MỞ ĐẦU 1. Mục đích và ý nghĩa khoa học của đề tài Tình trạng ô nhiễm khói bụi hiện nay đã cho thấy vấn đề khai thác các nguồn nhiên liệu thân thiện môi trường đang rất cần thiết. Từ những năm 1980, đã có những nghiên cứu thực nghiệm khả năng xúc tác của các kim loại chuyển tiếp lên phản ứng oxi hóa khử giữa hydro và oxi ứng dụng vào việc chế tạo pin nhiên liệu. Tuy nhiên, để có thể tối đa hóa hiệu suất chuyển đổi năng lượng của pin nhiên liệu từ hóa năng sang điện năng, các nghiên cứu cơ bản về quá trình xúc tác này là cần thiết.
Rất nhiều bề mặt đơn tinh thể của các kim loại khác nhau được nghiên cứu để làm rõ vai trò xúc tác phản ứng oxi hóa hydro như Ir(111) [1], Ni(100), Ni(111) [2] và nổi trội là các bề mặt khác nhau của tinh thể kim loại platinum [2 – 4]. Platinum có cấu trúc tinh thể là lập phương tâm diện (face-centered cubic – FCC) với các tiểu bề mặt cơ bản gồm (100), (110) và (111). Trong thực tế, bề mặt xúc tác của tấm điện cực platinum bao gồm cả ba tiểu bề mặt cơ bản trên, chúng xen kẽ và phân tán khắp diện tích bề mặt xúc tác thành ma trận tiểu bề mặt. Thực nghiệm đã kiểm chứng được sự chiếm ưu thế về số lượng của tiểu bề mặt (111) và (100) đối với các tinh thể kim loại thuộc loại FCC [5].
Việc nghiên cứu quá trình hấp phụ hydro, cũng như tương tác giữa chúng trên từng bề mặt khác nhau góp phần làm rõ khả năng xúc tác của kim loại platinum đối với phản ứng oxi hóa hydro. Đối với về mặt Pt(111), nhiều nghiên cứu đã được tiến hành, sử dụng cả các phương pháp thực nghiệm và lý thuyết [6 – 8]. Trong đó, nghiên cứu mô tả tính chất nhiệt động học thông qua tính toán từ nguyên lý ban đầu của nhóm tác giả Hạnh [7] đã chỉ ra được năng lượng hấp phụ, tần số dao động và sự phụ thuộc tương tác H – H vào mật độ bao phủ của hydro trên bề mặt Pt(111). Tiếp nối hướng đi đó, đề tài luận văn hướng tới việc xác định tính ổn định, tính dao động và tương tác giữa các hydro hấp phụ trên bề mặt Pt(100).
2 Mặc dù đã có các nghiên cứu lý thuyết trước đây về sự hấp phụ hydro lên bề mặt Pt(100), tuy nhiên các kết quả cho ra lại có sự khác biệt và mâu thuẫn với nhau. Cụ thể, nhóm Shi và Sun [9] đã sử dụng lý thuyết thuyết phiếm hàm mật độ (density functional theory – DFT) với hàm năng lượng trao đổi tương quan GGA (generalized gradient approximation) tạo bởi Perdew, Burke và Ernzerhof (PBE) [10]. Các kết quả của họ đã chỉ ra rằng vị trí cầu nối (bridge – B, hình 3.1) trên bề mặt Pt(100) cho năng lượng hấp phụ âm nhất, tức hydro sẽ có xu hướng bị hấp phụ ở các vị trí B nhiều hơn so với các vị trí hấp phụ khác. Kết luận tương tự cũng được đưa ra bởi các nhóm nghiên cứu khác [2, 3, 11, 12].
