ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là yếu tố quan trọng nhất của sinh quyển, có ý nghĩa vô cùng lớn trong sự phát triển kinh tế xã hội, sinh thái và môi trƣờng. Việc hình thành các kiểu rừng có liên quan chặt chẽ giữa sự hình thành các thảm thực vật tự nhiên với vùng địa lý và điều kiện khí hậu. Nƣớc CHDCND Lào là một nƣớc có địa hình phức tạp, nằm trong vành đai nóng, giàu nhiệt và ẩm, chịu ảnh hƣởng mạnh mẽ của chế độ gió mùa. Đặc điểm này đã ảnh hƣởng đến tất cả các thành phần của tự nhiên nhất là lớp thực bì.
Vì vậy, tài nguyên thực vật rừng của Lào rất giàu về số lƣợng và phong phú về chủng loại. Tài nguyên rừng ở Lào đƣợc đánh giá là rất dồi dào. Ngoài các lâm sản là các loại thực vật thân gỗ vẫn luôn nhận đƣợc nhiều sự quan tâm nhất, thì các loài lâm sản ngoài có giá trị cao hiện cũng rất đƣợc con ngƣời chú ý. LSNG là các nguyên liệu thô có nguồn gốc từ sinh vật không phải là gỗ, đƣợc thu hoạch từ rừng cho mục đích của con ngƣời.
Chúng có thể bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa béo, nhựa mủ, ta nanh, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động vật sống hoặc sản phẩm của chúng). Tài nguyên rừng và LSNG đóng vai trò rất quan trọng đối với đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của ngƣời dân, đặc biệt đối với các cộng đồng dân tộc ở vùng sâu vùng xa. LSNG có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trƣờng, bảo vệ rừng và mang lại nguồn thu nhập, công ăn việc làm cho hàng triệu ngƣời ở vùng nông thôn và miền núi. Trong đó chiếm 80% của ngƣời dân sống gắn với tự nhiên (thống kê quốc gia 1995) và vận dụng trực tiếp lợi ích của TNTN nhƣ LSNG chẳng hạn.
Ƣơi thuộc họ trôm STERCULIACEAE, là cây gỗ lớn phân bố nhiều ở miền Nam Lào đặc biệt là tỉnh Chăm pa sak, Ƣơi ở huyện Atsaphon bộ phận sử dụng là hạt. Ƣơi là loại Lâm sản có giá trị kinh tế cao và là nguồn thu nhập quan trọng của ngƣời dân một số khu vực ở nƣớc Lào, Indonesia, Malaysia,Thái Lan. Lào là một trong những quốc gia xuất khẩu lớn, năm cao nhất (2001), sản lƣợng xuất khẩu đạt tới 1. 1 Tuy nhiên, việc sử dụng rừng tại nƣớc ta chủ yếu dựa vào khai thác tự nhiên có sẵn, ít quan tâm đến bảo tồn và phát triển LSNG.
Điều này dẫn đến nguồn tài nguyên rừng ở khu vực ngày càng cạn kiệt, tất yếu sẽ làm suy giảm tính đa dạng sinh học của rừng và ảnh hƣởng tiêu cực đến cuộc sống của ngƣời dân sống dựa vào rừng. Vì Ƣơi là cây có giá trị kinh tế cao, nhiều năm trở lại đây, do sự khai thác quả bằng chặt phá và diễn ra quá mức đã dẫn đến tình trạng các quần thể Ƣơi tự nhiên bị suy thoái nghiêm trọng cả về số lƣợng, diện tích và chất lƣợng. Hàng trăm quần thể cây Ƣơi với hàng nghìn cá thể đã và đang bị chặt phá để khai thác (khai thác triệt), điều này làm cho loài cây Ƣơi đang đứng trƣớc nguy cơ bị đe dọa và đã đƣợc ghi tên trong sách đỏ (sách đỏ Lào; sách đỏ Việt Nam, 2007; Huy và cs, 2010b, 2012). Do vậy, cần có biện pháp cấm chặt cây khi thu hạt và nghiên cứu biện pháp thu hái bền vững.
