Chương 1 trình bày khái quát về đề tài, bao gồm lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn, cũng như đối tượng, phạm vi nghiên cứu, dữ liệu thu thập và phương pháp thực hiện nghiên cứu. LÝ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI Thị trường chứng khoán Việt Nam chỉ mới phát triển hơn 10 năm, đánh dấu bằng việc đưa vào vận hành Trung tâm Giao dịch Chứng khoán tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 20/7/2000, và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/7/2000. Sau đó, Sở giao dịch Chứng khoán Hà Nội chính thức mở cửa phiên giao dịch đầu tiên ngày 14/7/2005. Khởi đầu chỉ với hai mã cổ phiếu được niêm yết, tới nay (12/2011) trên thị trường đã có tổng cộng hơn 700 mã cổ phiếu được giao dịch trên hai sàn chứng khoán.
Thị trường chứng khoán Việt Nam được xếp vào các thị trường mới nổi và việc nghiên cứu ứng dụng cũng như kiểm định các Lý thuyết đầu tư tài chính vào thị trường là điều hết sức cần thiết. Với đề tài “Nghiên cứu hiệu quả đầu tư giá trị và đầu tư tăng trưởng trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2006-2011” nhằm kiểm định kết luận về một suất sinh lợi cao hơn của các cổ phiếu giá trị so với các cổ phiếu tăng trưởng, phổ biến trên thế giới. Cùng với nghiên cứu dựa trên sự tổng hợp dữ liệu của cả hai sàn chứng khoán là HOSE và HNX, tác giả kỳ vọng các kết quả từ nghiên cứu sẽ góp phần bổ sung kiến thức giúp các nhà đầu tư, các nhà quản lý quỹ đầu tư, các nhà tư vấn tài chính đưa ra các quyết định đầu tư phù hợp. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Nội dung của đề tài nhằm ứng dụng các mô hình đầu tư tài chính hiện đại vào thị trường chứng khoán Việt Nam, các mục tiêu cần đạt được của luận văn gồm: 1.
Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố thị trường, quy mô, giá trị và đà sinh lợi của cổ phiếu lên suất sinh lợi của danh mục. So sánh kết quả giữa các mô hình CAPM, mô hình Fama - French 3 nhân tố và mô hình Carhart (còn gọi là mô hình Fama - French 4 nhân tố). Nhận định hiệu quả đầu tư của các cổ phiếu giá trị so với các cổ phiếu tăng trưởng trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2006-2011, dựa trên ảnh hưởng kết hợp của yếu tố giá trị với các yếu tố khác trong việc giải thích suất sinh lợi của cổ phiếu. Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI Kết quả của nghiên cứu sẽ là cơ sở tham khảo cho các nhà đầu tư chứng khoán, cho các nhà quản lý quỹ đầu tư, cho các nhà tư vấn tài chính tại Việt Nam trong việc lựa chọn cổ phiếu để đầu tư.
Đây cũng sẽ là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tương tự về sau, khi dữ liệu về cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam dài hơn. Kết quả kiểm định một số mô hình như CAPM, Fama - French 3 nhân tố và Carhart (Fama và French 4 nhân tố) cho thị trường chứng khoán Việt Nam sử dụng dữ liệu kết hợp từ hai sàn HOSE và HNX, góp phần thiết thực vào các nghiên cứu thực nghiệm trên các thị trường mới nổi. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Các cổ phiếu thường của các công ty niêm yết trên cả hai sàn chứng khoán: sàn chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và sàn chứng khoán Hà Nội (HNX) loại trừ các công ty tài chính, phục vụ công, giai đoạn 2006-2011. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Tác giả dựa vào một số tiêu chuẩn phân ngành điển hình đang được ứng dụng một cách rộng rãi trên thế giới và ở Việt Nam nhằm loại bỏ các cổ phiếu của các công ty thuộc lĩnh vực tài chính ra khỏi nghiên cứu.
Các phân tích tương quan và phân tích hồi quy tuyến tính được thực hiện nhằm xác định sự liên kết giữa các nhân tố giải thích: thị trường, quy mô, giá trị, đà sinh Trang 3 lợi, cũng như kiểm định các mô hình theo phương thức stepwise đối với từng danh mục. Việc thực hiện thu thập và xử lí các số liệu liên quan với sự hỗ trợ của phần mềm Eview: ¾ Kiểm định các giả thuyết thống kê ¾ Chạy hồi quy mô hình ¾ Tổng hợp kết quả hồi quy mô hình ¾ Minh họa mối quan hệ giữa các biến 1. THU THẬP DỮ LIỆU Dữ liệu thu thập là dữ liệu thứ cấp, là số liệu của 427 công ty niêm yết trên hai sàn HOSE và HNX ít nhất 2 năm, trong giai đoạn 2006-2011: - Chỉ số giá của các công ty niêm yết được đăng tải công khai trên các website công ty chứng khoán - Chỉ số VN-Index và HASTC trên sàn HOSE và HNX - Các số liệu tài chính của các công ty niêm yết được đăng tải công khai Dữ liệu quan sát bao gồm 257 tuần, từ 1/2007 tới 12/2011, bên cạnh đó, dữ liệu của lãi suất Trái phiếu Chính phủ một năm và các lãi suất tham khảo khác cũng được thu thập nhằm tính tóan suất sinh lợi phi rủi ro của thị trường. Trang 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 tóm lược một số lý thuyết và khái niệm cơ bản liên quan đến lý thuyết tài chính hiện đại; giới thiệu các mô hình CAPM, Fama French 3 nhân tố và Carhart, cũng như một số kết quả nghiên cứu trên thế giới về các mô hình.
