Chương 1. Văn học về đề tài chiến tranh sau 1975 và sáng tác của Sương Nguyệt Minh, Đoàn Tuấn Chương 2. Hiện thực chiến tranh biên giới Tây Nam trong Miền hoang và Mùa chinh chiến ấy Chương 3. Miền hoang và Mùa chinh chiến ấy nhìn từ phương diện nghệ thuật biểu hiện 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 VĂN HỌC VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH SAU 1975 VÀ SÁNG TÁC CỦA SƢƠNG NGUYỆT MINH, ĐOÀN TUẤN 1.
Văn học về đề tài chiến tranh sau 1975 1. Cơ sở của việc phản ánh hiện thực chiến tranh Sau năm 1975, cuộc kháng chiến 20 năm kết thúc, đất nước hoàn toàn giải phóng nhưng đồng thời cũng phải đối diện với muôn vàn khó khăn thử thách. Một mặt chúng ta vừa phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của chiến tranh, vừa phải đối mặt với muôn vàn những khó khăn, thử thách trong công cuộc dựng xây đất nước. Nhân dân ta vừa hàn gắn vết thương do chiến tranh, vừa dựng xây đất nước trong sự hoang tàn, xơ xác, vừa phải giải quyết những vấn đề của thời hậu chiến.
Mặt khác, không bao lâu sau, chiến tranh biên giới phía Bắc và biên giới Tây Nam lại nổ ra, dân tộc lại gồng mình lên đường chiến đấu để bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ. Nhận biết tình hình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhanh chóng đề ra những chủ trương, đường lối phát triển đất nước phù hợp với thực tiễn. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI với phương châm “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” phù hợp với xu thế phát triển của đất nước lúc bấy giờ. Những đặc điểm về hoàn cảnh xã hội tác động không nhỏ đến văn học, làm thay đổi diện mạo của nền văn học sau năm 1975.
Văn học viết về chiến tranh có sự chuyển mình đáng kể, mở ra một thời kì mới cho sáng tác văn học trong yêu cầu tái tạo thời kì lịch sử hiện nay. Sau năm 1975, văn học viết về chiến tranh có những chuyển động đáng chú ý. Trong đó phải kể đến sự thay đổi về chủ thể sáng tạo. Văn học từ 1975 đến nay đã có một đội ngũ sáng tác trải nghiệm đi từ thời chiến bước vào thời Đổi mới với bao va đập qua những bước ngoặt lịch sử.
Nhà văn viết về chiến tranh là những người trực tiếp cầm súng chiến đấu. Họ viết về mình, về thế hệ mình, về những vinh quang thăng trầm quá khứ một cách chân thực và sâu sắc. Họ đã đem vào trong văn xuôi về chiến tranh những trải nghiệm từ chiến hào của cá nhân mình và của thế hệ mình. Hơn ai hết, họ hiểu về hiện thực khốc liệt của chiến tranh, hiểu về sự hi sinh lớn lao và nghĩa tình của đồng bào, đồng chí.
Và họ viết bằng tất cả cảm xúc chân 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thật của mình, viết bằng trái tim, viết bằng sự tri ân đối với những người đồng đội còn nằm lại chiến trường. Những trang viết vì thế mà ấm nóng, những trang viết vì thế mà phản ánh một cách chân thực nhất về sự dữ dội của chiến tranh và những tình cảm thiêng liêng, sâu sắc của tình đồng chí, tình quân dân…trong những năm tháng khốc liệt ấy. Nói như Sương Nguyệt Minh: “Viết bằng tâm thế người can dự trong cuộc đi suốt cuộc chiến tranh với nỗi phấp phỏng băn khoăn giày vò, chứ không viết vằng thứ tình cảm đi xem người ta đánh nhau rồi sáng tác, cũng không viết như mấy ông nhà văn ngồi ở Hà Nội tưởng tượng về chiến tranh sáng tác như vẽ rắn thêm chân và viết nhăng cuội” [ 52, tr. Mặt khác, văn học sau 1975 tiếp tục mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực chiến tranh.