Với mục đích thực hiện điều tra phân bố, đặc điểm cấu trúc, tình hình thu hái và tiêu thụ cây Ƣơi để hỗ trợ huyện Atsaphon thực hiện điều đó tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng phân bố, khai thác và tiêu thụ cây Ƣơi (Scaphium macropodum (Miq. tại huyện Atsaphon, tỉnh savannakhet, nƣớc CHDCND Lào” 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Đặc điểm sinh thái của Ƣơi Trong sách “ Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam ”, 2007 DALSV6 pha 2 đã nêu rõ: Tên: Ƣơi Tên khoa học: Scaphium macropodum (Miq. Tên khác: Ƣơi bay, lƣời ƣơi, thạch, bạng đại hải, hƣơng đào, lù noi, sam rang, som vang, dƣời ƣơi, đại đông quả, an nam tử, mak chong (Lào). Thuộc chi: Ƣơi - Scaphium Họ: Trôm – Sterculiaceae - Phân bố: Trong nƣớc: Savannakhet (còn ít), Champasak, Sekong, Attapue, Salavan.
Thế giới: Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia; nhập trồng ở Xishuangbana, Jinghong tỉnh Vân Nam, Trung Quốc (1970). - Công dụng: Thạch Ƣơi loại nƣớc giải khát mát bổ, có khả năng sinh tân dịch, thanh phế nhiệt, thanh trƣờng thông tiện, có tác dụng chữa các chứng ho khan, đau họng, nhức răng, đau mắt đỏ, lao thƣơng thổ huyết, đại tiện ra máu, mụn nhọt do nhiệt.Tình hình nghiên cứu trên thế giới.1 Bản đồ chỉ khu vực phân bố Ƣơi trên thế giới 3 Ƣơi (Scaphium macropodum (Miq. Heyne) thuộc họ Trôm (Sterculiaceae), còn đƣợc gọi là malva nut (tiếng Anh) hoặc Kembang semangkuk jantung (tiếng Malay), là một cây thƣờng gặp trong rừng mƣa nhiệt đới ở khu vực Đông Nam Á (Kochummen, 1972). Theo Yamada và Suzuki (1997), hình thái lá và tán cây thay đổi tùy thuộc vào kích thƣớc cây, và có liên quan đến sự tăng trƣởng và sự sống của cây trồng.
Cây Ƣơi chỉ bắt đầu phát triển cành bên tự nhiên khi tăng đƣờng kính thân đạt đƣợc hàng chục cm trở lên và phát triển tăng đƣờng kính tán chủ yếu bằng tăng kích thƣớc và số lƣợng lá trong tán. Khoảng cách phân tán của quả hiếm khi vƣợt quá 50m so với gốc cây mẹ. Hạt Ƣơi chứa một số lƣợng lớn chất gelatin có thể đƣợc sử dụng để điều trị nhiễm trùng đƣờng ruột, tiêu chảy, đau họng, hen suyễn, kiết lỵ, sốt, ho, viêm và bệnh tiểu đƣờng (Lim, 2012). Ở Trung Quốc, hạt Ƣơi cũng đƣợc sử dụng nhƣ một loại thuốc truyền thống để ngăn ngừa viêm họng, điều trị chúng ho gà và táo bón.
Hạt Ƣơi cũng có đặc tính làm mát (Lamxay, 2001). Ƣơi là một lâm sản có giá trị kinh tế cao và là nguồn thu nhập quan trọng của ngƣời dân một số khu vực ở nƣớc Lào, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Trung bình một cây trƣởng thành cho năng suất 40 kg hạt khô/ năm. Lào là một trong những quốc gia xuất khẩu lớn.
Năm 2004, Thái Lan đã nhập khẩu một lƣợng lớn các chất đƣợc chiết suất từ hạt Ƣơi; Malaysia ƣớc tính gần 10 triệu USD (Thai customs Department, 2004). Ngoài việc tiêu thụ nội địa ở các nƣớc có sản phẩm, hạt Ƣơi chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc, một phần sang Pháp, Đài Loan. Nhu cầu thị trƣờng hạt Ƣơi tƣơng đối lớn và ổn định, nhƣng nguồn cung cấp không lớn và dao động theo chu kỳ sai quả. Nghiên cứu về đặc điểm phân bố: Theo Kochummen (1972), Ƣơi có phân bố tự nhiên tại các rừng mƣa nhiệt đới ở Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Malaysia, Indonesia, Brunei và Việt Nam; nhập trồng ở Xishuangbana, Jinghong tỉnh Vân Nam, Trung Quốc vào năm 1970.
