đặt vấn đề với mô hình này và nhận ra tầm quan trọng của nhà giao dịch theo cảm tính vì nó góp phần vào tính thanh khoản của thị trường. Ông cũng kết luận rằng "Thông tin theo cảm tính làm cho thị trường tài chính tồn tại, nhưng cũng làm cho nó không hoàn hảo." Hiện nay, giao dịch theo cảm tính chiếm một vị trí quan trọng trong lý thuyết tài chính. Nó đã trở thành nền tảng của lý thuyết cấu trúc vi mô thị trường kể từ khi Kyle (1985). Nó đã được đề xuất như một lời giải thích cho các tài sản có giá "bất thường" cũng như "những biến động quá mức khó giải thích" đầu tiên được ghi bởi Shiller (1981) và LeRoy và Porter (1981).
Và giao dịch theo cảm tính đóng một vai trò trung tâm trong các tài liệu đang phát triển về tài chính hành vi. Ví dụ, De Long, Shleifer, Summers, và Waldman (1990) cho thấy rủi ro giao dịch theo cảm tính là một giới hạn chênh lệch giá đáng kể mà nó có thể gây trở ngại cho thị trường về mặt thông tin hiệu quả. Sự quan tâm nghiên cứu về việc này tiếp tục tăng khi các vấn đề về nhận dạng của giao dịch theo cảm tính đã được đơn giản hóa bởi Shefrin và Statman (1994), người đã phân loại rằng bất kỳ giao dịch nào giao dịch không dựa trên thông tin là giao dịch theo cảm tính. Điều này dẫn đến sự phát triển của một số mô hình như SIA, Starks và Tinic (2001), Osler (1998) và Ramiah và Davidson (2007), họ nỗ lực để tính toán được giao dịch theo cảm tính.
Trong khi các nghiên cứu trước đây tập trung vào sự phát triển của các mô hình để nắm bắt các giao dịch theo cảm tính, thì nhiều nghiên cứu hiện nay được thực hiện để kiểm tra tính phù hợp của các mô hình hiện có. Về nghiên cứu thực nghiệm, các nghiên cứu trước đây trong lĩnh vực này cũng cho các kết quả khác nhau. French và Roll (1986) kết luận rằng giao dịch theo cảm tính gây ra chỉ một phần nhỏ vào sự biến động lợi nhuận hàng ngày. Sử dụng tỷ lệ phương sai và tương quan lợi nhuận hằng ngày, French và Roll (1986) ước tính rằng chỉ có 4% đến 12% của biến động lợi nhuận hàng ngày là do giao dịch theo cảm tính.
1580), 4% là "con số khó để kết luận rằng giao dịch theo cảm tính dẫn đến thị trường kém hiệu quả một cách đáng kể." 123doc 11 Bên ngược lại cho thấy rằng tin tức từ nguyên tắc cơ bản giải thích tương đối nhỏ trên biến động trong tổng lợi nhuận. Ví dụ, Roll (1988) báo cáo rằng chỉ có 20% của biến động lợi nhuận hàng ngày các cổ phiếu trung bình lớn là do nguyên tắc cơ bản. Nghiên cứu tiếp theo như De Long, Shleifer, Summers, và Waldman (1990) (DSSW (1990)) đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm trực tiếp chống lại vấn đề này của giả thuyết thị trường hiệu quả bằng cách đưa ra những loại kinh doanh có ảnh hưởng đến thị trường thông qua các rủi ro do các giao dịch theo cảm tính. Trong vài năm trở lại đây, ở Việt Nam một số nhà nghiên cứu cũng đã bắt đầu dành mối quan tâm đối với tài chính hành vi, nhiều luận văn, đề tài về tài chính hành vi, hành vi nhà đầu tư nở rộ.
