Tổng quan nghiên cứu

Huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh có tổng diện tích tự nhiên là 15.484,82 ha, giữ vai trò kinh tế trọng điểm trong tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh với tốc độ tăng giá trị gia tăng bình quân từ 14% đến 15%/năm. Mặc dù sở hữu lợi thế lớn về mạng lưới sông ngòi với hai con sông lớn là sông Đuống và sông Cầu bao bọc, công tác thủy lợi của huyện đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng do biến đổi khí hậu và quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ.

Vấn đề nghiên cứu then chốt xuất phát từ sự bất cập trong hệ thống công trình cấp nước: toàn huyện có 56 trạm bơm với tổng công suất thiết kế 137.958 m³/h phục vụ tưới cho 10.598 ha, nhưng diện tích thực tưới chỉ đạt 6.405 ha, tương đương 60,4% năng lực thiết kế. Hậu quả trực tiếp là 1.536 ha đất canh tác thường xuyên rơi vào tình trạng có nguy cơ hạn hán nghiêm trọng. Mục tiêu cụ thể của luận văn là đánh giá toàn diện hiện trạng hệ thống thủy lợi, tính toán cân bằng nước đa mục tiêu cho các ngành kinh tế - xã hội, từ đó đề xuất các giải pháp công trình và phi công trình đồng bộ nhằm chủ động nguồn nước phục vụ phát triển bền vững địa bàn huyện Quế Võ.

Phạm vi nghiên cứu bao trùm toàn bộ 20 xã và 1 thị trấn thuộc huyện Quế Võ, với chuỗi dữ liệu thực tế giai đoạn 2001 - 2013 và tầm nhìn định hướng đến năm 2020. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện ở việc giải quyết bài toán an ninh nguồn nước cho dân số dự báo đạt trên 151.000 người vào năm 2020, cấp đủ nước cho 592 ha khu công nghiệp hiện hữu, hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu cây trồng đạt năng suất lúa bình quân 60,9 tạ/ha và mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản lên 1.100 ha.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết Quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM) và nguyên lý cân bằng nước lưu vực sông nhằm tối ưu hóa việc phân bổ nguồn nước giữa các ngành kinh tế. Khi nền nông nghiệp chuyển đổi mạnh mẽ sang thâm canh tăng vụ với các giống lúa thuần và cây thực phẩm có giá trị kinh tế cao, hệ số tưới mặt ruộng được hiệu chỉnh nâng từ mức 0,6 l/s.ha của giai đoạn trước năm 1960 lên mức thiết kế hiện đại là 1,25 l/s.ha đến 1,26 l/s.ha. Khung lý thuyết nghiên cứu tập trung vào 4 khái niệm then chốt:

  • Mức đảm bảo cấp nước thiết kế: Tần suất cấp nước tưới cho nông nghiệp được chuẩn hóa ở mức P = 85%, bảo đảm an toàn sản xuất trước các biến động cực đoan của thời tiết.
  • Nhu cầu nước đa ngành: Xác định chi tiết nhu cầu nước cho sinh hoạt nông thôn, sản xuất công nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và dòng chảy môi trường.
  • Hệ số tiêu hao không hoàn lại: Đánh giá lượng nước bốc thoát hơi và tiêu hao sinh học, trong đó sản xuất công nghiệp tiêu hao không hoàn lại khoảng 1% đến 2%, phần còn lại hoàn lưu vào nguồn nước mặt.
  • Khả năng tự làm sạch của nguồn nước: Cơ chế pha loãng chất thải thông qua việc duy trì dòng chảy môi trường tối thiểu trên các trục kênh tiêu và sông nội đồng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập dữ liệu toàn diện trên quy mô 21 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn của huyện Quế Võ với mẫu khảo sát bao gồm 56 trạm bơm tưới, tiêu và hệ thống kênh mương chính dài hơn 75.359 m. Phương pháp chọn mẫu là điều tra toàn diện hiện trạng kết hợp chọn mẫu điển hình tại các điểm xung yếu có nguy cơ hạn hán cao. Chuỗi dữ liệu khí tượng thủy văn được tổng hợp từ lưới trạm đo mưa chuyên dụng trong khu vực và các trạm thủy văn lân cận để xây dựng mô hình mưa tưới tính toán.

