ĐẶT VẤN ĐỀ Chè shan đƣợc coi là cây trồng bản địa của Việt Nam. Từ nghiên cứu thành phần catechin của nguyên liệu chè shan cây cao cổ thụ ( lấy tại Suối Giàng – Yên Bái), tác giả Djemurkhatze đã khẳng định Việt Nam cũng là một trong những cái nôi phát sinh ra cây chè (1976). Cây chè shan cây cao cổ thụ chủ yếu đƣợc tìm thấy ở vùng núi cao phía bắc, gắn bó mật thiết với đời sống của ngƣời dân đồng bào các dân tộc vùng cao. Trong quá trình du canh du cƣ, đồng bào đã phá bỏ rừng để trồng cây lƣơng thực., một số nơi có tập quán giữ lại cây chè shan, tiếp tục khai thác, cao hơn nữa còn biết trồng bổ sung (bằng hạt) tạo nên những nƣơng chè shan hỗn giao theo dạng chè rừng.
Chè shan cây cao cổ thụ vùng cao là thứ chè có tiềm năng năng suất cao; với tập quán canh tác không sử dụng phân vô cơ và thuốc hóa học, sản phẩm chế biến từ nguyên liệu chè shan núi cao là chè sản phẩm hữu cơ có giá trị lớn. Xã Sính Phình là nơi tập trung ít cây chè shan cây cao cổ thụ nhất huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên. Theo kết quả điều tra: Tổng số cây chè shan ƣớc khoảng hơn 1. Nguyên liệu từ chè shan Sính Phình chế biến chè xanh, chè vàng đều cho chất lƣợng khá.
Cùng với cây lúa, ngô, thảo quả, cây chè cũng là cây trồng cho thu nhập chính của ngƣời dân địa phƣơng. Tuy nhiên, khai thác thế nào là bền vững và quảng bá ra thị trƣờng vẫn đang là vấn đề. Để góp phần giải quyết vấn đề trên tôi tiến hành triển khai đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng quần thể Chè Tuyết San cổ thụ tại xã Sính Phình – Huyện Tủa Chùa – Tỉnh Điện Biên”. 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tình hình trên Thế giới Theo Cohen Stuart, C. Tại Trung Quốc, loại chè Tuyết Shan có nguồn gốc từ dân tộc Shan, với búp to màu trắng xám, dƣới lá chè có phủ một lớp lông tơ mịn, trắng nên chè Tuyết Shan đã xuất hiện. Chè Shan có đặc điểm là thân gỗ, phân cành thƣa, trong điều kiện tƣ nhiên có thể cao từ 6 – 10m, lá to dài, có nhiều răng cƣa sâu đều, đầu lá nhọn, búp to, có nhiều lông tơ trắng mịn, trông nhƣ tuyết cho nên chè Shan còn đƣợc gọi là chè “Tuyết”. Chè Shan có thể cho năng suất cao, chất lƣợng tốt, thích hợp cho cả chế biến chè xanh và đen.
Chè Shan ít hoa, quả hơn chè Trung Quốc lá to, phân bố ở địa hình núi cao, ẩm, mát. Theo tác giả Ngô Phúc Liên, ngƣời Trung Quốc (2007) đã miêu tả chè Shan (Camellia sinensis var. shan) có đặc điểm hoa to trung bình, số cánh hoa 5 – 7, cánh hoa không xếp lên nhau, cánh hoa mỏng, hoa màu trắng phớt xanh, đài hoa không lông, bầu nhụy có lông, đầu nhụy chia 3, thân gỗ nhỏ hoặc thân gỗ, cành chè non có lông hoặc rất nhiều lông, búp tôm nhiều lông, kích thƣớc lá chè to hoặc trung bình, vỏ quả dày 1 – 3 mm. Theo số liệu thống kê của tổ chức nông lƣơng thế giới (FAO) năm 2007 sản lƣợng chè thế giới đạt 3.
