Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. LÝ THUYẾT HANH ĐỘNG NGÔN NGỮ I. Định nghĩa “hành động ngôn ngữ ” (Speech act) Hành động ngôn ngữ là đối tượng nghiên cứu quan trọng của Ngữ dung học. Đến những năm 60 của thế kỷ XX, J.Searle (1969) đã để xuất “lý thuyết hành động ngôn từ”.
Các ông tin rằng ngôn ngữ không chỉ được dùng để “thông báo hoặc miêu tả cái gì đó ” mà nó còn được dùng để “lam một cdi gì dé”, để thể hiện hành động. Trong các hoạt động của con người, "nói” cũng là một hành động. Khi “nói” con người đồng thời thực hiện một hành động, hành động đó gọi là hành động ngôn từ. Như vậy hành động ngôn từ là sự tác động bằng ngôn từ của người nói đến người nghe.
Người nói ở đây bằng hoạt động lời nói truyền đạt đến người nghe một thông điệp ngôn từ có nội dung thông báo nội dung hành động. Đồng thời với việc truyền đạt thông điệp ngôn từ này, người nói đã thực hiện một hành động. Đơn cử một trường hợp cụ thể như “hành động chào ". Khi người nói thực hiện phát ngôn “Chào”, “Xin chào”.
thì đồng thời người đó cũng thực hiện hành động “chào” đối với người nghe. Hành động ngôn ngữ là hành động được thực hiện bằng ngôn từ. Hành động ngôn từ chính là ý định về mặt chức năng của một phát ngôn. Như vậy, hành động ngôn ngữ là hành động chuyển tải một thông điệp từ người nói đến người nghe thông qua phương tiện ngôn ngữ để gây nên hiệu quả về ngôn ngữ và hành động.
Đặc điểm của hành động ngôn từ a. Hành động ngôn từ mang tính chất trừu tượng cao. Đặc điểm này cia hành động ngôn ngữ được thé hiện ở hai dang thức: 10 Thứ nhất, hành động ngôn ngữ là sự tác động bằng ngôn từ. Đây chính là sự tác động mang tính chất thuần tuý ngôn ngữ tức là sự thông báo và tiếp nhận chi ở trong phạm vi ngôn từ như việc nói A chỉ là để thông báo A.
Thứ hai, hành động ngôn ngữ là “dạng thức đặc biệt”. Đó “la sự rác động tương đương với một hành động ”(9; 25). Theo cách này, hệ quả của tác động ngôn ngữ là hành động. Tức là, người nói tác động đến người nghe bằng lời nói nhưng người nghe có thể cảm nhân ở sự tác động lời nói ấy là sự tác động của một hành động thực su.
Chẳng hạn như hành động “mời” được thể hiện bằng những phát ngôn cu thể như “Mời bác vào nhà”; “Xin mời quí vị đứng lên”, “Em có vui lòng đi với tôi không". Sau khi thực hiện chuyển tải phát ngôn này đến người nghe, người nói đồng thời thực hiện hành động “mdi” đối với người đó. Hành động ngôn ngữ phụ thuộc vào ngữ cảnh, thói quen giao tiếp và quan hệ giữa chủ thể và đối thể giao tiếp. Việc xem xét một hành động ngôn ngữ mà không gắn với ngữ cảnh cụ thể là điểu không thể thực hiện được.
Hành động ngôn ngữ được nhận ra qua cung cách phát ngôn và cấu trúc phát ngôn. Các chủ thể trong giao tiếp sẽ dễ dàng nhận ra điểu đó vì trong tình huống giao tiếp nào, trong mối quan hệ giữa người nói và người nghe như thế nào thì dùng hành động nào, lời nói nào. Thí dụ như trong hai trường hợp sau: (1) Con coi băng học tiếng Anh đó chứ. (2) Con coi băng học tiếng Anh kia.
(Ví dụ của Nguyễn Đức Dân) (1) Được coi là hành động bác bỏ một kết luận rằng chủ thể (con) đã làm một việc P (coi băng) mà P được xem là không tốt. (2) Được coi là một hành động từ chối. Ở đây là từ chối một dé nghị. Từ chối theo cách đưa ra một để nghị khác (để nghị được coi băng học tiếng Anh).
Tóm lại, với tính chất trừu tượng hành động ngôn ngữ là một khái niệm không đơn giản. Hành động ngôn ngữ chỉ có thể được hiểu một cách thấu đáo qua việc gắn liền nó vào ngữ cảnh. Đây là thao tác tối cần thiết khi nghiên cứu hành động ngôn ngữ. Phân loại hành động ngôn từ Theo cách phân chia của J.Austin, hành vi ngôn ngữ (Speech act) được chia thành: - Hành động tạo lời - Hành động tại lời - Hành động mượn lời.
H đôn i ionnary act Khi có dự định tác động đến đối phương giao tiếp bằng lời nói, người phát ngôn sẽ tiến hành hành động sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như : ngữ âm, từ ngữ, các kiểu kết hợp từ thành câu. để tạo ra một phát ngôn thích hợp về hình thức và nội dung. “Mdi hành vi tạo lời tạo ra một nội dung mệnh đề và do đó có ý nghĩa xác định" [28; 1 19]. Hành đề lời (Perllocuti.
Vé mặt hình thức, câu ngôn hành có thể thé hiện hành động này nhưng trong từng ngữ cảnh, với từng đối tượng tiếp nhận hành động ngôn ngữ khác nhau còn thể hiện những hành động khác. Sự thể hiện ngầm ẩn như vậy gọi là hành động mượn lời. Nói một cách rõ ràng, hành động mượn lời là hành động mượn các phương tiện ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ ở người nghe, người nhận hơn chính người nói (tức là người nói người nói sử dụng ngôn ngữ của mình dé tác động đến tư tưởng, tinh cảm, hành vi của người nghe, người nhận. Để hiểu hơn khái niệm này có thể phân tích ví dụ sau : Với một hành động thông báo “Tôi sẽ tham gia đoàn thanh tra vụ việc này”.
