CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỂU BIẾT VỀ SỨC KHOẺ TÂM THẦN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan các nghiên cứu về hiểu biết về SKTT của học sinh THPT 1. Những nghiên cứu nước ngoài Các nghiên cứu về kiến thức về sức khoẻ tâm thần đã bắt đầu xuất hiện và được quan tâm từ rất sớm khi các vấn đề về tâm lý ngày càng gia tăng và dần trở nên nghiêm trọng trong xã hội cùng với sự phát triển của công nghiệp hiện đại.
Trong đó, các nghiên cứu tập trung vào mức độ phổ biến của hiểu biết về sức khỏe tâm thần ở các nhóm nghiên cứu khác nhau, hiểu biết về sức khoẻ tâm thần của học sinh trở thành cơ sở quan trọng nhằm nâng cao chất lượng sức khỏe tâm thần cũng như giúp đỡ những người gặp khó khăn, từ đó trở thành vẫn đề được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đánh giá. Để đo lường mức độ hiểu biết về sức khỏe tâm thần, O'Connor và cộng sự. O'Connor và cộng sự. (2015) đã xác định các thuộc tính trong thang đo như sau: - Khả năng nhận biết các rối loạn cụ thể: khả năng xác định chính xác các đặc điểm của một rối loạn, một rối loạn cụ thể hoặc một loại rối loạn.
- Kiến thức về cách tìm kiếm thông tin sức khỏe tâm thần: kiến thức về nơi tiếp cận thông tin và khả năng thực hiện điều đó. - Kiến thức về yếu tố nguy cơ và nguyên nhân: kiến thức về các yếu tố môi trường, xã hội, gia đình hoặc sinh học làm tăng nguy cơ phát triển bệnh tâm thần. - Kiến thức về tự điều trị: kiến thức về các phương pháp điều trị điển hình được các chuyên gia sức khỏe tâm thần khuyên dùng và các hoạt động mà một cá nhân có thể thực hiện. - Kiến thức về trợ giúp chuyên môn sẵn có: kiến thức của các chuyên gia sức khỏe tâm thần và các dịch vụ họ cung cấp.
- Thái độ thúc đẩy sự công nhận và tìm kiếm sự giúp đỡ phù hợp: thái độ tác động đến việc nhận biết các rối loạn và sẵn sàng tham gia vào hành vi tìm kiếm sự giúp đỡ. [13] Nhóm tác giả Meredith E. Coles, Ariel Ravid, Brandon Gibb, Daniel George-Denn , Laura R. Bronstein, Sue McLeod (2016 ) trong nghiên cứu về kiến thức của vị thành niên đối với sức khoẻ tâm thần, các kiến thức về trầm cảm và rối loạn lo âu được thực hiện trên 11 1.104 học sinh trung học (313 học sinh lớp 9, 271 học sinh lớp 10, 251 học sinh lớp 11 và 268 học sinh lớp 12) cho thấy sự khác biệt theo giới tính trong việc xác định các vấn đề về sức khoẻ tâm thần.
Trong đó, thanh thiếu niên có khả năng xác định tốt hơn trầm cảm ở nam nhiều hơn nữ khi cả hai đều có cùng các triệu chứng giống nhau trong khi nữ giới có xu hướng gặp các vấn đề về sức khoẻ tâm thần nhiều hơn nam giới. Kết quả của nghiên cứu cũng phù hợp với các nghiên cứu trên toàn thế giới cho thấy khoảng một nửa số thanh thiếu niên có thể nhận ra trầm cảm, trong khi đó ít hơn nhiều nhận ra chứng rối loạn lo âu xã hội (<2%). Sự nhận biết thấp về chứng lo âu xã hội này phù hợp với những phát hiện rằng chỉ 28% thanh thiếu niên được lấy mẫu trước đó có thể nhận ra các triệu chứng lo âu xã hội là mối lo ngại về sức khỏe tâm thần. Mức độ công nhận thấp là điều không khuyến khích, vì sự công nhận được cho là quan trọng đối với việc tìm kiếm phương pháp điều trị.
