Luận án tiến sỹ kinh tế nghiên cứu hành vi mua thực phẩm an toàn của ngƣời tiêu dùng và vận dụng vào hoạt động marketing tại các doanh nghiệp thƣơng mại bán lẻ hàng thực phẩm trên địa bàn hà nội

Tài liệu nghiên cứu Luận án tiến sỹ kinh tế nghiên cứu hành vi mua thực phẩm an toàn của ngƣời tiêu dùng và vận dụng, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Trường Đại Học Thương Mại

Chuyên ngành

Kinh doanh Thương Mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

252
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hành vi tiêu dùng thực phẩm an toàn

Nghiên cứu hành vi tiêu dùng thực phẩm an toàn tại Hà Nội cho thấy rằng hành vi tiêu dùng của người dân đang dần thay đổi theo hướng tích cực. Người tiêu dùng ngày càng nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của thực phẩm an toàn trong cuộc sống hàng ngày. Theo khảo sát, có khoảng 70% người tiêu dùng cho biết họ ưu tiên lựa chọn thực phẩm có nguồn gốc rõ ràng và được chứng nhận an toàn. Điều này phản ánh sự gia tăng trong thói quen mua sắm của người tiêu dùng, khi họ không chỉ quan tâm đến giá cả mà còn đến chất lượng và an toàn thực phẩm. Việc này cũng cho thấy sự cần thiết phải có các chiến lược marketing cho doanh nghiệp bán lẻ thực phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.

1.1. Đặc điểm hành vi mua thực phẩm an toàn

Hành vi mua thực phẩm an toàn của người tiêu dùng Hà Nội được hình thành từ nhiều yếu tố khác nhau. Các yếu tố tâm lý như tâm lý người tiêu dùngniềm tin vào chất lượng thực phẩm đóng vai trò quan trọng trong quyết định mua hàng. Nghiên cứu cho thấy rằng người tiêu dùng có xu hướng tìm kiếm thông tin về sản phẩm trước khi quyết định mua, điều này thể hiện qua việc họ thường xuyên tham khảo ý kiến từ bạn bè, gia đình hoặc các nguồn thông tin trực tuyến. Hơn nữa, thực phẩm sạchthực phẩm hữu cơ đang trở thành xu hướng tiêu dùng mới, cho thấy sự thay đổi trong nhận thức và hành vi của người tiêu dùng đối với sức khỏe và an toàn thực phẩm.

II. Ứng dụng marketing cho doanh nghiệp bán lẻ

Để thu hút người tiêu dùng, các doanh nghiệp bán lẻ thực phẩm cần áp dụng các chiến lược marketing hiệu quả. Việc xác định thị trường mục tiêuđịnh vị thị trường là rất quan trọng. Doanh nghiệp cần hiểu rõ về tâm lý người tiêu dùng và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của họ. Các chiến lược marketing mix như sản phẩm, giá cả, phân phối và xúc tiến cần được điều chỉnh phù hợp với nhu cầu và xu hướng tiêu dùng hiện tại. Đặc biệt, việc sử dụng các kênh quảng cáo thực phẩmkênh phân phối hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp tiếp cận gần hơn với khách hàng mục tiêu.

2.1. Chiến lược marketing cho thực phẩm an toàn

Chiến lược marketing cho thực phẩm an toàn cần tập trung vào việc nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về lợi ích của việc tiêu thụ thực phẩm an toàn. Doanh nghiệp có thể sử dụng các hình thức quảng cáo sáng tạo, như tổ chức các sự kiện thử nghiệm sản phẩm hoặc cung cấp thông tin chi tiết về nguồn gốc và quy trình sản xuất thực phẩm. Hơn nữa, việc xây dựng mối quan hệ tốt với khách hàng thông qua các chương trình khuyến mãi và dịch vụ khách hàng tận tâm sẽ tạo ra sự trung thành và tăng doanh thu cho doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cũng nên chú trọng đến việc phát triển đối tượng khách hàngđánh giá sản phẩm để cải thiện chất lượng dịch vụ.