Nhưng dường như các nghiên cứu này tập trung vào lý giải hành vi thị trường, hành vi nhà đầu tư, chưa thật sự đi sâu vào các giao dịch theo cảm tính; cơ sở lý thuyết của giao dịch theo cảm tính; thực trạng ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của giao dịch theo cảm tính này đến giá cả thị trường chứng khoán Việt Nam thế nào. Nghiên cứu này sẽ làm rõ hơn về vấn đề này. Cơ sở lý thuyết về giao dịch theo cảm tính trên thế giới rất phong phú: điển hình cho các trường phái như: Friedman (1953) và Fama (1965); Shiller (1981); De Long, Shleifer, Summers, và Waldman (1990); Shefrin và Statman (1994). Nhưng những nghiên cứu này nặng về phần lý thuyết, chỉ dừng lại ở mức khẳng định có giao dịch theo cảm tính và mức độ ảnh hưởng của giao dịch theo cảm tính, những trường phái càng sau này càng cho rằng mức độ ảnh hưởng của giao dịch theo cảm tính, rủi ro của các giao dịch theo cảm tính cao hơn so với các nghiên cứu trước, mô hình phức tạp và chưa thấy có chiều hướng ứng dụng vào thực tế.
Tuy nhiên, tác giả dựa vào những nghiên cứu này để kết luận rằng có giao dịch theo cảm tính, rủi ro giao dịch theo cảm tính và mức độ ảnh hưởng của nó cần phải được đi sâu xem xét, để tác giả có thể nghiên cứu tiếp liệu thị trường chứng khoán Việt Nam có bị ảnh hưởng bởi yếu tố cảm tính hay không, ảnh hưởng với mức độ nào và nhà đầu tư Việt Nam bị ảnh hưởng bởi những yếu tố nào khi đưa ra quyết định đầu tư. Để từ đó chúng ta có thể thấy được liệu thị trường chứng khoán Việt Nam có phải là thị 123doc 12 trường hiệu quả hoàn toàn, hay không hiệu quả hoàn toàn, hay khá hiệu quả nhưng có ảnh hưởng bởi yếu tố cảm tính. Mô hình giao dịch dựa vào thông tin có điều chỉnh yếu tố cảm tính: Bằng chứng thiếu hiệu quả của TTCK Úc Tóm tắt và giới thiệu mô hình Vikash Ramiah and Sinclair Davidson (VS) đã mô tả sự tương tác giữa các giao dịch dựa vào cảm tính, giao dịch dựa vào thông tin. VS không cho rằng giao dịch thông tin là không có lỗi.
Thay vào đó các nhà giao dịch dựa vào thông tin có thể sai sót dẫn đến phản ứng chậm và phản ứng thái quá. Nhà giao dịch thông tin thậm chí có thể thêm vào các lỗi giá trên thị trường. Những tương tác này được thể hiện trong mô hình giao dịch thông tin có điều chỉnh yếu tố cảm tính của VS. VS thử nghiệm mô hình bằng cách sử dụng dữ liệu từ thị trường chứng khoán Úc.
Thị trường này có chế độ công bố thông tin liên tục cho phép chúng ta xác định khi thông tin được đưa ra thị trường. VS trình bày bằng chứng phù hợp với quan điểm cho rằng thị trường thường là nguồn thông tin không hiệu quả. Nghiên cứu này của VS mô tả sự tương tác giữa các giao dịch thông tin và giao dịch theo cảm tính. Không giống như phần lớn các nghiên cứu tài chính hành vi, VS không cho rằng nhà đầu tư thông tin nhất thiết phải lảm cho thị trường trở lại giá trị cơ bản.
Nhà giao dịch thông tin kinh doanh trên cơ sở thông tin nhưng cũng có thể gặp lỗi trong quá trình giải thích thông tin đó. Nhà giao dịch cảm tính kinh doanh trong trường hợp không có thông tin. Nhà kinh doanh thông tin cũng có thể sửa chữa được lỗi định giá được gây ra bởi các nhà giao dịch cảm tính-điều này chỉ là một trong những kết quả mà VS mô tả. Mặt khác, nhà kinh doanh thông tin có thể chỉnh sửa thái quá hoặc chỉnh sửa chưa tới mức lỗi cảm tính.