Các tác phẩm viết về chiến tranh không chỉ dừng lại ở hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đường biên chiến tranh được mở rộng khi các nhà văn hướng đến khai thác cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và chiến tranh biên giới phía Bắc. Tuy số lượng tác phẩm viết về chiến tranh biên giới ít hơn so với tác phẩm viết về hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ nhưng những tác phẩm này đã thể hiện sự trải nghiệm sâu sắc của người cầm bút, họ viết về chiến tranh bằng những day dứt, trăn trở, bằng những nếm trải của người “người trong cuộc”, bởi thế những trang văn của họ chân thực và thấm thía. Không ít tác phẩm để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc bởi chất hiện thực ngồn ngộn, tươi ròng cùng cái nhìn mới về hiện thực chiến tranh và chân dung người lính như Dòng sông Xô Nét của Nguyễn Trí Huân, Không phải trò đùa của Khuất Quang Thụy, Khoảng rừng có những ngôi sao và Ngôi chùa ở Pratthana của Văn Lê, Lính Hà (Nguyễn Ngọc Tiến), Mùa chinh chiến ấy (Đoàn Tuấn), Hồi ức lính (Vũ Công Chiến),…Trong đó, theo Sương Nguyệt Minh, có thể xem Dòng sông Xô Nét của Nguyễn Trí Huân viết năm 1980 là tiểu thuyết đầu tiên viết về chiến tranh biên giới Tây Nam. Có thể nói, đây chính là một dòng văn học dù ít, dù nhiều đã góp phần tái hiện lại những năm tháng gian nan trong cuộc chiến đấu ở “đất bên ngoài Tổ quốc”.
Ở giai đoạn này, các nhà văn cũng có nhu cầu nhận thực lại hiện thực chiến tranh và viết về chiến tranh với cảm quan mới. Nếu như trước 1975, hiện thực chiến tranh chủ yếu được soi rọi bằng cái nhìn sử thi, hào hùng và cảm hứng lạc quan lãng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mạn thì đến nay, văn học viết về chiến tranh đã có sự đổi mới rõ rệt trên phương diện tiếp cận, miêu tả và phản ánh hiện thực. Trong các trang viết về chiến tranh đã bắt đầu xuất hiện cái nhìn đa chiều, trần trụi hơn ở nhiều góc độ: bi tráng, khốc liệt; đời tư, thế sự, nhân văn; văn hóa, tâm linh. Các tác phẩm viết về chiến tranh đã không còn né tránh hiện thực, mặt khác các nhà văn đã tái hiện hiện thực chiến tranh với tất cả sự khốc liệt, những tổn thất, hi sinh nặng nề của nó.
Hiện thực ấy không chỉ là những ngày tháng nơi trận mạc, mà nó còn tiếp tục đeo bám người lính khi chiến tranh kết thúc và mang đến cho người đọc cảm nhận chân thực nhất về hệ lụy của chiến tranh. Có thể thấy, văn học đã nhìn thẳng vào hiện thực chiến tranh bằng những trải nhiệm và cái nhìn cá nhân, tái hiện lại cái chiều kích đau thương và bộ mặt tàn khốc không thể quy giản của chiến tranh, nói lên tiếng nói cảnh báo về những hiểm hoạ của chiến tranh để lại trong thời hậu chiến. Văn học đương đại Việt Nam về chiến tranh thiên về khai phá những mặt còn khuất lấp, những vấn đề đời tư - thế sự, hướng đến cuộc sống đa trị và qua đó thể hiện cảm quan của nhà văn. Hiện thực chiến tranh được tiếp cận, giải mã không đơn điệu, một chiều mà phức tạp, đa dạng; hình tượng con người được miêu tả trong cái nhìn đa chiều, phong phú.
