bể thận (cấp máu 1/4). Hai hệ thống gặp nhau ở diện vô mạch Brodel (dọc bờ ngoài thận, lệch sau khoảng 1cm). Smith A. và cộng sự (2012) chứng minh chọc dò qua nhú đài thận chỉ tổn thương tĩnh mạch nhỏ ngoại vi (7,1% - 8,3%), không gây tổn thương động mạch phân thùy như khi chọc vào cổ đài hay bể thận.

2. Các nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng về chức năng thận

  • Thực nghiệm trên động vật:
    • Webb D. và cộng sự (1985) chứng minh đường nong từ 6F đến 22F làm tổn thương khoảng 100 - 200 đơn vị nephron.
    • Traxer O. và cộng sự (2001) trên mô hình lợn ghi nhận thể tích sẹo nhu mô sau nong ống Amplatz 11F và 30F lần lượt là 0,29ml và 0,40ml (tương đương 0,63% và 0,91% thể tích thận).
    • Handa R. và cộng sự (2006, 2009, 2010) sử dụng độ thanh thải Inulin và PAH (Paraaminohippuric acid) để đánh giá mức lọc cầu thận (GFR) và dòng chảy huyết tương thận hiệu ứng (ERPF), ghi nhận hiện tượng co mạch cấp tính làm giảm chức năng thận ở thời điểm 1,5 giờ và 4,5 giờ sau nong, sau đó hồi phục dần về mức nền sau 72 giờ.
  • Nghiên cứu lâm sàng và vai trò của xạ hình thận:
    • Marberger M. và cộng sự (1985) dùng Tc99m-DMSA trên 14 bệnh nhân.
    • Moskovitz B. và cộng sự (1986) dùng Tc99m-DTPA đánh giá GFR riêng rẽ từng thận tại ngày thứ nhất và 2 tuần sau mổ.
    • Bùi Quang Biểu và cộng sự (2012) tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 xác định các chỉ số tham chiếu xạ hình Tc99m-DTPA (RP, GFR, RF, Tmax, T1/2) trên 44 người hiến thận khỏe mạnh.
    • Itoh K. (2003) so sánh độ chính xác của GFR qua xạ hình theo phương pháp Gates cải biên với công thức Cockcroft-Gault và PSC.

3. Tình hình nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, sau các báo cáo đầu tiên của Vũ Văn Ty (1997) và Nguyễn Tuấn Vinh (2000), các nghiên cứu của Nguyễn Đình Xướng (2008) trên 175 bệnh nhân và Vũ Nguyễn Khải Ca (2009) trên 78 bệnh nhân đã khảo sát tỷ lệ sạch sỏi và nồng độ creatinin máu trước - sau mổ. Luận án của NCS. Lê Đình Nguyên đặt vị trí nghiên cứu vào việc kết hợp đánh giá lâm sàng, đối chiếu thang điểm phức tạp của sỏi (GSS, S-ReSC, CROES), phân loại tai biến biến chứng theo hệ thống Clavien-Dindo chuẩn hóa và theo dõi sự phục hồi chức năng thận chuyên sâu bằng xạ hình thận Tc99m-DTPA ở các mốc thời gian: ngày thứ nhất, 1 tháng và từ 3 tháng trở lên sau phẫu thuật.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1. Cơ sở lý thuyết và các công cụ đánh giá

