CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs), trong đó bao gồm dịch HIV/AIDS, là nhóm bệnh chủ yếu trong các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục (STI). Đây là nhóm bệnh liên quan chặt chẽ đến hành vi tình dục không an toàn. STDs ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ cộng đồng, là vấn đề quan trọng của y tế công cộng, bởi rất dễ dàng lây truyền trên phạm vi rộng, nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời thì có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng như: Sảy thai, vô sinh, tử vong sản khoa, mù lòa, tàn phế,. Bên cạnh đó, nhiều bệnh STDs còn gây ra tình trạng nhiễm bệnh từ người mẹ cho trẻ trong thời kỳ chu sinh.
Trong những năm gàn đây, khi đại dịch HIV/AIDS lan tràn ở nhiều khu vực, quốc gia thế giới, việc phòng, chống STDs lại càng trở nên cấp bách hơn vì giữa STDs và HIV/AIDS có mối quan hệ mật thiết với nhau. Virus HIV lây truyền từ người này sang người khác dễ dàng hơn nếu như một trong hai người hoặc cả hai bị mắc STDs, đặc biệt là giang mai, hạ cam, lậu, herpes sinh dục và trùng roi. Các nhiễm khuẩn này làm tăng nguy cơ lây truyền HIV từ 2 - 9 lần khi bị phơi nhiễm, kể cả những STDs không gây loét mà chỉ có viêm nhiễm cũng làm tăng lây truyền HIV vì trong dịch tiết có tăng bạch cầu đa nhân. Các bạch cầu này vừa là mục tiêu vừa là nguồn lây HIV.
Hơn nữa, một người nhiễm HIV dễ bị mắc STDs hơn do sức đề kháng giảm, đồng thời khiến cho việc điều trị STDs cũng phức tạp hơn rất nhiều. Các nghiên cứu trên thực địa cho thấy rằng việc kiểm soát tốt STDs sẽ làm giảm số người mới mắc HIV. Bên cạnh đó, việc khám chữa bệnh - truyền thông giáo dục sức khỏe cho những người bị mac STDs và có nguy cơ nhiễm STDs sẽ là cơ hội tốt đế thực hiện các hoạt động thông tin - giáo dục — truyền thông phòng chống lây nhiễm HIV/A1DS rất hiệu quả. KHÁI QUÁT VÈ CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC (STDs): [1], [3], [8], [9], [12] Bệnh STDs là những bệnh viêm nhiễm ở bộ phận sinh dục là chủ yểu nhưng cũng có thể lan truyền khắp cơ thể.
Bệnh lây từ người này sang người khác qua 7 QHTD không được bảo vệ. Bệnh STDs chủ yếu lây qua âm đạo, hậu môn, miệng nhưng cũng có thể lây qua các đường khác như tiêm chích, tiếp xúc trực tiếp với tổn thương của bệnh. Tên gọi trước kia của căn bệnh này là bệnh hoa liễu, đến nay người ta đã tìm được trên 24 bệnh LTQĐTD. Trong đó, một số bệnh thường gặp là: 1.
Bệnh lậu (Gonorrhoea) Bệnh lậu, do cầu khuẩn lậu (Neisseria gonorrhoea) gây ra, đã được biết đến từ lâu. Triệu chứng cùa bệnh thường xuất hiện sau khi có QHTD với người mắc bệnh từ 3 - 7 ngày. Nữ giới thường không thấy dấu hiệu gì đặc biệt, có thể thấy đau khi đi tiểu, ra nhiều khí hư có màu xanh hoặc vàng mùi hôi, đau bụng dưới âm ỉ, đau họng và sốt nhẹ. Nam giới sẽ thấy đau như dao cắt khi đi tiểu, có mủ tiết ra ở đầu dương vật, có thể có sốt.
Cũng có người bị mắc bệnh nhưng không thấy dấu hiệu gì bất thường. Bệnh lậu có thể gây vô sinh cho cả nam và nữ nếu bị mắc bệnh mà không chữa trị đúng và kịp thời. Bệnh giang mai (Syphilis) Bệnh giang mai cũng được biết đến từ rất lâu do vi khuẩn giang mai (Treponema pallidum) gây nên. Bệnh rất nguy hiểm cần phải được phát hiện, chữa trị đúng và kịp thời.