III. Kết quả nghiên cứu và khuyến nghị

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có mối liên hệ chặt chẽ giữa hành vi mua thực phẩm an toàn và các yếu tố marketing của doanh nghiệp. Các yếu tố như giá cả, chất lượng sản phẩm, và dịch vụ khách hàng đều ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng. Doanh nghiệp cần thường xuyên đánh giá sản phẩm và điều chỉnh chiến lược marketing để phù hợp với nhu cầu của thị trường. Khuyến nghị cho các doanh nghiệp là nên đầu tư vào nghiên cứu thị trường để hiểu rõ hơn về thói quen mua sắm của người tiêu dùng và từ đó phát triển các sản phẩm phù hợp.

3.1. Đề xuất cho doanh nghiệp bán lẻ

Doanh nghiệp bán lẻ cần chú trọng đến việc phát triển các sản phẩm thực phẩm sạchthực phẩm hữu cơ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. Bên cạnh đó, việc xây dựng thương hiệu mạnh và tạo dựng niềm tin với khách hàng thông qua các chứng nhận an toàn thực phẩm sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao vị thế cạnh tranh. Các doanh nghiệp cũng nên xem xét việc áp dụng công nghệ trong quản lý và phân phối sản phẩm để tối ưu hóa quy trình và nâng cao trải nghiệm của khách hàng.

07/02/2025
Luận án tiến sỹ kinh tế nghiên cứu hành vi mua thực phẩm an toàn của ngƣời tiêu dùng và vận dụng vào hoạt động marketing tại các doanh nghiệp thƣơng mại bán lẻ hàng thực phẩm trên địa bàn hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu và kết luận, luận án đƣợc kết cấu thành 05 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Khái niệm và tổng quan các công trình khoa học liên quan đến đề tài nghiên cứu Chƣơng 2. Cở sở lý thuyết và thực tiễn về nghiên cứu hành vi mua thực phẩm an toàn của ngƣời tiêu dùng và hoạt động marketing của DNTM bán lẻ thực phẩm Chƣơng 3. Phƣơng pháp nghiên cứu của luận án Chƣơng 4.

Kết quả nghiên cứu hành vi mua thực phẩm an toàn của NTD Hà Nội và hoạt động marketing của DNTM bán lẻ thực phẩm tại địa bàn Hà Nội Chƣơng 5. Kết luận và một số đề xuất về vận dụng kết quả nghiên cứu hành vi mua thực phẩm an toàn của NTD vào hoạt động marketing của DNTM bán lẻ thực phẩm tại địa bàn Hà Nội 6 CHƢƠNG 1 KHÁI NIỆM VÀ TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Trong chƣơng 1, tác giả trình bày các khái niệm cơ bản về thực phẩm an toàn, hành vi mua của NTD, hành vi mua thực phẩm an toàn của NTD, Doanh nghiệp thƣơng mại bán lẻ; Tổng quan các công trình nghiên cứu về hành vi mua của NTD nói chung và hành vi mua TPAT nói riêng. Các nghiên cứu này đƣợc thu thập từ nƣớc ngoài và tại Việt Nam. Những công trình nghiên cứu này là những gợi ý quan trọng về cơ sở lý thuyết, phƣơng pháp nghiên cứu của luận án.

Các khái niệm cơ bản 1. Thực phẩm an toàn 1. Khái niệm TPAT và một số khái niệm liên quan Thực phẩm là sản phẩm mà con ngƣời ăn, uống ở dạng tƣơi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản. Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng nhƣ dƣợc phẩm (Luật an toàn thực phẩm, NXB Tƣ Pháp, 2010) [41,tr.

Thực phẩm tƣơi sống là thực phẩm chƣa qua chế biến bao gồm thịt, trứng, rau xanh, rau củ, quả tƣơi (Luật an toàn thực phẩm, NXB Tƣ Pháp, 2010) [41, tr. An toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con ngƣời (Luật an toàn thực phẩm, NXB Tƣ Pháp, 2010) [41, tr. Trên thị trƣờng thực phẩm, có nhiều cách gọi khác nhau về thực phẩm an toàn nhƣ: “Thực phẩm sạch”, “Thực phẩm an toàn”. Đối với thực phẩm không an toàn còn có cách gọi là “Thực phẩm bẩn”.