Bên cạnh việc nhận thức lại hiện thực, văn học viết về chiến tranh sau 1975 còn hướng tới thân phận của từng con người trong cuộc chiến ác liệt chống lại kẻ thù. Các tác phẩm văn học chiến tranh viết về những số phận bi thảm, những con người mang trong mình những vết thương về hình hài, thân xác, về tâm hồn. Những vết thương ấy không chỉ hiện hình trong chiến tranh mà thậm chí ngay cả khi người lính đã trở về, nỗi đau vẫn không hề nguôi ngoai. Hình tượng con người được miêu tả trong cái nhìn đa chiều, phong phú.
Hàng loạt kiểu con người mới nghiêng về tính chất đời tư, thế sự, cá nhân, thân phận lần lượt được miêu tả. Tất cả đã khắc họa đậm nét hệ lụy của chiến tranh và bi kịch của con người thời hậu chiến. Nhà phê bình Tôn Phương Lan đã nhận xét: “Văn học viết về đề tài chiến tranh trong những năm chiến tranh ít nói về buồn vui của cuộc sống thường nhật, ít nói về những đau thương, mất mát, hi sinh trên chiến trường, ít quan tâm đến số phận con người mà tập trung đến số phận đất nước. Sau chiến tranh, văn học viết về đề tài này mới có xu hướng viết về sự thật của đời sống, viết về những khó khăn ác liệt, 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sau lầm, vấp ngã, thiếu sót của người lính trong chiến tranh cũng như trước sự cám dỗ của cuộc sống đời thường” [39].
Hiện thực chiến tranh được nhìn nhận qua thế giới nội tâm, những số phận cá nhân con người. Tiếp cận chiến tranh từ bên dưới, từ những số phận, những mảnh đời…nhà văn có điều kiện nhìn con người tham gia chiến tranh từ hai phía và lí giải chiến tranh trên nguyên tắc nhân bản. Văn học sau 1975 có những cách tân đáng kể về mặt nghệ thuật. Trước tiên là ở điểm nhìn trần thuật, các nhà văn đã sử dụng khá linh hoạt các điểm nhìn.
Sự gia tăng điểm nhìn, dịch chuyển điểm nhìn linh hoạt trong nghệ thuật trần thuật đã tạo ra hiệu quả nghệ thuật phong phú cho tiểu thuyết viết về chiến tranh, bộ mặt chiến tranh hiện lên một cách khách quan và toàn vẹn hơn. Mặt khác, văn học thời kì này cũng có sự đổi mới về ngôn ngữ, giọng điệu và nghệ thuật xây dựng nhân vật. Những cách tân về nghệ thuật tạo ra những góc nhìn đa chiều về chiến tranh, góp phần làm thay đổi diện mạo của văn học sau năm 1975. Có thể thấy, khi chiến tranh kết thúc, văn học có “độ lùi” cần thiết để viết về chiến tranh, đánh giá và nhìn nhận lại chiến tranh một cách toàn diện hơn.
Đó cũng chính là lí do khiến chiến tranh trở thành “siêu đề tài, người lính trở thành siêu nhân vật, càng khám phá càng thấy những độ rung không mòn nhẵn” [37]. Hiện thực chiến tranh với những hướng tiếp cận mới Viết về chiến tranh, văn học đương đại Việt Nam đã có những dịch chuyển về góc nhìn nghệ thuật. Nếu như trước năm 1975, hiện thực chiến tranh chủ yếu được soi rọi bằng cái nhìn sử thi, hào hùng và cảm hứng lạc quan, lãng mạn; đến nay mặc dù cái nhìn và cảm hứng sử thi ấy vẫn được duy trì trong những trang viết về chiến tranh, song đã bắt đầu xuất hiện cái nhìn đa chiều, trần trụi hơn ở những góc độ: đời tư, thế sự và văn hóa, tâm linh.