Ƣơi xuất hiện trong những khu rừng thƣờng xanh, chủ yếu là đất đá, 4 cạn, thƣờng là trên những sƣờn đồi, nơi có thể tập trung với mật độ cao. Tuy nhiên, rất ít trƣờng hợp Ƣơi xuất hiện rừng thuần loài trong tự nhiên. Cây Ƣơi là cây khá ƣa sáng và sinh trƣởng khá nhanh, thƣờng tái sinh xuất hiện nhƣ cây “tiên phong” trên các khoảng “trống” trong các rừng tự nhiên ở khu phân bố. Ƣơi phân bố ở khu vực có độ cao 300 – 500m, nhiệt độ trung bình 20-26˚ C, lƣợng mƣa 1000 - 2000mm.
Tuy nhiên Ƣơi có thể phát triển trên những sƣờn đồi, răng núi, rừng đầm lầy và rừng tiểu vùng có độ cao lên đến 1200m. Ƣơi thích hợp với 2 loại đất ở vùng núi lá đất đỏ vàng và đất đỏ. Ƣơi cũng ƣa đất tốt, có độ ẩm cao và hàm lƣợng mùn cao. Ƣơi có thể thích nghi với các loại đất chua và nghèo canxi.
Hiện nay, trên thế giới các công trình nghiên cứu đã công bố về tính đa dạng di truyền cây Ƣơi còn rất hạn chế. Do đó, đây là một khoảng trống cần thiết thực hiện các nghiên cứu để lựa chọn đƣợc những cây ƣu trội thực sự về kiểu gen và xác định mối quan hệ giữa các cây trội về mặt di truyền nhân tố nhằm hạn chế sự thoái hóa giống do giao phấn. Việt Nam - Phân bố rải rác trong các rừng ẩm nhiệt đới thƣờng xanh trên độ cao không quá 1000m, nơi đất đày, màu mỡ và ẩm. Phân bố tại các tỉnh: Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Thuận, Khánh Hòa, Tây Ninh, Đồng Nai, Kon Tum, Gia Lai, Đak Nông, Lâm Đồng, Kiên Giang (Tên cây rừng Việt Nam, 2009).
Những vùng Biên Hòa, Bà Rịa, Bình Định, Bình Thuận, Phú Yên, Quảng Trị (cũng có một ít). - Hạt Ƣơi đƣợc cho là chế biến thành nƣớc giải khát, giải nhiệt cơ thể, có giá trị và công dụng tốt, với giá bán 250. - Để khai thác hạt Ƣơi, ngƣời dân bất chấp tất cả chặt bỏ cả cây Ƣơi hàng chục năm tuổi. - Hạt Ƣơi non đƣợc thƣơng lái thu mua phơi đầy rẫy ngoài đƣờng.
- Hạt Ƣơi trên thị trƣờng nội địa đƣợc bán với giá 30. 5 Thái Lan - Chỉ phân bố ở miền Nam (Trat, Chanthabuli, Rayong). - Ƣơi là một cây thuốc rất hiếm trong ngoài tự nhiên, cây gỗ lớn nên làm cho việc thu hái rất vất vả. Vì vậy, Ngƣời dân hay chặt cây để thu hạt dẫn đến Ƣơi tự nhiên ngày càng giảm.
- Giá bán là 700bath/1000g.Tình hình nghiên cứu trong nƣớc Thu hoạch Vào tháng 4-6 ngƣời ta thu hoạch hạt, phơi hay sấy khô; hạt hình trứng dài 2,5 – 3,5 cm, rộng 1,2 – 2,5cm, màu nâu đỏ nhạt, trên mặt nhẵn nheo, nổi trên nƣớc, nhƣng khi ngâm với nƣớc thì sau một thời gian nở rất to, gấp 8-10 lần thể tích của hạt, thành một chất nhầy màu nâu nhạt trong, vị hơi chát, mát. Do đó châu Âu gọi là “hạt nở” (graine gònlante). Khi thu hoạch không nên chặt cả cây, thời gian qua có mốt số ngƣời trèo lên rung cây để lấy hạt nhƣng điều đó rất nguy hiểm và không an toàn. Một điều nữa là khi rung cây sẽ làm những quả non bị rơi xuống đất.
Vì vậy, ngƣời dân chỉ thu những hạt đã rời; theo kinh nghiệm của ngƣời rừng cho rằng khi thu hái thì phải nhanh chóng nếu không khi hạt đã rơi gặp mƣa sẽ nở ra và làm hỏng hết sản phẩm.