Các nƣớc có sản lƣợng chè lớn hơn Việt Nam: đứng đầu là Trung Quốc 1.000 tấn chiếm 29,4% sản lƣợng chè thế giới, tiếp đến là Ấn Độ 944.678 tấn chiếm 25,4%, Keenia 369.613 tấn và Việt Nam 156. Xu hƣớng toàn cầu của ngành chè trong 10 năm gần đây cho thấy sản lƣợng chè tăng 22,7% (sản lƣợng chè năm 1998 là 3. 2 Trung Quốc có vùng chè thiên nhiên nổi tiếng Dịch Vũ, thuộc huyện Mãnh Lạp, châu Xíp Xong Bản Na, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc là một trong những vùng chè có lợi thế về vị trí địa lý, địa hình, đất đai. Nơi đây có khí hậu đặc trƣng Nam á nhiệt đới, nhiệt độ bình quân năm 19 – 20oC, tổng lƣợng mƣa hàng năm từ 1700 – 2100 mm, số giờ nắng trong ngày thấp, nhiều ngày mây mù, sau buổi trƣa mây mù tan, khí hậu quanh năm mát mẻ, bốn mùa cây cỏ tƣơi tốt.
Đó là điều kiện lý tƣởng để chuyển hóa các hợp chất thơm tạo cho búp chè có chất lƣợng cao, đặc biệt thích hợp với giống chè lá to Vân Nam. Tại Nhật Bản chè hữu cơ đƣợc trồng ở các vùng núi cao Kanaguwa, Shiga, Migazaki, Shizuoka đạt kết quả tốt. Chính phủ Nhật Bản đầu tƣ một lƣợng kinh phí lớn khai thác sản phẩm chè tự nhiên. Tại Ấn Độ, công ty Bombay Burmah đã nghiên cứu sản xuất chè hữu cơ từ năm 1988 tại đồn điền Oothu có rừng bao quanh, trong quá trình canh tác không dùng bất cứ loại phân hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc kích thích, thuốc trừ cỏ nào.
Biện pháp canh tác để có năng suất cao là dùng phân ủ khô dầu để bón cho chè. Các nƣớc đầu tƣ nhiều trong lĩnh vực nghiên cứu đổi mới công nghệ và thiết bị chế biến các sản phẩm chè và có nhiều thành tựu trong việc ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất chè xanh đạt hiệu quả kinh tế cao là một số nƣớc thuộc Liên Xô cũ, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan. Liên Xô cũ: Đối với sản xuất chè xanh, từ nửa đầu thế kỷ XX, Liên Xô đã áp dụng phƣơng pháp diệt men bằng hấp hơi nƣớc, cho phép sản xuất liên tục trên quy mô lớn. Ấn Độ: Là nƣớc đã nghiên cứu sản xuất ra sản phẩm chè hữu cơ đƣợc sự đánh giá cao của ngƣời tiêu dùng trên thế giới.
Chè xanh ở Ấn Độ đƣợc sản xuất chủ yếu theo phƣơng pháp hấp diệt men bằng hơi nƣớc. Trung Quốc: Là nƣớc có truyền thống lâu đời nhất về trồng và chế biến chè và là nƣớc đi đầu trong lĩnh vực gia công chế biến tạo ra nhiều loại sản phẩm chè đặc sản. 3 Nhật Bản: Sản phẩm đƣợc sản xuất chủ yếu ở Nhật là chè xanh. Nhật là nƣớc đi đầu trong lĩnh vực cơ giới hóa, tự động hóa và tiêu chuẩn hóa công nghệ chế biến.
Dây chuyền thiết bị chế biến đƣợc ứng dụng điều khiển tự động vào quy trình công nghệ. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Cây Chè Tuyết Shan là cây thân gỗ, phân cành thƣa, trong điều kiện tự nhiên có thể cao từ 6 – 10 mét, lá to, dài, có nhiều răng cƣa sâu đều, đầu lá nhọn, búp to, có nhiều lông tơ trắng mịn, trông nhƣ tuyết. Năm 2012, khi nghiên cứu bảo tồn và phát triển cây chè Shan núi cao tại xã Mồ Sì San, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, TS Đặng Văn Thƣ cho biết Chè Shan đƣợc coi là cây trồng bản địa của Việt Nam, từ nghiên cứu thành phần catechin của nguyên liệu Chè Shan cổ thụ (lấy tại Suối Giàng – Yên Bái), tác giả Djemurkhatze đã khẳng định Việt Nam cũng là một trong những cái nôi phát sinh ra cây chè (1976). Xã Mồ Sì San là nơi tập trung nhiều cây chè cổ thụ nhất huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
Tổng số cây Chè Shan cổ thụ của Mồ Sì San khoảng 3. Nguyên liệu từ chè Shan Mồ Sì San chế biến chè xanh, chè vàng đều cho chất lƣợng khá. Chè Shan cổ thụ chủ yếu đƣợc tìm thấy ở vùng núi cao phía Bắc, gắn bó mật thiết với đời sống của ngƣời dân đồng bào các dân tộc vùng cao. Chè Shan cổ thụ cùng cao là thứ chè có tiềm năng năng suất cao, với tập quán canh tác không sử dụng phân vô cơ và thuốc hóa học, sản phẩm chế biến từ nguyên liệu Chè Shan núi cao là chè sản phẩm hữu cơ có giá trị lớn.