Điều này đưa đến một trong hai phản ứng: phản ứng chậm hoặc phản ứng thái quá. Hơn nữa, nhà giao dịch dựa trên thông tin có thể làm cho các lỗi tương tự cho các nhà kinh doanh theo cảm tính và thêm vào hoặc giảm bớt các lỗi giá cả trên thị trường. Sự tương tác giữa các nhà đầu tư thông tin và nhà giao dịch cảm tính không giống nhau để trở thành một nhà 123doc 13 giao dịch thông tin có thể sửa được lỗi giá; Mô hình điều chỉnh thông tin có yếu tố cảm tính (IANM) đã thể hiện, nắm bắt được vấn đề này. Sở Giao dịch chứng khoán Úc (ASX) là một nơi thử nghiệm lý tưởng cho mô hình của VS.
ASX có một chế độ tiết lộ liên tục nơi các công ty được yêu cầu phải ngay lập tức tiết lộ bất cứ thông tin về giá phù hợp với thị trường. Mô hình của VS yêu cầu phải "dự đoán" lúc các nhà giao dịch theo thông tin hoạt động trên thị trường. VS cũng đưa ra giả định rằng các nhà giao dịch theo cảm tính hoạt động liên tục trên thị trường, nhưng các nhà giao dịch theo thông tin chỉ giao dịch khi có thông tin đến thị trường. Bằng cách quan sát các công ty công bố thông tin, VS có thể xác định lúc các nhà giao dịch theo thông tin có thể sẽ giao dịch.
VS trình bày bằng chứng cho thấy ASX thường không hiệu quả về khía cạnh thông tin. Trong giai đoạn mẫu của VS, Ông cũng phát hiện giả thuyết thị trường hiệu quả (EMH) bị vi phạm trên 62.98% trên tổng số ngày. Các hành vi vi phạm phổ biến nhất xảy ra khi nhà giao dịch theo thông tin làm tăng thêm lỗi giá. Các hành vi vi phạm phổ biến thứ hai về thông tin hiệu quả là phản ứng dưới mức.
Trong phần thứ hai, VS mô tả mô hình của ông, phần thứ ba gồm các ước tính thực nghiệm và phần thứ tư đưa ra những kết luận. Mô hình thông tin có điều chỉnh yếu tố cảm tính Phần này đưa ra sự hiểu biết về mô hình thông tin có điều chỉnh yếu tố cảm tính và tính thực nghiệm của mô hình. Nó cũng sẽ cung cấp một sự khác biệt ngắn gọn giữa lý thuyết thị trường hiệu quả của lý thuyết tài chính hiện đại và lý thuyết thị trường hiệu quả của lý thuyết tài chính hành vi. VS cũng định nghĩa các nhà giao dịch dựa trên thông tin là những người hình thành những mong đợi dựa trên thông tin và kinh doanh dựa vào các mong đợi đó.
VS không giả định rằng các nhà kinh doanh dựa trên thông tin là hoàn toàn sáng suốt hoặc họ luôn luôn hình thành các mong đợi đúng. Mà định nghĩa của VS về người giao dịch dựa trên thông tin là rộng hơn so với định nghĩa của Shefrin và Statman [1994]. Họ định nghĩa rằng người giao dịch dựa trên thông tin là người có ý kiến 123doc 14 chủ quan đồng nhất với những điều khách quan có thể xảy ra. Theo ý kiến của VS, đây là định nghĩa quá vội vàng và giống như nó xuất hiện một cách tình cờ.
Mà định nghĩa của VS, những nhà giao dịch theo thông tin dựa trên những mong đợi của họ về thông tin nhưng không phải lúc nào thông tin này cũng thể hiện đúng. Nói theo cách khác, nhà giao dịch dựa vào thông tin có thể gặp sai lầm. Và nhà giao dịch theo cảm tính không thể sử dụng thông tin để hình thành mong đợi của họ và họ có thể kinh doanh dựa vào bất cứ lý do gì.