mở đầu bằng cuộc tập kích chiến lược Tết Mậu Thân là đòn bất ngờ góp phần quyết định chiều hướng cuộc chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương, làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ. Ý đồ xâm lược và bành trướng của Mỹ bị giáng một đòn nặng nề, buộc phải xuống thang, thay đổi chiến lược từ “tìm diệt? sang “quét và giữ gìn” ở miền Nam. Ở miền Bắc, sau những đòn thất bại trong các chiến địch leo thang, niềm tin của Mỹ về hỗ trợ nhịp độ chiến tranh trên bộ, cứu vãn sự suy sụp của ngụy quân, buộc ta phải thương lượng theo những điều khoản hiệp định có lợi thực sự đồ vỡ. Tổng thống Giônxơn đã phải đơn phương tuyên bố chấm dứt chiến tranh phá hoại.
Phong trào chống chiến tranh, đòi rút quân về nước của người nhân dấy lên khắp nước Mỹ. Hạ nghị viện Mỹ cũng ra quyết nghị rút quân đội về nước trong thời hạn ngắn nhất. Trong đọt tranh cử Tổng thống cuối năm 1968, lợi dụng tâm lí muốn chấm đứt chiến tranh ở Việt Nam và đổi mới tình hình chính trị- xã hội trong nước của dân chúng Mỹ, Richớt Níchxơn tung ra lời hứa kết thúc chiến tranh trong vòng 6 thang va thay déi chính sách đối nội, đối ngoại quốc gia. Nhưng với đã tâm xâm lược, nên cũng giống như Giônxơn, sau khi đắc cử Tổng thống, vấn đề Việt Nam nhanh chóng trở thành mối quan tâm hàng đầu của Níchxơn.
Trước ngày nhậm chức Tổng thống, Níchxơn yêu cầu Kítxingiơ và công ty Ranđơ Côporêsơn đặc biệt xem xét “chính sách Việt Nam”. Ông uỷ thác cho Kítxingiơ lựa chọn biện pháp quân sự tìm kiếm thắng lợi. Các biện pháp tối ưu được Kítxingiơ hoạch định trong bản báo cáo đệ trình Tổng thống, gồm bốn nội dung sau: Bãi bỏ những hạn chế đã kìm hãm các tư lệnh Mỹ ở chiến trường, để cho họ sử dụng sức mạnh ảo ạt của Mỹ nhằm đánh bại kẻ địch; Chấm dứt việc ngừng ném bom và nối lại các cuộc tiến công không quân chống Bắc Việt Nam; Rải mìn cảng Hải Phòng, đồng thời đe doạ xâm chiếm miền Bắc Việt Nam; Đeo đuổi các đơn vị của cộng sản Bắc Việt ở Lào và Campuchia, tìm cách tiêu điệt các vùng đất thánh của họ và cắt đứt các đường tiếp tế. Sau khi xem xét dự kiến tiến trình chiến tranh, Níchxơn kết luận, nước Mỹ có khả năng giành thắng lợi quân sự nhanh chóng.
Ông quyết định hủy bỏ mọi hạn chế mà Giônxơn đã áp đặt đối với các lực lượng quân sự tham chiến tại Việt Nam, cho phép họ thâm quyền được tiến hành các hoạt quân sự với cường độ cao, buộc Bắc Việt Nam phải chấp nhận những điều kiện của Mỹ. Cách thức để Níchxơn đạt “hòa bình” đã đưa đến chính sách leo thang chiến tranh tàn bạo đối với Việt Nam. “Hòa bình” mà ông ta tìm kiếm là một nên hòa bình duy trì quyền lực của Chính phủ phi cộng sản ở Sài Gòn và ngăn ngừa nó không bị thay thế trong tương lai xa và gần bởi một chế độ cộng sản hoặc một Chính phủ liên hợp gồm những người cộng sản và các đồng minh phi cộng sản. “Hòa bình” mà Níchxơn mong muốn đòi hỏi ông phải thắng lực lượng cộng sản ở Nam Việt Nam về mặt quân sự, chính trị, thắng lực lượng cộng sản ở Bắc Việt Nam về mặt ngoại giao tại bàn dam phan Pari.