  • Đánh giá độ phức tạp của sỏi:
    • Thang điểm Guy's Stone Score (GSS) do Thomas K. và cộng sự (2011) đề xuất, phân chia 4 mức độ từ GSS I (sỏi đơn độc đài dưới/giữa/bể thận) đến GSS IV (sỏi san hô toàn bộ hoặc sỏi trên giải phẫu bất thường/tổn thương tủy sống).
    • Thang điểm S-ReSC (Jeong C. và cộng sự, 2013) tính điểm dựa trên sự phân bố sỏi tại 9 vị trí giải phẫu trên phim cắt lớp vi tính.
    • Hệ thống tính điểm CROES (Smith A. và cộng sự, 2013) và hệ thống phân loại Staghorn morphometry (Mishra S. và cộng sự, 2013), S.T.O.N.E. score (Okhunov Z. và cộng sự, 2013).
  • Đánh giá tai biến, biến chứng: Bảng phân loại Clavien - Dindo gồm 5 mức độ (Độ I đến Độ V) theo Dindo D. và cộng sự (2004) cùng các khuyến cáo chuẩn hóa của Hiệp hội Tiết niệu châu Âu (EAU, 2012).
  • Đánh giá chức năng thận:
    • Định lượng nồng độ creatinin máu, tính mức lọc cầu thận ước lượng.
    • Chẩn đoán hình ảnh: Chụp niệu đồ tĩnh mạch (UIV), chụp cắt lớp vi tính (CLVT).
    • Xạ hình thận chức năng với đồng vị phóng xạ $Tc99m\text{-DTPA}$ (đo mức lọc cầu thận GFR từng bên, tưới máu tương đối RP, chức năng tương đối RF, thời gian đạt đỉnh hoạt độ Tmax, thời gian bán thải T1/2).

2. Thiết kế và quy trình nghiên cứu

  • Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu lâm sàng mô tả, tiến cứu có theo dõi dọc.
  • Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân được chẩn đoán xác định có sỏi thận kích thước lớn hơn 2cm (tính theo đường kính lớn nhất trên chẩn đoán hình ảnh), được phẫu thuật lấy sỏi thận qua da.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân có rối loạn đông máu chưa kiểm soát, nhiễm khuẩn tiết niệu đang tiến triển chưa điều trị ổn định, có khối u tại vị trí tạo đường hầm hoặc u thận, phụ nữ đang mang thai.
Quy trình kỹ thuật can thiệp chuẩn hóa trong nghiên cứu:
1. Soi bàng quang đặt catheter niệu quản cùng bên sỏi dưới gây mê toàn thân/tê vùng.
2. Chuyển bệnh nhân sang tư thế nằm sấp, có độn gối vùng thắt lưng.
3. Bơm thuốc cản quang hoặc không khí qua catheter niệu quản để hiện hình đài - bể thận dưới C-arm.
4. Chọc dò đài thận lựa chọn (ưu tiên đài dưới/đài sau) qua nhú đài thận bằng kim chọc 18G.
5. Luồn dây dẫn đường (guidewire), nong đường hầm từng bước bằng bộ nong Amplatz và đặt ống Amplatz (cỡ 26F - 30F hoặc cỡ nhỏ).
6. Đưa máy nội soi thận vào, tán sỏi bằng năng lượng khí nén/siêu âm (máy Swiss LithoClast Master), bơm rửa liên tục bằng dung dịch đẳng trương NaCl 0,9%.
7. Kiểm tra sạch sỏi bằng nội soi và màn tăng sáng C-arm; đặt ống thông JJ niệu quản xuôi dòng và đặt ống dẫn lưu thận ra da.
  • Quy trình thu thập và xử lý số liệu: Thu thập các biến số lâm sàng, cận lâm sàng, thông số phẫu thuật (thời gian mổ, lượng dịch rửa, số đường hầm, mức thay đổi huyết sắc tố Hb, hematocrit Hct, nồng độ $Na^+$ máu). Số liệu được xử lý bằng các thuật toán thống kê y học, so sánh các biến định tính và định lượng trước - sau mổ.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