Tuy nhưng, các tính toán DFT – GGA (PW91) của Ferrin và đồng nghiệp [4] về sự hấp phụ, hấp thụ và khuếch tán của hydro qua bề mặt Pt(100) đã chỉ ra rằng vị trí hấp phụ hydro ưu thế trên bề mặt Pt(100) là tâm diện (fcc-hollow hoặc 4-fold hollow, kí hiệu F trong hình 3. Kết quả tương tự cũng được tính ra bởi nhóm Yu và đồng nghiệp [13] khi sử dụng thế 5 – MP (5-parameter Morse Potential). Về thực nghiệm, Hirohito Ogasawara và Masatoki Ito [14] đã làm sáng tỏ một số tính chất của hydro hấp phụ tại vị trí đỉnh (top – T, hình 3.1) của bề mặt Pt(100) bằng phương pháp in situ quang phổ hấp thụ phản xạ hồng ngoại (infrared reflection absorption spectroscopy – IRAS). Tuy nhiên, do ngưỡng dưới của phổ hồng ngoại không đủ nhỏ để phản ánh được các dao động ở tần số thấp, dẫn tới khảo sát được rất ít tính dao động không chỉ của hydro ở vị trí T mà còn ở các vị trí khác.
Ngược lại, phương pháp phổ tổn hao năng lượng điện tử độ phân giải cao (high resolution electron energy loss spectroscopy – HREELS) cho phép thu được thông tin của các dao động nhỏ. Zemlyanov cùng các cộng sự [15] sử dụng HREELS để đo các tần số bé hơn 1200 cm-1 của hydro hấp phụ trên các vị trí B và F. Tuy vậy, các giá trị tần số thực nghiệm đo được chỉ tương ứng với các dao động vuông góc với bề mặt Pt(100), còn các giá trị theo phương ngang với bề mặt thì không. Do vậy, đề tài luận văn hướng tới việc dùng các tính toán lý thuyết để làm rõ và giải quyết các vấn đề tồn tại trong sự hấp phụ của hydro lên bề mặt Pt(100), đồng thời đưa ra mô hình tương tác nhiệt động của H – H trên bề mặt Pt(100).
Mục tiêu, đối tượng, phạm vi đề tài Luận văn sử dụng phần mềm SIESTA (Spanish Initiative for Electronic Simulations with Thousands of Atoms) để khảo sát bề mặt Pt(100) với kích thước (1x1) và (3x3) gồm 3 đến 7 lớp nguyên tử với mục tiêu: Xác định các vị trí hấp phụ hydro khả dĩ trên bề mặt Pt(100). Tính năng lượng hấp phụ hydro. Khảo xác sự hội tụ theo thông số điểm k và số lớp nguyên tử bề mặt. Khảo sát tầm ảnh hượng của hydro hấp phụ lên bề mặt.
Tính năng lượng dao động điểm không của hydro hấp phụ trên các vị trí khác nhau, theo các phương khác nhau. Xấp xỉ năng lượng tương tác giữa các hydro hấp phụ với nhau. Ngoài ra, luận văn còn xây dựng chương trình mô phỏng Monte Carlo theo mô hình Ising cho mảng bề mặt Pt(100) có kích thước (5x5) để: Tính năng lượng tương tác trung bình giữa H – H trên bề mặt Pt(100). Khảo sát sự thay đổi tương tác H – H theo mật độ hydro trên bề mặt.
Đánh giá sai số của đường cong đại lượng tương tác 𝑔̅ so với thực nghiệm. Mọi mô hình bề mặt mà luận văn dùng để tính toán đều là bề mặt chân không, tức không có các phân tử, nguyên tử khác ngoài hydro và platinum của bề mặt. Điều này đồng nghĩa với việc lược bỏ quá trình hydrat hóa, các ảnh hưởng của dung dịch, cũng như môi trường xung quanh bề mặt trong điều kiện hoạt động thực. Luận văn không xét đến quá trình xúc tác phân ly phân tử hydro thành nguyên tử hydro mà sử dụng trực tiếp nguyên tử hydro để xây dựng hệ H/Pt(100).
Luận văn chỉ xét đơn nhất quá trình nguyên tử hydro từ bên ngoài hấp phụ lên bề mặt và dừng lại, không xuyên vào bề mặt Pt(100). 4 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 2. Vai trò xúc tác của Platinum trong phản ứng oxi hóa hydro 2. Pin nhiên liệu Năm 1838, khi nối các điện cực hydro với oxy hoặc clo, Christian Friedrich Schönbein đã phát hiện ra dòng điện được sinh ra giữa hai cực và đặt tên cho hiện tượng này là hiệu ứng phân cực.