Dù biết rằng không thể cưỡng lại xu thế phải xuống thang chiến tranh, rút quân khỏi Việt Nam, cứu vẫn “chiến lược toàn cầu” đang bị đảo lộn, Níchxơn vẫn cố gắng mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Duong tìm kiếm thắng lợi. Đầu năm 1969, “Học thuyết Níchxơn” về châu Á cùng với chiến lược quân sự tương ứng có tên “Ngăn đe thực tế” đã ra đời, thay thế cho chiến lược “Phản ứng linh hoạt” đã bị phá sản. Tổng thống Mỹ hy vọng với học 10 thuyết này, nước Mỹ sẽ khôi phục được hình ảnh của mình, giữ vững vai trò “sen đầm” và lợi ích đề quốc chủ nghĩa trên chính trường quốc tế. Đối với miền Bắc Việt Nam, ngày 9 tháng 9 năm 1969, dưới sự chỉ đạo của Níchxơn, kế hoạch quân sự mật danh “Duck Hook” (Cú dim moc) hay con goi “Pruning Knife” (Ludi dao cắt tỉa) đã được khởi thảo.
Đây là một kế hoạch tiến công “tàn bạo” và “bền vững”, chỉ đạo một chuỗi các chiến dịch không quân và hải quân kịch tính (có cả các bước tiến công sử dụng vũ khí hạt nhân) chống lại Bắc Việt Nam trong thời gian ngắn nhằm đạt một hiệu lực quân sự và kinh tế lâu dải, tạo ra một tác động mạnh mẽ về mặt tâm lí đối với các nhà lãnh đạo Hà Nội. Các hành động quân sự được cân nhắc bao gồm việc ném bom các mục tiêu quân sự, kinh tế trong nội thành và ngoại thành Hà Nội; thả mìn cảng Hải Phòng, Hòn Giai, Cẩm Phả và các hải cảng khác của Bắc Việt; đánh phá các tuyến đường xe lửa hướng Tây Bắc, các tuyến giao thông đường bộ, các đẻo, các cầu gần biên giới Trung Quốc, khu vực cán xoong miền Trung, hệ thống đê điều. Thời gian thực hiện “Duck Hook” dự kiến vào ngày 01 thang 11. Tuy thuộc vào tín hiệu ngoại giao của Hà Nội có thể có thêm gói chiến dịch phụ hay còn gọi là “những gói khắc nghiệt hơn”, giống như một “hành động trừng phạt”, báo hiệu sự “không có lí trí” trong các chiến dịch ném bom, “cưỡng bức” Hà Nội đưa ra câu trả lời.
Sau nay, sự lựa chọn “Duck Hook” đã bị hủy bỏ. Nhưng khi thảo luận về chiến địch “Linebacker” năm 1972, một cuộc tiến công bằng hạt nhân nhằm tạo ra “sức mạnh tâm lí” đối với Hà Nội vẫn chỉ phối không nhỏ trong tâm trí Níchxơn. Đối với miền Nam Việt Nam, Níchxơn đề ra chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, củng cố và tăng cường nguy quân, nguy quyền, từng bước thay thế quân Mỹ trong vai trò chiến đấu trên bộ; siết chặt hơn nữa miền Bắc, ngăn 11 chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam; đồng thời mở rộng chiến tranh sang Lào, Campuchia nhằm chặn đứng hành lang vận chuyền chiến lược Bắc- Nam của ta; lợi dung cudc dam phan 6 Pari kéo dai chién tranh, dùng sức mạnh trên chiến trường kết thúc chiến tranh theo thế có lợi cho Mỹ. Việc “phi Mỹ hóa” là một tiến trình cần thiết về mặt chính trị nhằm giảm bớt căng thắng dư luận.
Níchxơn và Kítxingiơ hy vọng kế hoạch rút quân sẽ làm cho công chúng Mỹ cảm thấy có một chút “ánh sáng ở cuối đường hầm”, ánh sáng đó sẽ khuyến khích họ ủng hộ chiến lược chiến tranh của Níchxơn, và như vậy ông ta vẫn có thê mạnh tay hơn trong việc đối phó với Hà Nội. Mỹ toan tính thắt chặt việc “phi Mỹ hóa” cùng với “phi Bắc Việt hóa”, tức là đi đến một thỏa thuận ngầm hoặc chính thức cùng nhau rút lui các “lực lượng nước ngoài” của Hoa Kì, Bắc Việt Nam khỏi Nam Việt Nam. Nhưng Bắc Việt Nam không công nhận mình là “lực lượng nước ngoài” đối với Nam Việt Nam, việc rút quân khỏi cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của dân tộc là điều phi lý, không thé chap nhận được, nên về lâu đài chỉ còn lại vấn đề “phi Mỹ hóa”, rút lui về phía Mỹ. Việc “Việt Nam hóa” theo nghĩa hẹp là cuộc chuyền giao chiến tranh cho một Việt Nam Cộng hòa mạnh hơn trong tương lai.