Chương 1 tổng thuật các kiến thức kinh điển và hiện đại về giải phẫu hệ tiết niệu, sinh lý bài tiết và cơ chế hình thành sỏi. Tác giả phân tích chi tiết các mốc giải phẫu liên quan đến độ an toàn của đường chọc dò thận: góc sườn hoành, dây chằng Haller, đại tràng sau thận, cuống mạch thận và diện vô mạch Brodel. Nội dung chương điểm lại lịch sử phát triển của kỹ thuật PCNL từ ca đầu tiên của Fernstrom I. (1976) và Smith A. (1979), đồng thời tổng hợp các biến chứng hay gặp: chảy máu (0% - 12,3%), sốt/nhiễm khuẩn huyết theo tiêu chuẩn SIRS (2,8% - 32,1%), tổn thương tạng rỗng và hội chứng hấp thu dịch rửa nội soi. Chương 1 cũng phân tích chi tiết cơ chế tác động của đường nong Amplatz lên chức năng thận qua các nghiên cứu thực nghiệm và khẳng định giá trị của kỹ thuật xạ hình thận $Tc99m\text{-DTPA}$ trong việc định lượng chức năng thận sau can thiệp.

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 2 mô tả chi tiết tiêu chuẩn chọn bệnh, tiêu chuẩn loại trừ và thiết kế nghiên cứu tiến cứu thực hiện tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Tác giả trình bày chi tiết các bước chuẩn bị bệnh nhân trước mổ, quy trình chẩn đoán hình ảnh (KUB, UIV, CLVT), xét nghiệm sinh hóa máu, cấy vi khuẩn nước tiểu và quy trình xạ hình thận. Kỹ thuật mổ được mô tả chuẩn hóa từ thì đặt catheter niệu quản, định vị C-arm, kỹ thuật chọc qua nhú đài thận, quy trình nong tạo đường hầm Amplatz, sử dụng máy tán sỏi Swiss LithoClast Master, kiểm soát áp lực dịch rửa đến thì đặt dẫn lưu. Các tiêu chí đánh giá kết quả sạch sỏi (Stone Free Rate - SFR), tỷ lệ sót sỏi có ý nghĩa lâm sàng (CIRFs), phân loại biến chứng theo Clavien-Dindo và các mốc đánh giá chức năng thận (ngày 1, 1 tháng, $\ge 3$ tháng) được xây dựng cụ thể.

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thu thập được từ mẫu nghiên cứu qua hệ thống bảng, biểu đồ và đồ thị:

Nhóm chỉ số theo dõi Các biến số và kết quả đo lường chính
Đặc điểm lâm sàng & Cận lâm sàng - Tuổi, giới tính, chỉ số khối cơ thể (BMI), tiền sử mổ mở cùng bên.
- Phân loại kích thước sỏi, diện tích bề mặt sỏi, phân loại độ phức tạp theo thang điểm GSS và S-ReSC.
- Mức độ ứ nước của thận, nồng độ creatinin máu, tỷ lệ cấy vi khuẩn niệu và nitrit niệu dương tính trước mổ.
- Các thông số xạ hình thận nền trước mổ: GFR, RP, RF, Tmax, T1/2.
Kết quả phẫu thuật & Yếu tố liên quan - Vị trí đài thận chọc dò, số lượng đường hầm tạo lập, kích thước ống Amplatz sử dụng.
- Tỷ lệ sạch sỏi hoàn toàn và tỷ lệ sạch sỏi theo phân nhóm: kích thước sỏi, diện tích bề mặt, phân loại GSS, đặc điểm cản quang và sự phân bố sỏi vào các đài nhỏ.
- Tương quan giữa thời gian mổ, lượng dịch rửa với mức độ giảm nồng độ $Hb$ và $Na^+$ máu sau mổ.
- Mối liên quan giữa tiền sử mổ mở, chỉ số BMI, mức độ ứ nước thận với thời gian mổ và lượng máu mất.
- Mối liên quan giữa tình trạng nhiễm khuẩn niệu trước mổ, thời gian mổ kéo dài với biến chứng sốt sau mổ.
Tai biến, biến chứng (Clavien-Dindo) - Tỷ lệ tai biến trong mổ: Chảy máu, rách/thủng đài bể thận, hấp thu dịch rửa.
- Tỷ lệ biến chứng sau mổ: Chảy máu thứ phát, sốt/nhiễm khuẩn, rò nước tiểu kéo dài qua đường hầm.
- Phân loại mức độ can thiệp theo Clavien-Dindo (Độ I, II, IIIa, IIIb, IV).
Biến đổi chức năng thận sau mổ - Nồng độ creatinin máu: So sánh trước mổ với ngày thứ nhất, sau 1 tháng và sau $\ge 3$ tháng.
- Mức độ hồi phục hình thái và bài xuất trên phim UIV sau 1 tháng.
- Xạ hình thận $Tc99m\text{-DTPA}$: Đánh giá sự thay đổi của GFR, RP, RF, Tmax, T1/2 tại thời điểm 1 tháng và $\ge 3$ tháng.
- Đánh giá tác động của số lượng đường hầm và kích thước Amplatz lên sự thay đổi GFR.
- Khảo sát riêng biệt sự biến đổi chức năng thận ở phân nhóm bệnh nhân có thận đơn độc chức năng.

