CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Một số khái niệm cơ bản - Phát triển bền vững: là phát triển đáp ứng được các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở đó kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng phát triển kinh tế, đảm bảo tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. - Hoạt động bảo vệ nước dưới đất: là hoạt động phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu tới số lượng, chất lượng, giữ cho nguồn nước dưới đất không bị suy thoái, ô nhiễm, cạn kiệt; phục hồi, cải thiện nguồn nước dưới đất bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguồn nước dưới đất.
- Ô nhiễm nguồn nước dưới đất: là sự biến đổi chất lượng nguồn nước dưới đất về thành phần vật lý, hóa học, sinh học làm cho nguồn nước không còn phù hợp với tiêu chuẩn Việt Nam hoặc tiêu chuẩn nước ngoài được Nhà nước Việt Nam cho phép áp dụng. - Suy thoái, cạn kiệt nguồn nước dưới đất: là sự suy giảm về số lượng và chất lượng nguồn nước dưới đất so với trạng thái tự nhiên của nó hoặc so với trạng thái của nó quan trắc được trong các thời gian trước đó. - Quan trắc nước dưới đất: là quá trình đo đạc, theo dõi một cách có hệ thống về mực nước, lưu lượng và các chỉ tiêu chất lượng của nguồn nước dưới đất nhằm cung cấp thông tin phục vụ việc đánh giá hiện trạng, diễn biến số lượng, chất lượng và các tác động khác đến nguồn nước dưới đất. - Tầng chứa nước: là một thành tạo hoặc một nhóm thành tạo địa chất, một phần của một thành tạo địa chất có chứa nước trong các lỗ hổng, khe nứt của chúng và lượng nước đó có ý nghĩa trong việc khai thác để cung cấp nước.
n 5 - Tầng chứa nước yếu: là một thành tạo hoặc một nhóm thành tạo địa chất, một phần của một thành tạo địa chất có chứa nước trong các lỗ hổng, khe nứt của chúng, nhưng khả năng thấm nước, chứa nước kém và lượng nước đó ít có ý nghĩa trong việc khai thác để cung cấp nước. - Tầng cách nước hoặc thể địa chất không chứa nước: là một thành tạo hoặc một nhóm thành tạo địa chất, một phần của một thành tạo địa chất có tính thấm nước rất nhỏ, không có ý nghĩa thực tế trong cung cấp nước. - Phức hệ chứa nước hoặc hệ thống các tầng chứa nước: là tập hợp các tầng chứa nước, chứa nước yếu, có quan hệ thuỷ lực với nhau trên phạm vi rộng và tạo thành một hệ thống thuỷ động lực. - Cấu trúc chứa nước: là một cấu trúc địa chất hoặc một phần của một cấu trúc địa chất, trong đó nước dưới đất được hình thành, lưu thông và tồn tại.
Cấu trúc chứa nước được giới hạn bởi các biên cách nước hoặc các biên cấp, thoát nước. - Trữ lượng có thể khai thác của một vùng: là lượng nước có thể khai thác từ các tầng chứa nước và chứa nước yếu trong vùng đó mà không làm suy thoái, cạn kiệt nguồn nước và biến đổi môi trường vượt quá mức cho phép. - Trữ lượng tĩnh [9]: Trữ lượng tĩnh gồm trữ lượng tĩnh trọng lực và trữ lượng tĩnh đàn hồi. Trữ lượng tĩnh trọng lực là lượng nước chứa trong các lỗ hổng, khe nứt, hang hốc Kasrt của đất đá chứa nước và có khả năng thoát ra dưới tác dụng của trọng lực.
Trữ lượng tĩnh trọng lực được đặc trưng bởi hệ số nhả nước trọng lực. Trữ lượng tĩnh đàn hồi là lượng nước sinh ra do khả năng đàn hồi của nước và của đất đá chứa nước khi hạ thấp mực áp lực trong những tầng chứa có áp. Trữ lượng tĩnh đàn hồi được đặc trưng bởi hệ số nhả nước đàn hồi. - Trữ lượng động: là lượng cung cấp cho nước dưới đất trong tự nhiên.
