CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TONG QUAN VỀ TINH HÌNH NGHIÊN CỨU RNM TREN THẾ GIỚI: Từ lâu các nhà khoa học đã quan tâm dến RNM vì nó có ý nghĩa to lớn về kinh tế và khoa học.Odum (1970) phát hiện tác dụng lớn của mùn bã loài Đước đỏ(Rhizophora mangle) trong chuỗi thức ăn vùng cửa sông ven biển Florida, đặc biệt đối với hải sản thì Hệ sinh thái RNM trở thành một đối tượng được nhiễu nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Vào cuối thập niên 70, một số nước đã trở thành những trung tâm quan trọng nghiên cứu RNM: Mỹ (Florida, Puerto,.), Senegal, Madagascar, Nam Phi, An Độ, Malayxia, Australia, New Zeyland,. mục tiêu nghiên cứu ở các nước khác nhau: Florida chủ yếu sinh thái thực vật, sinh lý, năng suất sinh học; Puerto Rico: môi trường và ô nhiễm; Senegal: thổ nhưỡng; Nam Phi: sinh thái và phân loại động vật.(Phan Nguyên Hồng, 1991)8] Vẻ lĩnh vực trồng và phục hồi RNM đã có nhiều tổ chức quốc tế tham gia như: Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP), chương trình môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP), Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc (FAO), chương trình Nghiên cứu và quản lý hệ sinh thái RNM khu vực châu Á và Thái Bình Dương của UNDP/UNESCO (RAS/79/002) đã cung cấp tài chính cho những tổ chức chuyên môn của các nước để nghiên cứu quản lý RNM.
Chính phủ của các nước đã ban hành các chính sách về RNM, khuyến khích trồng lại rừng(Phạm Văn Ngọt, 2003)[24] Lĩnh vực được quan tâm nhiều nhất là phân loại thực vật, thảm thực vật và phân bố. Có hai công trình nổi tiếng là Mangrove vegetation của V.Chapman (1975)(30] và The botany of mangrove của P.Tomlinson (1986){34] đã nghiên cứu về giải phẫu, phân loại. phân bố, sinh thái các loài CNM trên thế giới (trích dẫn từ Phạm Văn Ngọt, 2003)[21]. Trong những năm cuối thế kỷ 20, nhiều nhà khoa học Nhật Bản đã tiến hành nghiên cứu xã hội học của một số thảm thực vật ngập mặn ở vùng dam lẩy than bùn thuộc đảo Irimote, Nhật Bản (Miyawaki, Suzuki và CS.
1982); sông Riko, Đông Kalimantan, Indonexia (Suzuki, Mochida,1982); Thái Lan (Suzuki va CS. Nghiên cứu về các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển RNM có nhiều tác giả để cập đến.Chapman (1977) có 7 yếu tố sinh thái cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển RNM là: 1.Thể nền bùn, 3. Sự bảo vệ, 4. Có một số công trình nghiên cứu về lượng mưa, nhiệt độ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển RNM: V.Saenger và cộng sự (1983), A.
Trong các nhân tố sinh thái thì độ mặn là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến tăng trưởng, tỉ lệ sống, phân bố các loài (Bowmann, 1917; Macnae, 1968; Sememuk, 1983).Ham (1931) cho rằng RNM tổn tại, phát triển ở nơi có độ mặn từ 10- 30°%o và tác giả đã chia thực vật ngập mặn thành hai nhóm: nhóm phát triển ở độ mặn 10-30Ÿ/„ và nhóm phát triển ở độ mặn 0-102/„; F.Blasco (1984) cho rằng kích thước cây và số loài giảm khi độ mặn của đất tăng cao từ 40-80°%oo, nơi có độ mặn quá thấp đưới 4 Ÿ⁄4o thì cũng không còn CNM mọc tự nhiên. Nhiều tác giả cho rằng đất là nhân tố chính giới hạn sự tăng trưởng và phân bố CNM (Gledhill, 1963; Giglioli và King, 1966; Clark và Hannonn, 1967; Aksornkoae và cộng sự, 1985) (trích dẫn từ Pham Văn Ngọt, 2003)(21]. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU RNM Ở VIỆT NAM: Công trình nghiên cứu có hệ thống về RNM Việt Nam đẩu tiên là luận án Tiến sĩ của Vũ Văn Cương (1964), mô tả ti mỉ các quần xã nước mặn, nước lợ ở vùng sông Sài Gòn-Vũng Tàu và các yếu tố đất. Tác giả đã chia thực vật ở đây thành 2 nhóm: nhóm thực vật nước mặn và nhóm thực vật nước Ig, (Nguyễn Thị Kim Cúc, 2003) [7] Tiếp theo là luận án phó tiến sĩ sinh học P.