Tuy nhiên, hơn 50% thanh thiếu niên trong nghiên cứu đề nghị giúp đỡ tìm kiếm cả chứng rối loạn lo âu xã hội và trầm cảm [11]. Một cuộc khảo sát dựa trên dân số về kiến thức đối với sức khoẻ tâm thần và tình trạng sức khoẻ tâm thần ở thanh thiếu niên của tác giả Lawrence T Lam (2014) được thực hiện trên 1678 đối tượng đã cho thấy gần 15% (n = 248, 14,8%) số người được hỏi có thể được phân loại là có các triệu chứng trầm cảm từ trung bình đến nặng. Chưa đến một phần tư (n = 392, 23,4%) mẫu có thể nhận ra các triệu chứng được mô tả là trầm cảm. Tuy nhiên, khi được hỏi liệu họ có tìm kiếm sự giúp đỡ nếu gặp phải vấn đề như mô tả hay không, gần 68% (n = 1128) mẫu cho biết họ có ý định tìm kiếm sự giúp đỡ.
Ngoài ra, về trình độ hiểu biết về sức khỏe tâm thần, chỉ có 275 (16,4%) người trả lời có thể được phân loại là phù hợp theo định nghĩa ( tức là xác định đúng và tìm kiếm sự giúp đỡ). Kết quả cho thấy trình độ hiểu biết về sức khỏe tâm thần không đầy đủ có liên quan đáng kể đến mức độ trầm cảm từ trung bình đến nặng. Tỷ lệ nhận dạng chính xác thấp trầm cảm có thể liên quan đến thực tế là những người trả lời trẻ hơn và có thể có ít trải nghiệm cá nhân hơn về tâm trạng trầm cảm. Nó cũng có thể liên quan đến khả năng thiếu giáo dục sức khỏe tâm thần tại nơi mà nghiên cứu khảo sát.
Khi nhiều người khác nhau được đánh giá là có thể hữu ích hoặc có hại cho người được mô tả trong minh họa về bệnh trầm cảm, bác sĩ đa khoa (83%) và cố vấn (74%) thường được đánh giá là hữu ích nhất, với bác sĩ tâm thần (51%) và nhà tâm lý học ( 49%) ít hơn. Dữ liệu tương ứng về tình hình bệnh tâm thần phân liệt là: cố vấn (81%), bác sĩ đa khoa (74%), bác sĩ tâm thần (71%) và nhà tâm lý học (62%). Nhiều phương pháp điều trị tâm thần tiêu chuẩn (thuốc chống trầm cảm, thuốc chống loạn thần, liệu pháp điện giật, nhập viện tâm thần) thường được đánh giá là có hại hơn là hữu ích, và một số phương pháp điều trị không chuẩn được đánh giá cao (tăng cường hoạt động thể chất hoặc xã hội, thư giãn và kiểm soát căng thẳng, đọc về những người mắc chứng rối loạn tâm thần). vấn đề tương tự).
Vitamin và chế độ ăn uống đặc biệt thường được đánh giá là hữu ích hơn thuốc chống trầm cảm và thuốc chống loạn thần. Kết quả này khẳng định nếu rối loạn tâm thần được phát hiện sớm trong cộng đồng và tìm kiếm biện pháp can thiệp phù hợp thì cần phải nâng cao trình độ hiểu biết về sức khỏe tâm thần. [8] Nhóm tác giả Nicola J. Jorm (2012) trong một nghiên cứu kiến thức về sức khoẻ tâm thần ở sinh viên trên các nhân viên và sinh viên của Đại học Victoria (VU) ở vùng đô thị Mel-bourne đã cho thấy hơn 70% sinh viên và nhân viên có thể nhận ra trầm cảm qua một hình ảnh minh họa.