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

Chương 4 tập trung phân tích, so sánh các phát hiện của luận án với y văn trong nước và quốc tế:

  • Hiệu quả sạch sỏi: Luận án bàn luận về tính ưu việt của phương pháp LSTQD đối với sỏi $> 2\text{cm}$, phân tích nguyên nhân sót sỏi liên quan đến giải phẫu cổ đài hẹp, sỏi phân nhánh phức tạp (GSS III, IV), sỏi đài trước khó tiếp cận qua một đường hầm đơn độc.
  • Các yếu tố ảnh hưởng và biến chứng: Phân tích cơ chế mất máu trong mổ liên quan đến kỹ thuật chọc dò (chọc qua nhú thận giúp giảm tổn thương mạch máu), kích thước Amplatz và thời gian phẫu thuật. Bàn luận về nguy cơ hạ natri máu do hấp thu dịch rửa khi mổ kéo dài và áp lực bơm rửa cao; phân tích vai trò của kháng sinh dự phòng và kiểm soát vi khuẩn niệu trong giảm thiểu hội chứng SIRS.
  • Phục hồi chức năng thận: Phân tích hiện tượng giảm GFR thoáng qua trong 24 giờ đầu sau mổ do phản xạ co mạch và phù nề nhu mô quanh đường nong, sau đó là sự cải thiện rõ rệt của GFR và thời gian bài xuất Tmax, T1/2 sau 1 tháng và trên 3 tháng nhờ giải phóng hoàn toàn tình trạng bế tắc đường niệu. Phân tích tính an toàn của phương pháp khi áp dụng trên nhóm bệnh nhân thận đơn độc.

Kết quả và những đóng góp mới

1. Đóng góp về mặt khoa học và lý luận

  • Cung cấp dẫn liệu khoa học có hệ thống về mối liên quan giữa các thang điểm đánh giá độ phức tạp của sỏi (GSS, S-ReSC) với kết quả sạch sỏi và tỷ lệ biến chứng trong điều trị sỏi thận kích thước $> 2\text{cm}$ tại Việt Nam.
  • Làm sáng tỏ cơ chế biến đổi động học chức năng thận sau lấy sỏi thận qua da: Chứng minh sự suy giảm chức năng thận ở giai đoạn sớm sau mổ mang tính chất tạm thời, chức năng thận sẽ hồi phục và cải thiện bền vững sau khi bế tắc được giải phóng hoàn toàn.