Năm 1970, khi nghiên cứu sinh hóa, Viện Sĩ Thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (cũ) Djemukhatze K.M đã cho rằng Chè Shan có quê hƣơng là vùng núi cao Việt Nam. Cây Chè Shan phát hiện đƣợc ở Việt Nam từ năm 1918 – 1930 tại Lào Cai, Hà Giang ở độ cao 900 - 1700 mét, chúng có họ hàng gần với chè Assam. 4 Ông Hideo onishi, chuyên gia kỹ thuật làm chè Nhật Bản từng dày công nghiên cứu cây chè Việt Nam qua các vùng Yên Bái, Hà Giang, vùng cao nguyên Mộc Châu cho biết: “phần còn lại của đời tôi, tôi sẽ dành cho cây chè Việt Nam. Tôi sẽ tiếp thị chè Việt Nam tại Nhật Bản”.
Nằm ở vùng núi cao hơn 1000 mét và chỉ có ở một số nơi thuộc các tỉnh Yên Bái, Hà Giang, Chè Shan Tuyết là thứ chè quý hiếm, nhiều ngƣời chƣa từng đƣợc nếm thử. Ngƣời dân nơi đây đang cố gắng đƣa hƣơng vị độc đáo của thứ chè này cho những ngƣời sành chè khắp nơi thƣởng thức, chè cổ thụ trăm năm tuổi. ở miền bắc, chè (trà) ở vùng Đại Từ, Tân Cƣơng ( Tỉnh Thái Nguyên) rất nổi tiếng. Loại chè này đƣợc bà cụ Từ ở phố Hàng Bồ, bà cụ Nghĩa ở Ngõ Gạch (Hà Nội) ƣớp sen sao tẩm qua 4 lửa, khách muốn mua với giá 1,2 – 1,5 triệu đồng/kg cũng phải chờ.
Thế giới đã có loại chè bán với giá 1.000 USD/kg ở Nhật. Gần đây ở Hà Nội xuất hiện chè Shan Tuyết bên Chè Tuyết Shan cổ thụ với giá chỉ từ 500. Có một cuốn Trà Điển viết vào năm 760 trong đó có nói rằng 2.700 năm trƣớc công nguyên, ở Trung Quốc đã tìm ra cây chè làm thuốc giải độc cứu ngƣời, nhƣng ông Onishi lại tin rằng cây chè ấy có ở vùng Suối Giàng (Việt Nam) từ trƣớc đó mới lan sang Trung Quốc. Chè cổ thụ Shan Tuyết một loại Chè từ trên đỉnh núi đƣợc ngựa thồ về bản là đƣợc đƣợc đƣa ngay vào sao tâm.
Bà con ngƣời Mông ở hợp tác xã Sa Lì vẫn sao tâm chè hoàn toàn bằng phƣơng pháp thủ công. Những cánh chè Shan Tuyết to và cong nhƣ lƣỡi câu, bên ngoài phủ một lớp tuyết trắng đục, óng ánh tự nó đã thơm ngan ngát. Ngay từ những năm 60 tại Xã Suối giàng , huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái ,con số thống kê có tới gần 40.000 cây chè Shan Tuyết cổ thụ có từ 200 tuổi đến 300 tuổi, còn nhƣng cây hàng trăm tuổi thì không kể xiết.M Djemmukhatze thuộc viện sinh hóa A. Ba Cu, Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, khi đến Tủa Chùa nghiên cứu vào những năm 60 của thế kỷ 20 này phải thốt lên: “ tôi đã đi qua 120 nƣớc có chè trên thế giới, nhƣng chƣa thấy ở đâu có cây chè lâu năm nhƣ ở Tủa Chùa, phải chăng đây là cội 5 nguồn của cây chè? Chè ở đây độc đáo, trong bát nƣớc chè xanh có đủ 18 vị đầu đắng của chè trên thế giới” ( lời ghi trong sổ lƣu niệm của Tủa Chùa).