Tác phẩm “Rừng ngập nướcViệt Nam” của Nguyễn Văn Thôi và Lâm Binh Lợi (1972) đã trình bày tương đối đẩy đủ về tính chất lâm học của RNM và rừng Tràm ở Nam Bộ [8]. Sau ngày thống nhất đất nước việc nghiên cứu RNM đã được mở rộng: thực vật học, sinh lý, sinh thái, thảm thực vật, tài nguyên RNM, địa lý, địa chất, đất RNM, quản lý RNM. Song song các nghiên cứu là tổ chức các hội thảo quốc gia, khu vực và quốc tế về RNM. Tại các hội thảo đó, các nhà khoa học trong nước và quốc tế đã công bố và thảo luận về nhiều tông trình nghiên cứu thảm thực vật RNM của Việt Nam.
Lê Công Khanh (1986) mô tả các đặc điểm sinh học để phân biệt các chi, các ht cây có trong RNM. Tác giả đã xếp 57 loài CNM vào 4 nhóm dựa | vào tính chất ngập nước và độ mặn của nước: nhóm ngập trên đất bổi ngập mặn (độ mặn của nước từ 15-32'⁄) có 25 loài; nhóm sống trên đất bổi ít ngập nước có 11 loài; nhóm sống trên đất bổi thường ngập nước lợ(độ mặn 0,5-159/q}có 9 loài; và nhóm sống trên đất bởi ít ngập nước Ig có 12 loài[21] Phùng Trung Ngân và Châu Quang Hiển (1987)(20] đã để cập đến 7 kiểu thảm thực vật ngập mặn ở Việt Nam: rừng Mắm hoặc Ban đơn thuần, rừng Đước đơn thuần, rừng Dừa nước, rừng hỗn hợp vùng triểu trung bình, rừng Vet-Gia vùng đất cao, rừng Cha là-Ráng đại và trang thoái hoá. Trong luận án Tiến sĩ khoa học “ Sinh thái thảm thực vật RNM Việt Nam” của Phan Nguyên Hồng (1991)[8] đã dé cập đến các vấn để phân bố, sinh thái, sinh lý, sinh khối,. RNM Việt Nam.
Trong đó tác giả đã đánh giá các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến phân bố, sinh trưởng RNM bao gồm: khí hậu (nhiệt độ, lượng mưa, ánh sáng, mây, gió) và phân tích kỹ 2 nhân tố quan trọng là thuỷ triểu và độ mặn. Viên Ngọc Nam (1997) đã nghiên cứu về thành phan loài và thảm thực vật ở huyện Nhà Bè và Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh [18]. Nguyễn Thị Kim Cúc (2002) [7] nghiên cứu mối quan hệ trong quần xã cây ngập mặn ở xã Thuy Trường, huyện Thái Thuy, tỉnh Thái Bình. Trong các năm 1995,1997 và 1999 Dự án của Ngân hàng phát triển châu A (ADB) đã nghiên cứu về môi trường vùng Vũng Tàu -Côn Đảo-Cần Giờ và xây dựng các dự án ưu tiên dau tư bảo vệ môi trường ven biển nói chung.