Bệnh tiến triển qua 3 giai đoạn với các dấu hiệu ở cả nam và nữ như sau: - Giai đoạn 1: Sau khi QHTD với người mắc bệnh từ 10-90 ngày thấy xuất hiện một số nốt sần màu đỏ không đau ở trên da. VỊ trí nốt sần có thể ở bất cứ nơi nào trên cơ thể, trong âm đạo, hậu môn hoặc ở trong miệng. Nốt sần đã mất đi nhưng bệnh vẫn tiếp tục phát triển sang giai đoạn 2. - Giai đoạn 2: Sau giai đoạn 1 khoảng 6 tuần.
Xuất hiện phát ban khắp cơ thế, đặc biệt thấy nhiều ở tay, lòng bàn tay, lòng bàn chân. Các nốt ban sẽ mất đi sau 2-4 ngày. Người bệnh có thể sốt với nhiệt độ dao động, ăn không ngon miệng, giảm cân nhanh, thể trạng cảm thấy mệt, yếu. Các dấu hiệu ở giai đoạn này rất dễ nhầm với nhiều bệnh khác và vì thế, có thể được chữa trị không đúng.
- Giai đoạn 3: Sau 2-20 năm thì não, hệ thần kinh, hệ tim mạch bị ảnh hưởng nặng nề, người bệnh rất gầy yếu, rụng tóc, bị tâm thần, bị liệt và cuối cùng sẽ chết. Bệnh nhiễm Chlamydia đường sinh dục - tiết niệu Bệnh do vi khuẩn có tên Chlamydia trachomatis gây nên. Triệu chứng thường xuất hiện sau khi QHTD với người bệnh từ 2 - 14 ngày. Nữ giới mắc bệnh thường không có dấu hiệu gì đặc biệt, có thể có đau bụng dưới âm ỉ, dịch tiết âm đạo nhiều.
Bệnh nhân có thể thấy chảy máu sau khi QHTD hay giữa chu kỳ kinh, đau khi giao họp và đi tiểu. Trường họp không được điều trị, bệnh sẽ gây viêm vùng chậu hông, có thể dẫn đến chửa ngoài tử cung hoặc vô sinh. Nam giới bị mắc bệnh cũng thường không thấy dấu hiệu gì, có thể ngứa rát khi đi tiểu, nếu không điều trị có thể dẫn đến viêm tinh hoàn và bìu. Bệnh trùng roi đường sinh dục (Trichomoniasis) Bệnh còn được gọi là viêm âm đạo do trùng roi, do loại ký sinh trùng có tên là trùng roi (Trichomonas vaginalis) gây ra.
Sau khi bị nhiễm trùng roi từ 4 ngày đến 3 tuần ở nữ có thể thấy dịch âm đạo tiết ra nhiều bọt màu hơi vàng, có mùi không bình thường, ngứa âm hộ. Phần lớn cả nam và nữ khi mắc bệnh này thường không có dấu hiệu gì trong thời gian khá dài. Bệnh sùi mào gà sinh dục (Genital warts) Bệnh do vi rút sùi mào gà (Human papiloma virus) gây ra. Sau khi vi rút xâm nhập từ 2 - 3 tháng thấy xuất hiện một mụn sần, sau đó các mụn khác sẽ phát triển tập trung nhiều xung quanh mụn ban đầu và sùi lên trông giống hoa súp lơ hay mào gà.
Mụn sần có thể mọc đơn lẻ chứ không tập trung thành nhóm, có mụn không sùi lên mà lại phẳng, rất mềm, mục có thể phát triển ở dương vật, âm đạo và xung quanh da hậu môn. Bệnh rât khó chữa khỏi, hay tái phát và gây biển dạng cơ quan sinh dục và gây đẻ khó ở phụ nữ. Bệnh Ecpet sinh dục (Genital herpet) Hay còn gọi là mụn rộp sinh dục, do virus Herpet gây nên. Đổi với phụ nữ bị nhiễm bệnh thì có nguy cơ lây nhiễm thai nhi, gây sẩy thai, viêm não - màng não,.
Các xét nghiệm hiện nay ở Việt Nam chưa sẵn có, vì vậy chẩn đoán chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng. Thời gian ủ bệnh 3-5 ngày. Hơn một nửa số bệnh nhân không có triệu chứng hoặc triệu chứng rất nhẹ. Triệu chứng chủ yếu là xuất hiện các mụn nước ở bộ phận sinh dục, các mụn này nhanh chóng vỡ ra để lại các vết loét nông, đau và liên kêt với nhau thành vêt lớn có bờ hình vòng cung.