Trong số các sinh viên, khả năng được công nhận cao hơn có liên quan đến độ tuổi lớn hơn, giới tính nữ, sinh ra ở Úc và trình độ học vấn cao hơn. Các yếu tố liên quan đến thái độ kỳ thị bao gồm giới tính nam, tuổi trẻ hơn, trình độ học vấn thấp hơn, sinh ra bên ngoài nước Úc và thiếu hiểu biết về bệnh trầm cảm. Tuy nhiên, tỷ lệ ý định tìm kiếm trợ giúp cụ thể dành cho sinh viên tương đối thấp, chỉ có 26% sinh viên báo cáo ý định tìm kiếm sự giúp đỡ từ một bác sĩ đa khoa và chỉ 10% nói rằng họ sẽ tìm kiếm sự giúp đỡ từ cố vấn. Kết quả của nghiên cứu này phù hợp với những nghiên cứu khác đã đánh giá trình độ hiểu biết về sức khỏe tâm thần của thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 12 đến 25,23–25.
Những nghiên cứu này có xu hướng chỉ ra rằng việc thiếu kiến thức là phổ biến, mặc dù có một số bằng chứng cho thấy việc nhận biết trầm cảm là phổ biến. Kết quả của nghiên cứu cho thấy sự cần thiết của các biện pháp can thiệp nâng cao kiến thức về sức khỏe tâm thần nhằm vào các nhóm này và những biện 13 pháp can thiệp như vậy cần giải quyết sự kỳ thị, thay vì chỉ đơn thuần là giáo dục về các triệu chứng trầm cảm [12]. Nghiên cứu “ Kiến thức về sức khỏe tâm thần, hành vi tìm kiếm trợ giúp và sức khỏe ở thanh thiếu niên: Ý nghĩa thực tiễn” được thực hiện bởi các tác giả Prishini Ratnayake, Chelsea Hyde (2019) đã chỉ ra rằng những cá nhân có trình độ hiểu biết về sức khỏe tâm thần cao tham gia tìm kiếm trợ giúp về các vấn đề sức khỏe tâm thần nhiều hơn so với những người có trình độ hiểu biết về sức khỏe tâm thần thấp. Nghiên cứu sơ bộ đã xác định được sự khác biệt về giới trong việc tìm kiếm sự giúp đỡ và xác định các vấn đề sức khỏe tâm thần.
Nghiên cứu cũng phát hiện mối tương quan tích cực giữa sức khỏe và việc tìm kiếm sự giúp đỡ nói chung, cũng như sức khỏe và tìm kiếm sự giúp đỡ cho ý tưởng tự tử. Cụ thể, có mối tương quan tích cực ở mức độ vừa phải giữa mức độ phúc lợi tổng thể và tìm kiếm trợ giúp nói chung, r(30) = 0,419, p < 0,05 với mức độ phúc lợi tổng thể cao gắn liền với ý định tìm kiếm trợ giúp nhiều hơn nói chung. Một mối tương quan tích cực, đáng kể cũng được tìm thấy giữa tình trạng sức khỏe tổng thể và việc tìm kiếm sự giúp đỡ khi có ý tưởng tự tử r(30) = 0,460, p < 0,001, với mức độ hạnh phúc tổng thể cao gắn liền với ý định tìm kiếm sự giúp đỡ nhiều hơn khi có ý định tự tử. Sự khác biệt về giới đã được xác định trong các khía cạnh hiểu biết về sức khỏe tâm thần và ý định tìm kiếm trợ giúp.
Do đó, điều quan trọng là phải đảm bảo rằng thanh thiếu niên có thể xác định được các dấu hiệu đau khổ về tâm lý và xác định những hỗ trợ cũng như nguồn lực phù hợp khi cần thiết [14]. Trong một nghiên cứu nhằm tìm hiểu các công trình của Úc về bệnh tâm thần cũng như cách phòng ngừa và can thiệp bệnh này ở các trường trung học của các tác giả Kelly A. Allen và Vicki L. McKenzie (2015) đã phát hiện ra rằng vấn đề sức khỏe tâm thần càng nghiêm trọng (và các triệu chứng liên quan) thì thanh thiếu niên càng ít có khả năng tìm kiếm sự giúp đỡ.