Đặt vấn đề Huyện Phú Bình - Tỉnh Thái Nguyên là một huyện trung du nằm ở phía Nam thành phố, cách thành phố 26 km. Huyện Phú Bình đang trong quá trình xây dựng, phát triển và đang cố gắng trong công cuộc công nghiệp hóa, đô thị hóa đất nước. Tuy nhiên sự phát triển không đồng bộ giữa tốc độ đô thị hóa và việc xây dựng, nâng cấp cơ sở hạ tầng cùng với sự phát triển của các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại. đã làm phát sinh một số lượng rác thải ngày càng lớn, vượt qua khả năng tự làm sạch của môi trường, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và làm thay đổi cảnh quan cũng như gây tác động xấu trực tiếp tới sức khỏe cộng đồng dân cư đang sinh sống trên địa bàn huyện.
Phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là những yếu tố không thể tách rời trong hoạt động sống của con người. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giúp Việt Nam tăng cường phát triển kinh tế, các ngành sản xuất kinh doanh và dịch vụ ngày càng phát triển và mở rộng. Cùng với sự tăng nhanh quá trình đô thị hóa, dân số ngày càng tăng cùng với ý thức của người dân chưa được nâng cao về vấn đề bảo vệ môi trường thì lượng chất thải phát sinh từ mọi hoạt động của con người ngày càng tăng. Điển hình là tại các chợ hàng năm đã thải một lượng lớn các phế phẩm từ các loại thực phẩm.
Hiện nay, sự phát triển của nền nông nghiệp nước ta đang đi vào mức độ thâm canh cao với việc sử dụng ngày càng nhiều phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật hóa học và các loại nông dược nhằm mục đích khai thác, chạy theo năng suất và sản lượng. Nhu cầu phân bón hằng năm của nước ta từ 7.5 – 8 triệu tấn, trong đó nhập khẩu đến 50%. Việc sử dụng ngày càng nhiều phân hóa học đã làm cho đất đai ngày càng thoái hóa, dinh dưỡng bị mất cân đối, h 2 mất cân bằng hệ sinh thái trong đất, hệ vi sinh vật trong đất bị phá hủy, tồn dư các chất độc hại trong đất ngày càng cao, nguồn bệnh tích lũy trong đất càng nhiều dẫn đến phát sinh một số dịch hại không dự báo trước. Chính vì vậy, xu hướng quay trở lại nền nông nghiệp hữu cơ với việc tăng cường sử dụng chế phẩm sinh học, phân bón hữu cơ trong canh tác cây trồng đang là xu hướng chung của Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, để góp phần xây dựng môi trường sạch đẹp thì việc khai thác nguồn nguên liệu từ các phế phụ phẩm thực phẩm là một hướng mang tính khả thi.
Do đó, việc sử dụng phân bón hữu cơ không những giải quyết được các vấn đề về thoái hóa đất, tránh được ô nhiễm môi trường mà còn mang lại năng suất kinh tế cao cho nền kinh tế nông nghiệp và là tiền đề để có thể “phát triển bền vững”. Trước thực tế đó, đề tài “Nghiên cứu hiện trạng chất thải rắn tại các chợ trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và sử dụng phế phẩm từ cá để sản xuất phân bón hữu cơ ứng dụng cho cây rau” là cần thiết để góp phần trong việc xử lý ô nhiễm môi trường đồng thời tạo ra sản phẩm có giá trị kinh tế để phục vụ cho nông nghiệp. Qua đề tài này, chúng tôi hy vọng có thể mở ra một hướng mới trong việc phát triển dòng phân bón hữu cơ sinh học để ứng dụng vào trong phát triển nông nghiệp. Mục tiêu nghiên cứu 1.
Mục tiêu tổng quát Phân tích thực trạng ô nhiễm chất thải rắn tại các khu chợ trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Từ đó đưa ra giải pháp là sử dụng các chế phẩm Vi sinh hữu hiệu để phân hủy chất thải thực phẩm (các sản phẩm thừa từ cá ) tạo thành sản phẩm phân bón hữu cơ sinh học phục vụ nông nghiệp, đặc biệt cho cây rau. Góp phần tái sử dụng các phế phụ phẩm, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và nâng cao chất lượng trong nông nghiệp. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá thực trạng công tác quản lý, xử lý, nguồn phát sinh chất thải, số lượng, thành phần rác thải sinh hoạt tại một số chợ ở huyện Phú Bình - Đề xuất các giải pháp hợp lý để quản lý, tái sử dụng nguồn rác thải sinh hoạt, nâng cao hiệu quả kinh tế đối với chất thải và góp phần bảo vệ môi trường.
- Lựa chọn một số rác thải rắn thực phẩm làm phân bón hữu cơ dạng dung dịch. - Xác định được loại chế phẩm phù hợp( chế phẩm EM2) cho hiệu quả phân hủy cao trong điều kiện háo khí. - Xây dựng quy trình chế biến xác cá thành phân bón hữu cơ sinh học chất lượng cao phục vụ canh tác cây trồng. - Khảo nghiệm đánh giá hiệu lực của phân bón chế biến từ xác cá sau phân hủy trên cây rau.
Phạm vi nghiên cứu - Địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 1. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Đảm bảo sử dụng tốt tài nguyên thiên nhiên,sống xanh sạch đẹp thân thiện với môi trường. - Vận dụng kiến thức đã học làm quen với thực tế.