Kèm theo là các triệu chứng toàn thân của viêm nhiễm. Bệnh rất dễ bội nhiễm vi khuẩn khác khiến tổn thương trầm trọng hơn. Thời gian tiến triển thường từ 2 - 3 tuần. Het đợt tiến triển, tuy bệnh nhân khỏi nhưng chỉ là về triệu chứng, virus vẫn tồn tại trong cơ thể nên gây ra tái phát nhiều lần.
Bệnh hạ cam (Chancroid) Bệnh gây ra do nhiễm loại vi khuẩn Haemophilus ducreyi. Tổn thương là vet loét mềm ở bộ phận sinh dục xuất hiện thường 3-5 ngày sau khi bị lây bệnh. Trái với giang mai, tổn thương loét thường không đau và tự lành sau một thời gian, tổn thương loét của hạ cam tồn tại nhiều tháng, nhiều năm nếu không được điều trị. Bên cạnh triệu chứng chính là loét, bệnh nhân còn có sưng, đau hạch.
Bệnh viêm gan B (Hepatitis B) Do vi rút viêm gan B gây ra, bệnh lây truyền qua QHTD không an toàn, qua đường máu. Triệu chứng xuất hiện sau khi nhiễm vi rút 2 - 6 tháng, có dấu hiệu mệt mỏi, chán ăn, đau bụng, buồn nôn, nôn, vàng da và sau đó xuất hiện các ban trên da. Vi rút viêm gan B có thể xâm nhập vào cơ thể rất lâu mà không có triệu chứng gì trong một thời gian dài sau đó gây tổn thương cho gan và dẫn đến xơ gan hoặc ung thư gan. HIV/AIDS :[8], [9], [12], [60], [64] Ca bệnh AIDS được phát hiện đẩu tiên năm 1981 ở Los Angeles với các biểu hiện viêm phối nặng do Pneumocystis carinii (PCP - Một loại ký sinh trùng đơn bào chỉ gây bệnh trên người suy giảm miễn dịch) trên 5 thanh niên đồng tính luyến ái.
Tảc nhân gây AIDS là vi rút HIV - một loại retrovirus, nên nó có các đặc điểm của nhóm vi rút này, đó là các ARN vi rút có men sao chép ngược mà bản chất là AND polymeraza phụ thuộc ARN. 1- Lịch sử tự nhiên của nhiễm HIV/AIDS: 10 Thời gian chuyển đổi huyết thanh là thời kỳ giữa nhiễm HIV và sự xuất hiện các kháng thể có thể phát hiện bằng xét nghiệm thông thường gọi là giai đoạn cửa sổ. Thời gian ủ bệnh có thể là thay đổi và lâu, trung bình 10 năm nhưng có thể lâu hơn tới 15 năm. Tiếp đến xuất hiện những triệu chửng như chán ăn, suy kiệt, lở loét, ỉa chảy, nấm miệng.
Thời gian sống sót trung bình sau khi có chẩn đoán AIDS là 1 - 2 năm nhưng cũng có thê ngắn hơn. 2- Các yếu tố nguy cơ và yếu tố làm tăng nguy cơ: +) Các yếu tổ nguy cơ nhiễm HIV: Tuy bao gồm nhiều yếu tố nhưng nối bật nhất là một số nguy cơ như: Có nhiều bạn tình, không dùng bao cao su khi QHTD, tiêm chích ma túy. +) Các yếu tố sinh học làm tăng nguy cơ nhiễm HIV: mắc các bệnh lây truyền qua đường sinh dục (STDs), nhất là các bệnh gây loét bộ phận sinh dục như herpes, giang mai, hạ cam, virus Epstein-Barr, viêm gan B, không cắt bao quy đâu ở nam giới. 3- Các đường lây truyền HIV: +) Ba đường lây truyền chính: - Các hình thức QHTD: HIV lây truyền qua giao hợp với người bị nhiễm HIV, sự giao họp thường xảy ra qua giao hợp nam - nữ, nhưng cũng có thể nam - nam qua đường hậu môn ở những người sinh hoạt tình dục đồng giới hay khác giới.