Ở tỉnh BR-VT, từ năm 1992 đến nay đã có một số công trình nghiên cứu cơ bản liên quan đến Hệ sinh thái RNM. Hầu hết các công trình này chủ yếu nêu lên một cách khái quát một số yếu tố sinh thái riêng biệt của hệ sinh thái RNM mà chưa đi sâu nghiên cứu tiểm năng sinh thái và biện pháp sử dụng bén vững hệ sinh thái RNM của tỉnh BR-VT. Chẳng hạn công trình nghiên cứu của các tát giả Trương Đình Hiển (1992-1995), Phùng Đức Vinh (1996-1997) đã nghiên cứu về khí tượng, thuỷ hải văn và động lực xói lở bờ biển trong đó bao gồm cả vùng bờ biển có RNM. Một số công trình nghiên cứu của Đoàn Cảnh và cộng sự (1994-1997)[5], Lê Trình (1990-1998) [26] và Nguyễn Đức Huỳnh(1997-1998) có để cập đến một số các yếu tố sinh thái và ảnh hưởng của chất thải ô nhiễm „.liên quan đến hệ sinh thái RNM tỉnh BR-VT.(tưích dẫn từ Vũ Nguyên Tự, 2001)29] Tháng 4/1997 báo cáo khoa học “Khảo sát hiện trạng môi trường sinh học phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh BR-VT" [5], lần đầu tiên có được cái nhìn đẩy đủ về môi trường sinh học đặc biệt là tính đa dạng về các khu hệ sinh học.
Trong đó có để cập đến hiện trạng khu hệ thực vật và thẩm thực vật của toàn tỉnh đã được mô tả về thành phần loài,cấu trúc các loại thảm thực vật với hàng chục loại quan xã phản ánh điều kiện 10 sinh thái đã bị biến đổi sâu sắc và với tốc độ nhanh dưới các tác động của các yếu tố nay sinh trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Năm 2001, Vũ Nguyên Tự với để tài “Nghiên cứu tiểm năng và sử dụng bén vững hệ sinh thái RNM Xuyên Mộc-Long Đất , tỉnh BR-VT” [29] Năm 2002, Phân viện điều tra quy hoạch rừng H đã xây dựng “Dự án đầu tư xây dựng rừng phòng hộ tỉnh BR-VT" (giai đoạn 2002-2010) [23], trong đó có để ra các giải pháp bảo vệ và phục hồi rừng phòng hộ nói chung và RNM nói riêng của toàn tỉnh. Nhìn chung có rất ít công trình nghiên cứu tập trung vào hệ sinh thái RNM của một địa phương mà phần lớn có cái nhìn khái quát chung về các khu hệ sinh thái của toàn tỉnh. Chính vì vậy hiện trạng thảm thực vật ngập mặn nói riêng và hệ sinh thái RNM nói chung ở thành phố Vũng Tàu chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào làm cơ sở cho việc đánh giá tiểm năng và sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên ở đó.
` CHƯƠNG 2: DJA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Địa điểm nghiên cứu Địa điểm nghiên cứu thuộc phường 12, thành phố Vũng Tàu (theo bản 46 hình 1. Phường 12 có tổng diện tích tự nhiên là 3.741 ha, trong đó diện tích đất ngập mặn là 1655.41 ha và diện tích có RNM hiện nay là 104. Vũng Tàu là tên gọi | mõm đất nhô ra biển ở phía Đông Nam Việt Nam, cách TP.HCM 125km và thuộc Tỉnh BR-VT.
Đặc điểm tự nhiên vùng nghiên cứu 2. Vị trí địa lý: Phường 12 có vi trí dia lý: từ 11241 đến 11°98 vĩ độ Bắc và từ 7°19 đến 7°82 kinh độ Đông. - _ Phía Bắc giáp rach Cửa Lap và xã An Ngãi, huyện Long Đất. - _ Phía Nam giáp Phường 11, TP.
: Phía Đông giáp xã Phước Tĩnh, huyện Long Đất và biển Đông. - Phía Tây giáp xã Long Sơn,TP. 12 Vi trí đu te 11° 4) đếc 11 98 vị độ Đức và sử 7' I9 đến 7° #2 kinh độ Đông Tuyếc nghiês cứu ngoài thuc đụ. Hình 1: Bản đổ Phường 12, thành phố Vũng Tàu 13 2.
Khí hậu: Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũng như khu vực nghiên cứu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo có nền nhiệt cao đều quanh năm, ít gió bão, không có mùa đông lạnh và chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương. + Nhđôiệ t không khí: Nhiệt độ trung bình năm: 25,8°C. Nhiệt độ tháng thấp nhất: tháng 1 Số tháng trên 25°C: 9 tháng (từ tháng 3 đến tháng 9) - _ Biên độ nhiệt năm: 3,4°C.