LÝ THUYẾT THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ 2. TỔNG QUAN Một trong những lý thuyết nền tảng của ngành tài chính đó chính là Lý thuyết thị trường hiệu quả (Efficient Market Hypothesis – EMH), cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán, lý thuyết này lại càng tỏ ra mạnh hơn bất kỳ lý thuyết nào, nó là kim chỉ nam cho nhiều học giả phân tích chứng khoán. Đối với thị trường chứng khoán, tính hiệu quả về mặt thông tin có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của toàn thị trường. THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ VỀ MẶT THÔNG TIN Theo Fama (1970), một thị trường được xem là hiệu quả về mặt thông tin nếu giá cả của loại hàng hóa được giao dịch trên thị trường phản ánh đầy đủ và tức thời tất cả các thông tin sẵn có, liên quan đến loại hàng hóa đó, như thông tin về nền kinh tế vĩ mô, về đối thủ cạnh tranh, về kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Nói cách khác, thị trường hiệu quả là nơi giá cả thị trường phản ánh khách quan giá trị thực của tài sản đầu tư. Vì vậy, các nhà đầu tư sẽ không có cơ hội “kiếm lời” trong các thị trường hiệu quả, hay cơ hội thu được lợi nhuận từ các khoản đầu tư vào các loại cổ phiếu của các nhà đầu tư là như nhau. CÁC DẠNG HIỆU QUẢ CỦA THỊ TRƯỜNG Fama (1970) đã chia các dạng hiệu quả của thị trường thành ba mức (hay ba dạng hiệu quả) là quả dạng yếu, hiệu quả dạng trung bình và hiệu quả dạng mạnh. Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng yếu Theo Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng yếu (weak form), suất sinh lợi của chứng khoán cũng như các thông tin khác trong quá khứ đều không có liên hệ gì với Trang 5 tương lai, hay giá chứng khoán trong hiện tại đã phản ánh đầy đủ mọi thông tin trong quá khứ, do đó, nhà đầu tư không thể “kiếm lời” được từ các thông tin về giá trong quá khứ.
Những phân tích kỹ thuật hay sử dụng giá quá khứ để tìm kiếm những chứng khoán bị định giá thấp sẽ không hiệu quả. Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng trung bình Theo Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng trung bình (semi-strong form), giá chứng khoán sẽ điều chỉnh nhanh chóng trước bất kỳ thông tin công khai nào, thông tin công khai cũng bao gồm tất cả các thông tin phi thị trường như: các thông báo về thu nhập và cổ tức, tỷ lệ P/E (giá/thu nhập), tỷ lệ D/P (cổ tức/giá), tỷ lệ B/P (giá sổ sách/giá thị trường), chia cổ phần, các thông tin về kinh tế cũng như chính trị. Giả thuyết này bao trùm lên giả thuyết hiệu quả dạng yếu, nhà đầu tư sẽ không thu được lợi nhuận cao hơn mức trung bình nếu dựa vào các thông tin công khai đó. Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng mạnh Theo Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng mạnh, giá chứng khoán phản ánh tất cả các thông tin từ công khai đến nội bộ nên nhà đầu tư cũng không thể “kiếm lời” so với những người khác, nghĩa là, không có nhà đầu tư nào có thể độc quyền tiếp cận các thông tin liên quan đến việc định giá, giá chứng khoán thay đổi mạnh theo các thông tin công khai và tất cả thông tin đều miễn phí và sẵn có đối với mọi người ở cùng một thời điểm.
Tuy nhiên, chúng ta không chờ đợi rằng thị trường hiệu quả dạng mạnh lại thể hiện đúng theo định nghĩa, bởi vì đây là một giả thuyết về một hình ảnh gần như phi thực tế, việc mua bán các thông tin nội gián là một biện minh rõ nhất cho điều này. LÝ THUYẾT DANH MỤC MARKOWITZ 2. TỔNG QUAN Harry Markowitz (1952, 1959) được coi là cha đẻ của Lý thuyết danh mục hiện đại (Modern Portfolio Theory – MPT), ông đoạt giải Nobel Kinh tế năm 1990 vì những đóng góp của mình trong lĩnh vực tài chính, cụ thể là Lý thuyết lựa chọn danh mục đầu tư. Lý thuyết này đã được Markowitz trình bày một cách chặt chẽ và hiệu quả, làm nền tảng cho các phát triển sau này trong lĩnh vực tài chính.
Markowitz đã phát hiện ra rằng: việc kết hợp các tài sản rủi ro vào một danh mục có thể làm giảm yếu tố rủi ro xuống mức thấp nhất có thể, tương ứng với lợi nhuận kỳ vọng, hay nói cách khác, rủi ro có thể được giảm bớt thông qua đa dạng hóa danh mục. Lý thuyết nhấn mạnh rủi ro không phụ thuộc vào các chứng khoán riêng lẻ mà là sự tổng hợp rủi ro của cả danh mục. Markowitz giả định suất sinh lợi có phân phối chuẩn và đo lường rủi ro của một danh mục thông qua phương sai (hay độ lệch chuẩn) của suất sinh lợi kỳ vọng danh mục đó. Phương pháp của ông còn gọi là phép phân tích phương sai – trung bình.
Mô hình của ông xoay quanh việc xác định tỉ trọng đầu tư các tài sản trong danh mục nhằm tìm ra danh mục đầu tư hiệu quả, dựa trên một số giả định sau: 1. Mỗi sự lựa chọn đầu tư là một phân phối xác suất của suất sinh lợi kỳ vọng. Các nhà đầu tư luôn tối đa hóa lợi ich kỳ vọng và đường cong hữu dụng của họ thể hiện giá trị hiệu dụng biên giảm dần.