- Tích luỹ được kinh nghiệm cho công việc khi đi làm. - Nâng cao kiến thức thực tế. Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá được thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt còn có những hạn chế nào. Trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện.
h 4 - Tiết kiệm được ngoại tệ từ việc góp phần giảm lượng phân bón hóa học nhập khẩu. - Khai thác và tận thu phế phụ phẩm thực phẩm( các sản phẩm thừa từ cá) để sản xuất phân hữu cơ sinh học phục vụ nông nghiệp. - Giảm thiểu ô nhiễm môi trường. - Chế phẩm phân hữu cơ sinh học được sử dụng tại địa phương làm tăng độ phì nhiêu cho đất, phục vụ cho các quy trình canh tác, tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững.
- Góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, đảm bảo an toàn thực phẩm 1. Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu Thời gian nghiên cứu: từ 15/1/2018 - 15/6/2018 Địa điểm: Phòng thí nghiệm Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên h 5 Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Tổng quan về chất thải rắn 2.
Khái niệm chung về chất thải rắn * Khái niệm chất thải rắn - Có nhiều khái niệm khác nhau về chất thải rắn, nhưng khái niệm tổng quan nhất đó là: “chất thải rắn là mọi thứ mà con người, thiên nhiên và quá trình con người tác động vào thiên nhiên thải ra môi trường”. Chất thải rắn là các chất hoặc vật liệu mà người chủ hay đối tượng thải ra chúng hiện tại không sử dụng và chúng bị thải bỏ - Chất thải rắn là sản phẩm được sinh ra trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, dịch vụ, thương mại, sinh hoạt gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn. Ngoài ra, còn phát sinh trong giao thông vận tải như khí thải của các phương tiện giao thông, chất thải là kim loại, hóa chất và từ các vật liệu khác 2. Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt Cùng với những hoạt động sản xuất của con người và sự phát triển của các ngành đã tạo ra các sản phẩm, dịch vụ phục vụ nhu cầu của con người ngày càng tăng lên, cùng với đó là lượng CTR của các hoạt động này cũng gia tăng CTR được thải ra từ mọi hoạt động sản xuất cũng như tiêu dùng trong đời sống xã hội, trong đó lượng rác thải chiếm khối lượng lớn chủ yếu ở khu dân cư và các nhà máy, xí nghiệp.
* Các nguồn phát sinh CTR chủ yếu từ các hoạt động [1] - Hộ gia đình : Chất thải phát sinh từ nguồn này bao gồm các loại như thực phẩm thừa, thùng carton, hộp nhựa, vỏ chai, lọ thủy tinh, … và các chất độc hại được sử dụng trong gia đình như: dược phẩm bị thải bỏ, ắc quy h 6 - Cơ quan, trường học, khu hành chính, chất thải rắn thường là giấy, túi nilong, vỏ lon, hộp nhựa,. - Nông nghiệp xử lý rác thải, thu hoạch vụ mùa, khu chăn nuôi: các chất thải rắn thường là vỏ bao, lọ thuốc BVTV, … - Du lịch giải trí như các khu công viên, tượng đài, chất thải rắn là rác cành cây, túi nilong và đồ hộp, … - Bệnh viện cơ sở y tế chất thải rắn thường là túi nilong, kim tiêm, ống nhựa, thùng cartong, … - Giao thông xây dựng, di rời, sửa chữa nhà cửa, đường xá, công trình, … các chất thải rắn thường là gạch ngói vỡ vụn, bê tông, sắt thép, … 2. Thành phần và phân loại chất thải rắn sinh hoạt * Thành phần chất thải rắn sinh hoạt - Chất thải rắn là một hợp chất không đồng nhất và phức tạp của nhiều vật chất khác nhau. Tùy theo cách phân loại, mỗi loại chất thải có thành phần đặc trưng nhất định.
Thành phần của chất thải rắn đô thị là bao quát hơn tất cả vì nó bao gồm mọi thứ chất rắn từ nhiều nguồn gốc phát sinh khác nhau (sinh hoạt công nghiệp, nông nghiệp, rác đường phố, xác chết …). - Các thành phần đặc trưng của chất thải rắn như: + Hợp phần có nguồn gốc hữu cơ (50,27 % - 62,22 %) + Các chất không cháy được: gạch, đá, sỏi… + Các chất hỗn hợp độ ẩm cao, nhiệt trị thấp (900kcal/kg) Thành phần chất thải rắn sinh hoạt Các loại chất thải rắn được thải ra từ các hoạt động khác nhau được phân loại theo nhiều cách. * Có thể phân loại chất thải rắn như sau: - Theo thành phần hóa học và vật lý: người ta phân biệt theo các thành phần hữu cơ, vô cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, phi kim, chất dẻo, vải vụn… h 7 - Theo mức độ nguy hại: + Rác nguy hại: bao gồm các loại hóa chất dễ gây phản ứng, độc hại, rác thải sinh hoạt dễ thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc rác phóng xạ, các rác thải nhiễm khuẩn lây lan … có thể gây nguy hại tới con người, động vật và môi trường. Nguồn phát sinh rác thải nguy hại chủ yếu là từ các hoạt động y tế, công nghiệp, nông nghiệp.
[19] + Rác thải nguy hại: Là những loại không có chứa các chất và hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác thành phần.