Thuật ngữ “Thực phẩm sạch” hay “Thực phẩm bẩn” là cách gọi thông thƣờng, dân dã để nói về chất lƣợng và tính an toàn của thực phẩm đối với sức khỏe con ngƣời, tuy cách gọi này chƣa chính xác. Còn thuật ngữ “Thực phẩm an toàn”, “Thực phẩm không an toàn” đƣợc sử dụng một cách chính thống trong các tài liệu nghiên cứu, các sách, báo và trong sản xuất, chế biến thực phẩm, cũng nhƣ trong các tiêu chuẩn chất lƣợng, các văn bản pháp luật hay các hợp đồng giao dịch chính tắc. Một số khái niệm về thực phẩm an toàn, rau an toàn (thuộc nhóm thực phẩm an toàn) đƣợc đƣa ra nhƣ sau: Theo Bộ môn Bảo vệ thực vật, Khoa Nông nghiệp và sinh học ứng dụng, Trƣờng Đại học Cần Thơ [36], những mặt hàng rau tƣơi (bao gồm tất cả các loại rau ăn củ, thân, lá, hoa quả có chất lƣợng đúng nhƣ đặt tính giống của nó, hàm lƣợng các hoá chất độc và mức độ nhiễm các sinh vật gây hại ở dƣới mức tiêu chuẩn cho 7 phép, bảo đảm an toàn cho ngƣời tiêu dùng và môi trƣờng, thì đƣợc coi là rau đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là "rau an toàn". Theo Trung tâm chứng nhận phù hợp, Tổng cục Tiêu chuẩn đo lƣờng chất lƣợng, Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam [46], Rau an toàn đƣợc quy định là các chất sau đây chứa trong rau không đƣợc vƣợt quá tiêu chuẩn cho phép: dƣ lƣợng thuốc hóa học; số lƣợng vi sinh vật và ký sinh trùng; dƣ lƣợng đạm nitrat (NO3); dƣ lƣợng các kim loại nặng (chì, thủy ngân, asênic, kẽm, đồng.) Theo Hội Nông dân Hà Nam [39], Thực phẩm an toàn là: - Không chứa tồn dƣ thuốc bảo vệ thực vật, hoá chất, kháng sinh cấm hoặc vƣợt quá giới hạn cho phép.

- Không chứa tạp chất (kim loại, thuỷ tinh, vật cứng …) - Không chứa tác nhân sinh học gây bệnh (vi rút, vi sinh vật, ký sinh trùng) - Có nguồn gốc, xuất xứ đầy đủ, rõ ràng; - Đƣợc kiểm tra, đánh giá chứng nhận về an toàn thực phẩm. Theo Thông Tƣ 59/2012/TT-BNNPTNT “Quy định về quản lý sản xuất rau, quả và chè an toàn”[47], rau, quả an toàn là mặt hàng rau, quả tƣơi đƣợc sản xuất, sơ chế, chế biến phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm hoặc phù hợp với quy trình kỹ thuật sản xuất, sơ chế rau, quả an toàn đƣợc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt hoặc phù hợp với các quy định liên quan đến đảm bảo an toàn thực phẩm có trong quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau, quả tƣơi an toàn VietGAP, các tiêu chuẩn GAP khác và mẫu điển hình đạt các chỉ tiêu an toàn thực phẩm theo quy định. Từ các khái niệm trên, có thể thấy, thực phẩm an toàn là những thực phẩm đƣợc sản xuất, chế biến, tiêu thụ trong điều kiện đảm bảo thực phẩm không gây mất an toàn về sức khỏe, tính mạng, tài sản cho ngƣời sử dụng. Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, loại TPAT đƣợc tập trung nghiên cứu là Thực phẩm tƣơi sống an toàn vì trên thị trƣờng thực phẩm, TPTS an toàn và TPTS không an toàn là khó phân biệt, NTD Hà Nội có thói quen mua TPTS để chế biến cho bữa ăn hàng ngày hơn là mua thực phẩm chế biến sẵn.