Phương pháp phân tích trọng tâm là ứng dụng mô hình toán thủy lực một chiều MIKE 11 do Viện Thủy lực Đan Mạch (DHI) phát triển. Lý do lựa chọn MIKE 11 là vì phần mềm này có khả năng mô phỏng chính xác chế độ dòng chảy không ổn định và phân bố mực nước trên mạng lưới sông ngòi phức tạp chịu tác động thủy triều và điều tiết hồ chứa. Mô hình thiết lập cho toàn bộ hệ thống kênh trục chính, cống lấy nước và bể xả các trạm bơm đầu mối lấy nước từ sông Đuống (chuyển tải 29 tỷ m³ nước/năm từ sông Hồng) và sông Cầu (diện tích lưu vực 6.030 km²). Kết hợp với phần mềm MapInfo trong phân tích dữ liệu không gian, nghiên cứu bảo đảm tính khoa học và độ tin cậy cao cho các bài toán cân bằng nước.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả khảo sát và tính toán cân bằng nước đã chỉ ra những tồn tại lớn trong hệ thống cấp nước của huyện Quế Võ:

  • Hiệu suất vận hành công trình phân hóa mạnh và đạt mức thấp: Vùng lấy nước sông Cầu có 33 trạm bơm với tổng công suất 82.846 m³/h nhưng diện tích thực tưới chỉ đạt 50,2% thiết kế. Trong đó, tiểu khu Kim Đôi có công suất lớn nhất (71.010 m³/h) chỉ tưới được 2.010 ha trên tổng số 4.328 ha thiết kế (đạt 46,4%); tiểu khu Bắc Châu Cầu đạt 62% thiết kế với diện tích thực tưới 836 ha.
  • Khu vực lấy nước sông Đuống đạt hiệu quả cao hơn nhưng phân bố không đều: Tổng diện tích thực tưới đạt 69,4% thiết kế, trong đó tiểu khu Kênh Nam đạt 79,2% (1.623 ha thực tế/2.048 ha thiết kế), nhưng tiểu khu Thái Hòa chỉ đạt 59,3% (1.273 ha thực tế/2.145 ha thiết kế).
  • Hạ tầng dẫn nước bị suy thoái nghiêm trọng: Toàn khu Kênh Nam có 46.872 m kênh tưới các cấp, nhưng còn tới 27.703 m là kênh đất (chiếm 59,1%) bị bồi lắng, sạt lở nặng nề; đoạn kênh Nam dài 11 km là kênh đất gây cản trở dòng chảy đến vùng cuối kênh.
  • Diện tích hạn hán cục bộ tập trung trên 1.536 ha: Thiệt hại tập trung cao nhất tại xã Yên Giả (200 ha), Đại Xuân (180 ha), Việt Hùng (168 ha), Đức Long (150 ha), Hán Quảng (136 ha), Phương Liễu (100 ha) và Chi Lăng (100 ha).
  • Tác động sâu sắc của chuyển dịch đất đai: Đến năm 2020, diện tích đất sản xuất nông nghiệp giảm 2.317 ha (từ 8.489,29 ha xuống 6.172,29 ha), trong đó đất chuyên trồng lúa nước giảm từ 8.147,26 ha xuống 5.129,9 ha. Ngược lại, diện tích đất phi nông nghiệp tăng lên 7.000 ha và đất nuôi trồng thủy sản tăng lên 1.100 ha, tạo ra áp lực gia tăng lưu lượng cấp nước tập trung và yêu cầu kiểm soát chất lượng nước khắt khe.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cơ bản khiến hiệu suất phục vụ của các công trình đầu mối đạt thấp xuất phát từ thực trạng hạ thấp mực nước sông Đuống và sông Cầu vào mùa cạn, cùng với việc đa số trạm bơm được xây dựng từ giai đoạn 1968 - 1995 đã xuống cấp cơ học và công nghệ lạc hậu. Sự suy giảm mực nước tại thượng lưu cống Long Tửu và các tuyến sông chính làm giảm đáng kể khả năng lấy nước tự chảy và hiệu suất hút của máy bơm.