Đối với người bình thường thì đây chỉ là một thông báo bình thường. Nhưng người nói có thé đùng nó để gây ra những hành động mượn lời khác nhau: 12 - Người nói muốn gây tâm tý phấn khởi nơi người tốt và làm lo lắng những thế lực tiêu cực, tham nhũng nếu người nói thực sự là một cán bộ liêm khiết và có năng lực. - Ngược lại, lời nói trên có thể dùng để :rấn an những người đã sai phạt trong một vụ việc nếu họ và người nói cùng hội cùng thuyền. - Hoặc người nói dùng thông báo trên “tao ra sự khiếp sợ” nơi người nghe nhằm gợi ý cho những kẻ dính líu vào vụ việc phải “biết điểu” với ông ta.
Đây là hành động được thể hiên ngay trên bé mặt cấu trúc, hình thức của câu. Có thể xác định hành động này thông qua động từ ngôn hành hoặc những kết cấu, từ ngữ chuyên dùng thay thế cho động từ ngôn hành. Vị dụ : Xét các phát ngôn : (1) Cho tôi hỏi có anh Nam ở nhà không? + Hành động hỏi vì có dùng động từ ngôn hành “Adi”. (2) Có anh Nam ở nhà không? “ Hành động hỏi vì có dùng cặp từ để hỏi "có .không?") Như vậy “hành động tại lời là hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng.
Hiệu quà của chúng là hiệu quả thuộc ngôn ng, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận” [1; 89]. Tức là qua lời nói có một hiệu lực gì, mục đích gì. Trong giao tiếp chúng ta có những hành động hỏi, trả lời, ra lệnh, yêu cẩu, để nghị, cam kết. Muốn thể hiện chúng ngay “trong lời nói” thì cần “nói ra điều gì đó".
Hành động này được gọi là “hành động tại lời”. Gọi là hành động tại lời vì nó nằm trong hành động tạo lời. Vị dụ: (3) Cô nên ngủ sớm một chút. (4) Cô có ngủ sớm một chút không? (5) Cô phải đi ngủ ngay bây giờ.
Trên đây: 13 (3) Lời khuyên. Hành động tại lời là *khuyên ". Hành động tại lời là “hỏi `. (5) Câu mệnh lệnh.
Hành động tai lời là “ra lệnh”. Có khi cùng một hành động tại lời chúng ta có thể sử dụng nhiễu hành động tạo lời khác nhau. Chẳng hạn cùng một hành động tại lời là "khuyên bảo”, có thể được thể hiện bằng nhiều hành động tạo lời khác nhau. Vị dụ: (6) Cô không nên mang giày cao gót như thế.
(7) Cô mà mang giầy cao gót như thế sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ lắm đấy. Cả hai phát ngôn (6) và (7) đều thực hiện hành động tại lời là "khuyên bảo”. Song ở phát ngôn (6) thì hành động khuyên bảo được hiện thực hoá bằng động từ “không nên”. Ở phát ngôn (7) hành động tại lời khuyên bảo được hiểu một cách gián tiếp thông qua ý nghĩa của phát ngôn.
Tuy khác nhau vé hành động tạo lời nhưng người nghe vẫn có thể nhận ra nội dung ý nghĩa mà người nói muốn hướng tới. Có được diéu này chính là nhờ vào quy tắc vận hành ngôn ngữ. Quy tắc này được GS. Đỗ Hữu Châu [1; 90] chỉ ra rằng, trong thực tế sử dụng ngôn ngữ hàng ngày, các động từ ngôn hành: hứa hen, xin lỗi, trách cứ, than phién, khen ngợi.
thường được lược bỏ để làm cho lời nói thêm gần gũi, tự nhiên cũng như để người nói tạo được thiện cảm với người nghe. Khi thực hiện hành động tại lời, người ta thường chú ý đến mục đích và hiệu quả của hành động ngôn từ. Mục đích và hiệu quả của hành động ngôn từ được gọi là hiệu lực tại lời. Chính vì sự khác nhau trong cách sử dụng, trong cách tạo ra một hành động tại lời, Austin [28] đã phân loại hành động tại lời thành : hành động tại lời trực tiếp và hành động tại lời gián tiếp.
- Hành động tại lời trực tiếp : Xét các phát ngôn sau: (8) Xin chào các bạn! 14 (9) Tôi thông báo ngày mai chúng ta có cuộc họp khẩn cấp. Ở các phát ngôn (8), (9), (10), hành động tạo lời của người nói đã khiến người nghe có thể nhận ra : phát ngôn (8) là hành động chào, phát ngôn (9) là hành động thông báo. Sự nhận biết ấy được dựa trên bể mặt câu chữ, nhất là qua các động từ ngôn hành. Ở phát ngôn (10), câu trả lời của B nếu xét trên bể mặt câu chữ thì đó là hành động khen (khen nón đẹp) nhưng thực chất dựa vào ngữ cảnh và ngữ điệu của phát ngôn đó thì có thể thấy phát ngôn đó là hành động mỉa mai, trách móc.
Hiệu lực tại lời của câu trả lời đó là: tôi đang bực đừng có hỏi. Chẳng hạn: Hành động mời là hành động tỏ bày ý muốn, yêu cầu người khác làm gì đó một cách lịch sự dude thể hiện bằng các phát ngôn như “Mời.” “Xin vui lòng. Người nghe khi tiếp nhận các phát ngôn này nhận biết được hành động mời của người nói một cách trực tiếp trên bể mặt câu chữ của phát ngôn.