2. Đóng góp về mặt thực tiễn lâm sàng

  • Khẳng định tính an toàn và hiệu quả cao của quy trình chọc dò qua nhú đài thận dưới hướng dẫn của C-arm, giúp hạn chế tối đa tổn thương các mạch máu phân thùy thận.
  • Ứng dụng thành công kỹ thuật xạ hình thận $Tc99m\text{-DTPA}$ vào thực hành lâm sàng để theo dõi, định lượng chính xác sự thay đổi mức lọc cầu thận (GFR) riêng biệt của thận can thiệp ở các mốc thời gian hậu phẫu ngắn hạn và trung hạn.
  • Đưa ra các khuyến cáo thực hành: Kiểm soát chặt chẽ thời gian mổ và áp lực dịch rửa để phòng ngừa hạ natri máu; điều trị triệt để nhiễm khuẩn niệu trước mổ nhằm giảm thiểu nguy cơ nhiễm khuẩn huyết sau can thiệp; áp dụng an toàn kỹ thuật LSTQD trên nhóm bệnh nhân có thận đơn độc chức năng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án được tiến hành tại một trung tâm phẫu thuật chuyên khoa (Bệnh viện Trung ương Quân đội 108); cỡ mẫu nhóm bệnh nhân thận đơn độc chức năng còn ở mức độ vừa phải; thời gian theo dõi chức năng thận bằng xạ hình dừng lại ở mốc $\ge 3$ tháng, chưa đánh giá được biến đổi dài hạn sau nhiều năm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn trên các phân nhóm sỏi san hô phức tạp.
    • Kéo dài thời gian theo dõi chức năng thận bằng xạ hình từ 1 năm đến 5 năm sau phẫu thuật.
    • Nghiên cứu kết hợp các kỹ thuật ít xâm lấn cải tiến như lấy sỏi thận qua da đường hầm nhỏ (mini-PCNL, micro-PCNL) phối hợp với nội soi ngược dòng ống mềm (ECIRS) trong điều trị sỏi kích thước lớn và sỏi nhiều vị trí.

Giá trị tham khảo

  • Đối với phẫu thuật viên Tiết niệu: Là tài liệu tham khảo thực hành giá trị về kỹ thuật tạo đường hầm vào thận qua nhú đài, kiểm soát biến chứng chảy máu, xử trí rách đài bể thận và phòng ngừa hội chứng hấp thu dịch rửa nội soi.
  • Đối với bác sĩ Y học hạt nhân và Thận học: Cung cấp quy trình ứng dụng xạ hình thận $Tc99m\text{-DTPA}$ trong đánh giá biến thiên chức năng cầu thận trước và sau các can thiệp ngoại khoa can thiệp nhu mô thận.
  • Đối với nghiên cứu sinh và học viên sau đại học: Cung cấp khung phương pháp luận chuẩn mực về thiết kế nghiên cứu lâm sàng kết hợp chẩn đoán hình ảnh, y học hạt nhân và phân loại biến chứng theo thang Clavien-Dindo.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao chọc dò qua nhú đài thận lại được xem là đường vào an toàn nhất trong lấy sỏi thận qua da?

Theo các nghiên cứu giải phẫu và thực nghiệm của Smith A. và cộng sự (2012), các nhánh động mạch phân thùy thận đi song song với cổ đài và chia nhánh quanh tháp thận Malpighi. Khi chọc dò trực tiếp qua nhú đài thận đi vào đài thận, kim chọc chỉ đi qua diện vô mạch ngoại vi và các nhánh tĩnh mạch nhỏ (tỷ lệ tổn thương tĩnh mạch chỉ từ 7,1% - 8,3%), hoàn toàn không làm tổn thương các nhánh động mạch phân thùy lớn như khi chọc vào cổ đài (tổn thương động mạch từ 13,6% - 26,5%) hoặc chọc trực tiếp vào bể thận (tổn thương động mạch 16,1%).