Trên các biểu đồ thủy lực mô phỏng quá trình mực nước bằng mô hình MIKE 11, đường quá trình mực nước tính toán tại bể xả các trạm bơm Thái Hòa, Kiều Lương và Kim Đôi thể hiện sự tương thích chặt chẽ với số liệu thực đo mùa kiệt tần suất 85%. Bảng tổng hợp cân bằng nước khẳng định nguồn nước tự nhiên trên sông Đuống và sông Cầu về tổng lượng hoàn toàn đáp ứng đủ nhu cầu của huyện, nhưng điểm nghẽn nằm ở năng lực chuyển nước của hệ thống kênh trục nội đồng. Điều này khẳng định tính đúng đắn của việc chuyển đổi phương thức đầu tư từ mở rộng diện tích tưới hình thức sang kiên cố hóa kênh mương và hiện đại hóa thiết bị bơm hút sâu.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả tính toán mô hình thủy lực và định hướng phát triển kinh tế xã hội, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  • Nâng cấp và cải tạo hệ thống trạm bơm đầu mối: Tiến hành hiện đại hóa 56 trạm bơm hiện có, thay thế các tổ máy bơm cũ kỹ bằng dòng máy bơm chìm tiết kiệm năng lượng tại trạm bơm Kim Đôi 1 (công suất 50.000 m³/h), trạm bơm Thái Hòa và trạm bơm Kiều Lương; bổ sung các trạm bơm dã chiến tại vùng cuối kênh sông Cầu. Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2016 - 2020. Chủ thể chịu trách nhiệm: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bắc Ninh phối hợp với Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Khai thác Công trình Thủy lợi Bắc Đuống.
  • Kiên cố hóa toàn diện hệ thống kênh dẫn nước: Hoàn thành bê tông hóa 27.703 m kênh đất còn lại tại khu Kênh Nam, nạo vét 16,2 km ngòi Tào Khê và các tuyến kênh cấp 1, cấp 2 nhằm hạ tỷ lệ thất thoát nước từ trên 25% xuống dưới 10%, bảo đảm dẫn nước thông suốt tới 1.536 ha vùng có nguy cơ hạn hán. Thời gian thực hiện: Hoàn thành trước năm 2019. Chủ thể thực hiện: Ủy ban Nhân dân huyện Quế Võ và các đơn vị quản lý thủy nông địa phương.
  • Phân vùng cấp nước và điều chỉnh quy trình vận hành liên trạm: Tách bạch rõ mạng lưới cấp nước sinh hoạt cho 151.000 dân cư và 592 ha các khu công nghiệp Quế Võ I, II, III khỏi hệ thống thủy lợi tưới nông nghiệp; vận hành linh hoạt các trạm bơm kết hợp tưới tiêu theo chế độ kinh tế trong mùa kiệt. Thời gian thực hiện: Triển khai thường niên từ năm 2016. Chủ thể thực hiện: Ủy ban Nhân dân các xã và Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh.
  • Ứng dụng công nghệ quản lý vận hành thông minh: Ứng dụng phần mềm MIKE 11 và GIS trong quan trắc tự động mực nước, dự báo hạn hán và lập lịch cấp nước số hóa theo thời gian thực; ban hành quy chế phối hợp xả nước đổ ải từ các hồ chứa thủy điện thượng nguồn. Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2017 - 2020. Chủ thể thực hiện: Chi cục Thủy lợi Bắc Ninh và các viện nghiên cứu chuyên ngành.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước về nông nghiệp và tài nguyên nước: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Bắc Ninh, Chi cục Thủy lợi và Ủy ban Nhân dân huyện Quế Võ có thể trực tiếp ứng dụng số liệu dự báo cân bằng nước và phương án phân vùng thủy lợi để lập quy hoạch đầu tư công trình giai đoạn trung hạn 2016 - 2020.
  • Các doanh nghiệp quản lý và khai thác công trình thủy lợi: Công ty Khai thác Công trình Thủy lợi Bắc Đuống và các trạm thủy nông cơ sở áp dụng quy trình tính toán thủy lực để xây dựng lịch vận hành tối ưu cho 56 trạm bơm, giảm thiểu chi phí điện năng tiêu thụ mùa kiệt.
  • Kỹ sư quy hoạch, tư vấn thiết kế công trình thủy lợi: Sử dụng phương pháp luận, thông số mô hình MIKE 11 và chuỗi số liệu khí tượng thủy văn để làm tài liệu thiết kế chuẩn mực cho các dự án kiên cố hóa kênh mương, xây dựng trạm bơm vùng đồng bằng sông Hồng.
  • Học viên cao học và nhà nghiên cứu học thuật: Kế thừa mô hình đánh giá tác động của đô thị hóa - công nghiệp hóa tới biến động diện tích đất canh tác (giảm 2.317 ha) và nhu cầu chuyển dịch hệ số tưới làm tài liệu tham khảo cho các luận văn ngành Quy hoạch và Quản lý Tài nguyên nước.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao huyện Quế Võ lại thiếu nước sản xuất khi có sông Đuống và sông Cầu bao quanh? Mặc dù hai con sông chuyển tải lượng dòng chảy rất lớn (riêng sông Đuống khoảng 29 tỷ m³/năm), mực nước sông mùa cạn bị hạ thấp nghiêm trọng dưới cao trình hút nước thiết kế. Cùng với đó, 56 trạm bơm xây dựng lâu năm bị xuống cấp khiến năng lực tưới thực tế chỉ đạt 60,4% thiết kế, gây thiếu nước cục bộ cho 1.536 ha đất nông nghiệp.