Mục đích là hỗ trợ cho việc “phi Mỹ hóa”. Nhưng theo nghĩa rộng, “Việt Nam hóa” cùng với “phi Mỹ hóa” sẽ đưa lại “những tác dụng tích cực và tiêu cực” đối với Sài Gòn để giữ Hà Nội trong vòng đàm phán. “Tác dụng tích cực” là làm cho Việt Nam Cộng hòa tin rằng quá trình “Việt Nam hóa” sẽ có kết quả tốt về củng cố quân đội, chính quyền, trong lúc “phi Mỹ hóa” báo cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rằng Hoa Kì tỏ rõ thiện chí rút quân. “Tác dụng tiêu cực” là việc “phi Mỹ hóa” sẽ làm cho Việt Nam Cộng hòa phải lo sợ về quá trình cải tổ chính phủ, quân đội trong bối cảnh Mỹ rút lui, do đó sẽ khích lệ một Việt 12 Nam Cộng hòa hùng mạnh, mở rộng, có sức ép lớn đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tai ban dam phan Pari.
Đề đạt được mục tiêu của “Việt Nam hoá chiến tranh”, Níchxơn thực hiện cùng lúc ba loại chiến tranh là “chiến tranh giành dân”, “chiến tranh huỷ diệt” và “chiến tranh bóp nghẹt” trên cơ sở huy động sức mạnh tối đa về quân sự của nước Mỹ, kết hợp những thủ đoạn chính trị, ngoại giao như “hòa hoãn” với Liên Xô, “xích lại gần” Trung Quốc và “đàm phán” với Bắc Việt Nam nhằm “cải thiện hòa bình”, mà thực chất là gây áp lực lớn đối với Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Song “Việt Nam hoá chiến tranh” của Mỹ thực hiện trong thế bế tắc, chứa đầy mâu thuẫn do vấp phải ý chí kháng chiến của nhân dân ta và sự suy yếu ngay trong nội tình chính quyền Mỹ- nguy. Trên chiến trường, các lực lượng vũ trang nhân dân miền Nam giữ thế tiến công và phản công liên tiếp. Trong năm 1969, chúng ta mở hai đợt hoạt động tác chiến (đợt mùa xuân từ 22 tháng 02 đến 30 tháng 3 và đợt mùa hè từ I1 tháng 5 đến 23 tháng 6) gây cho địch nhiều thiệt hại.
Sau hè năm 1969, Mỹ- ngụy đây mạnh chiến lược “Việt Nam hóa”, liên tục phản công. Níchxơn tung ra kế hoạch xâm lược Lào và Campuchia, đánh vào những “vùng đất thánh” của cộng sản Bắc Việt tại hai nước này, hỗ trợ cho cuộc chiến tranh kĩ thuật tổng lực trên cả hai miền Nam- Bắc. Đánh sang Campuchia, Mỹ nhằm triệt tiêu con đường tiếp viện của quốc tế cho Việt Nam qua cảng Xihanúevin. Đánh sang Lào, Mỹ âm mưu cắt đứt tuyến vận tai chi viện Bắc- Nam đọc biên giới Việt- Lào.
Mỹ muốn Mátxcơva thấy, Mỹ có thê đánh thăng vào bất cứ đâu và bất cứ lúc nào mà không cần phải đợi phản ứng của Liên Xô, đồng thời đưa ra “tín hiệu” đe dọa Hà Nội nếu không đầu hàng theo các điều kiện của Mỹ sẽ đứng trước nguy cơ hủy diệt bởi một cuộc tiến công tăng cường vô cùng tàn khốc. 13 Ở miền Nam, cách mạng lâm vao tinh thế khó khăn. Mất dân, mất đất, thế và lực tiến công suy giảm. Quân địch đóng thêm 4.270 đồn bốt trên toàn miền Nam (từ 4.954 đồn bốt tăng lên thành 9.224 đồn bốt), chiếm lại phần lớn vùng nông thôn rộng lớn kề cả những vùng chúng ta mới giải phóng trong dip Tết Mậu Thân năm 1968.