Phân loại thực phẩm an toàn Thực phẩm an toàn đƣợc phân thành các loại khác nhau. Theo Rongduo Liu, Zuzanna Pieniak, Wim Verbeke (Thái độ và hành vi của NTD đối với TPAT tại Trung Quốc, 2013) [86], thực phẩm an toàn bao gồm thực phẩm không gây hại (hazard free food), thực phẩm xanh (green food) và thực phẩm hữu cơ (organic food). Nguyên Phó Thủ tƣớng Nguyễn Công Tạn (Sản xuất nông phẩm, thực phẩm theo công nghệ sạch, 2010) [23] cho rằng, thực phẩm sạch đƣợc chia làm ba loại 8 gồm thực phẩm không gây hại; thực phẩm sinh thái (thực phẩm xanh) và thực phẩm hữu cơ. Tác giả đồng ý với quan điểm của Rongduo Liu, Zuzanna Pieniak, Wim Verbeke (2013) [86], nghĩa là, thực phẩm an toàn bao gồm thực phẩm không gây hại, thực phẩm xanh và thực phẩm hữu cơ.

Một số quan điểm về thực phẩm không gây hại, TPHC, thực phẩm xanh nhƣ sau: - Thực phẩm không gây hại. Theo Huang, Wu, Rong, You, & Jiang (Thẩm định chất lƣợng môi trƣờng cho vùng sản xuất rau không gây hại, 1999) [63], thực phẩm không gây hại là thực phẩm có chất lƣợng tốt, bổ dƣỡng và an toàn, có tồn dƣ các hóa chất độc hại nhƣ phân bón, thuốc trừ sâu, kim loại nặng, nitrat ở dƣới mức giới hạn cho phép, đƣợc thiết lập bởi các tiêu chuẩn quốc gia. - Thực phẩm hữu cơ Theo Jia, Liu, Wang, và Liu (2002) [68], THHC là loại thực phẩm mà trong quá trình sản xuất, kinh doanh không sử dụng tuyệt đối các loại hóa chất tổng hợp nhân tạo nhƣ phân bón, thuốc trừ sâu, chất kích thích tăng trƣởng trong thức ăn chăn nuôi và các chất phụ gia công nghệ biến đổi gen. Theo tổ chức nông nghiệp và thực phẩm thế giới (FAO), thực phẩm hữu cơ là những thực phẩm đƣợc nuôi trồng trong điều kiện tự nhiên không có hóa chất, kháng sinh, công nghệ biến đổi gen hay bất kỳ hóa chất tổng hợp nào.

Mặc dù vậy, hiện nay vẫn còn có những tranh luận về thuật ngữ “thực phẩm hữu cơ”. - Thực phẩm xanh. Theo Zhang và cộng sự (Đánh giá thị trƣờng nông sản không gây hại và các chính sách có liên quan, 2002) [99] cho rằng, thực phẩm xanh đƣợc hiểu theo khái niệm về bảo vệ môi trƣờng và phát triển bền vững. Mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất thực phẩm xanh phải đáp ứng các tiêu chuẩn bảo vệ môi trƣờng, tuân thủ các quy định của cơ quan chuyên môn có thẩm quyền.

Thực phẩm xanh đƣợc chia ra 2 cấp, gồm cấp AA và cấp A. Theo Qin, Li, và Tần (Sự khác nhau và mối quan hệ giữa thực phẩm hữu cơ, thực phẩm xanh, thực phẩm không gây hại, 2003) [85], thực phẩm đạt tiêu chuẩn cấp A coi nhƣ đạt tiêu chuẩn thực phẩm không ô nhiễm môi trƣờng, an toàn với sức khỏe con ngƣời, tức là đạt yêu cầu “an toàn, vệ sinh”, nếu đạt cấp AA coi nhƣ đạt tiêu chuẩn thực phẩm hữu cơ theo tiêu chuẩn quốc tế. Thực phẩm xanh phải đƣợc sản xuất và chế biến trong môi trƣờng tuyệt đối không có ô nhiễm. Các nguyên liệu nông sản, gia súc, gia cầm, thuỷ sản, quá trình trồng trọt, chăn nuôi và gia công đều phải phù hợp quy trình sản xuất quy định.