  • Mô hình toán MIKE 11 mang lại giá trị gì cho nghiên cứu cấp nước tại Quế Võ? Mô hình MIKE 11 cho phép mô phỏng chính xác chế độ dòng chảy không ổn định trên mạng lưới sông ngòi và kênh trục của huyện với tần suất thiết kế 85%. Kết quả mô phỏng mực nước tại bể xả các trạm bơm như Thái Hòa, Kim Đôi cung cấp cơ sở định lượng để tối ưu hóa vị trí đặt bơm và kích thước lòng kênh.

  • Quá trình công nghiệp hóa tác động thế nào đến cơ cấu nhu cầu nước của huyện? Công nghiệp hóa làm giảm 2.317 ha đất sản xuất nông nghiệp đến năm 2020 nhưng mở rộng diện tích các khu công nghiệp lên hơn 592 ha và thúc đẩy tăng trưởng đô thị. Điều này đòi hỏi hệ thống thủy lợi phải nâng cao mức đảm bảo cấp nước liên tục, phân tách mạng lưới cấp nước sạch đô thị và duy trì lưu lượng môi trường để xử lý nước thải.

  • Giải pháp nào là cấp bách nhất để xử lý 1.536 ha diện tích có nguy cơ bị hạn? Giải pháp cấp bách hàng đầu là kiên cố hóa 27.703 m kênh đất tại khu Kênh Nam, kết hợp nâng cấp trạm bơm Kim Đôi 1 và hoàn trả tuyến kênh dẫn nước tại các khu vực bị ảnh hưởng bởi khu công nghiệp. Biện pháp này giúp giải quyết trực tiếp tình trạng thiếu nước tại các xã chịu hạn nặng như Yên Giả (200 ha) và Đại Xuân (180 ha).

  • Tiêu chuẩn và hệ số cấp nước nông nghiệp được áp dụng trong luận văn là bao nhiêu? Luận văn áp dụng hệ số tưới mặt ruộng từ 1,25 l/s.ha đến 1,26 l/s.ha với tần suất bảo đảm P = 85%, phù hợp với đặc điểm sinh trưởng của các giống lúa thâm canh năng suất cao (đạt 60,9 tạ/ha) và vùng sản xuất rau màu, khoai tây vụ đông (chiếm 33,8% diện tích cây thực phẩm).

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện hiện trạng hệ thống thủy lợi huyện Quế Võ với quy mô tự nhiên 15.484,82 ha và mạng lưới 56 trạm bơm công suất 137.958 m³/h.
  • Xác định rõ nguyên nhân cốt lõi gây ra tình trạng 1.536 ha đất canh tác bị đe dọa bởi hạn hán do công trình xuống cấp và tỷ lệ kênh đất chưa kiên cố hóa còn cao (chiếm 59,1% tại khu Kênh Nam).
  • Ứng dụng thành công mô hình thủy lực MIKE 11 và công nghệ GIS trong tính toán cân bằng nước đa ngành, đáp ứng các tiêu chuẩn thâm canh với hệ số tưới 1,25 l/s.ha đến 1,26 l/s.ha.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp công trình và phi công trình đồng bộ, trọng tâm là kiên cố hóa 27,7 km kênh mương và hiện đại hóa các trạm bơm lớn như Kim Đôi 1, Thái Hòa.
  • Đóng góp luận cứ khoa học vững chắc phục vụ mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế 14% đến 15%/năm của huyện Quế Võ đến năm 2020.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2016 đến năm 2020, các cấp chính quyền và cơ quan quản lý thủy nông cần tập trung huy động nguồn vốn đầu tư công để số hóa công tác điều hành và hoàn thành nâng cấp các trục kênh tiêu thoát chính. Các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý tài nguyên nước được khuyến khích tham khảo, nhân rộng mô hình tính toán này cho các tiểu lưu vực có đặc điểm tương đồng tại vùng đồng bằng Bắc Bộ.