Với mô hình thí nghiệm đó, Schönbein được ghi nhận là người sáng chế ra pin nhiên liệu đầu tiên. Năm 1939, nhà khoa học tự nhiên xứ Wales William Robert Grove đã độc lập thiết kế một mô hình thí nghiệm khác gồm hai điện cực platinum được bao trùm bởi hai ống hình trụ bằng thủy tinh, một ống chứa khí hydro và ống kia chứa khí oxy, hai điện cực được nhúng trong axít sulfuric loãng là chất điện phân. Grove cũng tạo được dòng điện một chiều tương tự như Schönbein và cả hai đã đặt nền tảng cho các phát minh pin nhiên liệu hoàn thiện hơn về sau, bao gồm loại pin nhiên liệu màng trao đổi proton, PEMFC (Proton-exchange membrane fuel cell). PEMFC được biết đến rộng rãi nhất với các ứng dụng trong vận tải, các trạm phát nhỏ gọn và có thể dễ dàng di chuyển.1 Sơ đồ cấu tạo của một pin nhiên liệu PEM [16].1 biểu diễn sơ đồ cấu tạo đơn giản của một PEMFC sử dụng nhiên liệu hydro và oxy gồm một lớp màng trao đổi proton (proton exchange membrance) kẹp giữa bởi hai lớp vật liệu dẫn xốp được phủ chất xúc tác (catalyst).
Bên ngoài cùng của mỗi bên sẽ có một bảng mỏng (flow field plate) có cấu trúc nhiều rãnh nhỏ trên bề mặt, khí nhiên liệu sẽ được thổi vào và đi theo các rãnh tạo thành lớp khí khuếch tán tiếp xúc với chất xúc tác. Hai lớp khi này đóng vai trò là hai điện cực sản sinh ra dòng điện với hydro ở điện cực dương (anode) và oxi ở diện cực âm (cathode). Trong đó, hai thành phần quan trọng, đóng vai trò cốt lõi của một PEMFC là lớp màng trao đổi proton (PEM) và vật liệu xúc tác. Chất xúc tác kinh điển là các hạt kim loại platinum được phủ trên vải carbon hoặc sợi carbon tạo thành một hệ xốp.
Hydro ở điện cực dương của pin dưới sự xúc tác của platinum được tách thành các hạt electron và proton (H+), mỗi nguyên tử hydro bao gồm 1 electron và 1 proton. Tiếp theo là lớp điện phân PEM, PEM là màng polymer không thấm khí và có khả năng dẫn proton nhưng lại không cho electron đi qua (do đó được gọi là màng trao đổi proton). Bởi khả năng thấm có chọn lọc ấy, PEM có vai trò tách electron và proton thành 2 dòng riêng biệt. Dòng electron đi vào dây dẫn tạo thành dòng điện thông ra mạch ngoài thực hiện công hữu ích rồi trở lại phía bên kia lớp PEM.
Sự kết hợp các bộ phận trên giúp ta có thể khai thác, chuyển đổi trực tiếp năng lượng hóa năng được tích trong hydro thành điện năng. Vật liệu xúc tác – kim loại platinum Yêu cầu của chất làm xúc tác là phải có lực hút hấp phụ đủ mạnh để bẻ gãy liên kết hóa học trong hydro nhưng không được quá lớn để có thể thực hiện quá trình nhả hấp phụ các sản phẩm sau phản ứng một cách nhanh chóng. Nếu cầu nối tương tác quá yếu, sự hấp phụ cơ chất (hydro) sẽ diễn ra kém, tốc độ phản ứng chậm dẫn tới electron sinh ra ít làm trì trệ toàn bộ quá trình hoặc thậm chí không diễn ra. Mặc khác, lực liên kết quá mạnh, sản phẩm sau quá trình oxy hóa (H+) không thể nhả hấp phụ và bám trên bề mặt chất xúc tác, đồng nghĩa với việc làm giảm nhanh dẫn tới khóa chặt diện tích xúc tác và toàn bộ hệ thống phản ứng cũng bị dừng lại.
6 Do đó, việc chọn vật liệu làm chất xúc tác ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất của pin nhiên liệu. Trong đồ thị “Baladin volcano” hình 2.