Ví dụ, phải khoanh một vùng đồng ruộng chuyên dùng để sản xuất thực phẩm xanh, 9 phải chọn giống tốt có sức kháng bệnh cao, dùng phƣơng pháp thiên địch để chữa bệnh, dùng phân bón hữu cơ đã ủ hoại để bón, không dùng phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật và các hoá phẩm khác, khiến cho tàn dƣ các chất gây ô nhiễm môi trƣờng trong thực phẩm tồn tại thấp nhất. Từ khái niệm về các loại TPAT ở trên, có thể thấy, thực phẩm hữu cơ là loại thực phẩm mà trong quá trình sản xuất không đƣợc sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ hóa học và không chứa chất kích thích tăng trƣởng/ tăng trọng, thực phẩm xanh cần phải đƣợc trồng trong môi trƣờng hoàn toàn không ô nhiễm. Do vậy, thực phẩm hữu cơ, thực phẩm xanh là những loại thực phẩm có rất ít trên thị trƣờng, giá thành rất cao, không có nhiều DNTM bán lẻ TPAT kinh doanh loại thực phẩm này. Thực phẩm không gây hại là loại thực phẩm trong quá trình sản xuất đƣợc sử dụng một số chất hóa học nhằm phòng và chống bệnh cho cây trồng/ vật nuôi, nhƣng loại thực phẩm này phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về việc sử dụng các hóa chất nhƣ hàm lƣợng, thời gian trƣớc thu hoạch.

nhằm đảm bảo sản phẩm không gây hại cho sức khỏe ngƣời sử dụng. Loại thực phẩm không gây hại có năng suất cao hơn thực phẩm hữu cơ và thực phẩm xanh, giá thành không chênh lệch nhiều so với thực phẩm thông thƣờng, nên các DN bán lẻ kinh doanh loại TPAT này là chủ yếu, những mặt hàng TPAT mà các DNTM bán lẻ kinh doanh phải đƣợc các cơ quan chứng nhận đảm bảo VSATTP.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu hành vi mua thực phẩm an toàn và ứng dụng marketing cho doanh nghiệp bán lẻ tại Hà Nội" cung cấp cái nhìn sâu sắc về thói quen tiêu dùng của người dân Hà Nội đối với thực phẩm an toàn. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua sắm mà còn đề xuất các chiến lược marketing hiệu quả cho các doanh nghiệp bán lẻ. Những điểm nổi bật trong tài liệu bao gồm sự quan tâm ngày càng tăng của người tiêu dùng đối với chất lượng thực phẩm, cũng như cách mà các doanh nghiệp có thể tận dụng xu hướng này để tăng cường sự cạnh tranh và phát triển bền vững.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến an toàn thực phẩm và quản lý chất lượng, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận án nghiên cứu phát triển kỹ thuật quechers gc ms 3 sim để phân tích đồng thời dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong đất, nơi bạn sẽ tìm thấy thông tin về các phương pháp phân tích hóa chất trong thực phẩm. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ xác định dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật cơ clo trong gạo bằng phương pháp quechers kết hợp với sắc ký khí khối phổ hai lần gc ms ms sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc kiểm soát chất lượng thực phẩm. Cuối cùng, Xây dựng chương trình quản lý chất lượng theo haccp cho sản phẩm thịt ba rọi xông khói tại cty tnhh mtv việt nam kỹ nghệ súc sản vissan cung cấp cái nhìn về các tiêu chuẩn quản lý chất lượng trong ngành thực phẩm. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về an toàn thực phẩm và các ứng dụng trong marketing.