2. Dược chất phóng xạ nào được sử dụng trong luận án để đánh giá chức năng thận và nguyên lý hoạt động là gì?

Luận án sử dụng dược chất phóng xạ $Tc99m\text{-DTPA}$ (Technetium-99m diethylene triamine pentaacetic acid). Dược chất này liên kết chelate, gắn rất ít với protein huyết tương, được lọc hoàn toàn qua cầu thận và không bị tái hấp thu hay bài tiết ở ống thận (tương tự như Inulin). Do đó, $Tc99m\text{-DTPA}$ là chất lý tưởng trong xạ hình động học thận để đo lường chính xác mức lọc cầu thận (GFR), đánh giá tưới máu thận (RP) và chức năng bài xuất riêng rẽ của từng bên thận.

3. Thang điểm Guy's Stone Score (GSS) phân loại độ phức tạp của sỏi dựa trên những tiêu chí nào?

Thang điểm GSS do Thomas K. và cộng sự (2011) đề xuất, chia độ phức tạp của sỏi thành 4 nhóm:

  • GSS I: Một viên sỏi ở đài dưới, đài giữa hoặc bể thận với giải phẫu hệ tiết niệu bình thường.
  • GSS II: Một viên sỏi đài trên; hoặc nhiều viên sỏi trên giải phẫu bình thường; hoặc một viên sỏi trên giải phẫu thận bất thường.
  • GSS III: Nhiều viên sỏi trên giải phẫu thận bất thường; sỏi túi thừa đài thận; hoặc sỏi bán san hô.
  • GSS IV: Sỏi san hô toàn bộ; hoặc sỏi trên bệnh nhân có dị tật nứt đốt sống/tổn thương tủy sống.

4. Những yếu tố nào liên quan chặt chẽ nhất đến nguy cơ sốt và nhiễm khuẩn sau mổ lấy sỏi thận qua da?

Dựa trên phân tích tổng quan và các biến số nghiên cứu, các yếu tố nguy cơ chính gây sốt và hội chứng đáp ứng viêm hệ thống (SIRS) sau mổ bao gồm: sự hiện diện của vi khuẩn niệu và xét nghiệm Nitrit niệu dương tính trước mổ, thời gian phẫu thuật kéo dài, áp lực dịch rửa trong bể thận cao làm tăng sự trào ngược vi khuẩn và độc tố vào tuần hoàn máu, cùng với tiền sử dị dạng đường tiết niệu hoặc bàng quang thần kinh.

5. Sự thay đổi nồng độ hemoglobin và natri máu trong mổ phản ánh điều gì trong kỹ thuật LSTQD?

Mức độ giảm hemoglobin máu phản ánh trực tiếp lượng máu mất do tổn thương nhu mô và hệ thống mạch máu thận trong quá trình nong đường hầm và tán sỏi. Mức độ thay đổi nồng độ natri máu phản ánh mức độ hấp thu dịch rửa vào tuần hoàn; khi thời gian mổ kéo dài, áp lực tưới rửa cao hoặc có thủng đài bể thận, dịch rửa đẳng trương sẽ tràn vào khoang sau phúc mạc và tĩnh mạch, làm pha loãng máu và có thể dẫn đến hội chứng nội soi nếu natri máu giảm dưới $125\text{ mmol/l}$.


Kết luận

Luận án tiến sĩ y học của NCS. Lê Đình Nguyên là công trình nghiên cứu lâm sàng chuyên sâu, đánh giá toàn diện hiệu quả và độ an toàn của phương pháp lấy sỏi thận qua da trong điều trị sỏi thận kích thước lớn hơn 2cm tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Nghiên cứu đã làm rõ các yếu tố giải phẫu, kỹ thuật chọc dò qua nhú đài thận, phân loại tai biến biến chứng theo hệ thống Clavien-Dindo và chứng minh tính hiệu quả của phương pháp trong việc giải phóng bế tắc đường niệu. Đặc biệt, thông qua kỹ thuật xạ hình thận $Tc99m\text{-DTPA}$, luận án đã cung cấp bằng chứng định lượng khẳng định sự hồi phục và cải thiện chức năng thận sau mổ, đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho thực hành ngoại khoa tiết niệu tại Việt Nam.