Lượng cung cấp tự nhiên cho nước dưới đất có thể từ ngấm của nước mưa, thấm từ hệ thống nước mặt, thấm xuyên từ các tầng chứa nước liền kề. - Chất lượng nước dưới đất: được thể hiện bởi giá trị của các của thông số về thành phần hóa học các nguyên tố có trong nước và tính chất vật lý, hóa học của n 6 nước. Đặc trưng chất lượng nước quyết định đến khả năng sử dụng của nguồn nước dưới đất. - Đánh giá tài nguyên nước dưới đất: là hoạt động nhằm xác định điều kiện địa chất thủy văn, số lượng (trữ lượng), chất lượng nước và khả năng khai thác, sử dụng nguồn nước, các tác động của việc khai thác, hoạt động kinh tế tới nguồn nước dưới đất; xu thế biến đổi về số lượng, chất lượng nước dưới đất phục vụ công tác quản lý, khai thác sử dụng và bảo vệ nguồn nước.
Cơ sở đánh giá trữ lượng nước ngầm Đánh giá trữ lượng khai thác tiềm năng bằng phương pháp cân bằng bao gồm việc đánh giá các nguồn hình thành trữ lượng khai thác nước ngầm của khu vực nghiên cứu. Khi đó mỗi nguồn hình thành được đánh giá riêng rồi cộng kết quả nhận được. Công thức tính trữ lượng tiềm năng theo phương pháp cân bằng có dạng như sau [2]: Ve V Q KT 1Qe 2 3 Qc 4 c Qbs (1.1) t t Trong đó - QKT: là trữ lượng khai thác (m3/ngày). - Qe: là trữ lượng động tự nhiên (m3/ngày) - Qc: là trữ lượng động nhân tạo (m3/ngày) - 1, 2, 3, 4: hệ số sử dụng các loại trữ lượng tương ứng.
- T: thời gian tính toán khai thác nước dưới đất. - Ve, Vc: là trữ lượng tĩnh tự nhiên và nhân tạo * Trữ lượng động tự nhiên: được tính theo lượng mưa ngấm FX Qe (1.1) 365 Trong đó: - : hệ số ngấm của nước mưa - F: diện tích tầng chứa nước trên vùng nghiên cứu - X: lượng mưa trung bình năm n 7 * Trữ lượng tĩnh tự nhiên: gồm trữ lượng tĩnh trọng lực và trữ lượng tĩnh đàn hồi: Ve = Vtl + Vđh (1.2) - Trữ lượng tĩnh trọng lực: Trong thực tế, các đơn vị chứa nước thường có diện phân bố phức tạp theo không gian (mặt bằng và mặt cắt) nên việc xác định thể tích đất đá chứa nước là rất khó khăn. Đất đá cấu tạo nên các tầng chứa nước là không đồng nhất dẫn đến hệ số nhả nước của đơn vị chứa nước cũng biến đổi theo không gian. Trong thực tế, khi tính trữ lượng tĩnh của nước dưới đất thường trung bình hóa hệ số nhả nước và thể tích đất đá chứa nước được xác định bằng giá trị trung bình của chiều dày tầng chứa nước và diện tích phân bố của chúng Mực áp lực Mực nước ngầm a.
Tầng chứa nước không áp b. Tầng chứa nước có áp Hình 1.1: Sơ đồ các tầng chứa nước có áp và không áp Trữ lượng tĩnh trọng lực (Vtl) được đặc trưng bởi hệ số nhả nước trọng lực. Trữ lượng tĩnh trọng lực được xác định bằng công thức: Vtl = . Trong đó : - F: diện tích tầng chứa nước trên địa bàn tỉnh - m: chiều dày tầng chứa nước - : hệ số nhả nước trọng lực, 0,117 7 K - K: là hệ số thấm trung bình của tầng chứa nước qp1 và qp2 Trữ lượng tĩnh đàn hồi (Vđh) được xác định bằng công thức: Vđh = tb*.F n 8 Trong đó: - F: diện tích tầng chứa nước trên địa bàn tỉnh - Htb: chiều cao mực áp lực tính từ mực nước tĩnh trung bình đến mái tầng chứa nước K .mtb - tb*: là hệ số nhả nước đàn hồi, * a Thay vào công thức (1.H tb Ve tb.
Cơ sở đánh giá chất lượng nước ngầm Chất lượng nước ngầm được đánh giá thông qua các loại hình nước, độ mặn nhạt (tổng độ khoáng hóa) và so sánh với các chỉ tiêu chất lượng nước ngầm (QCVN 09:2008/BTNMT), chỉ tiêu chất lượng nước sinh hoạt và nước ăn uống được Bộ Y tế ban hành đối với các tầng chứa nước chính. Nước ngầm được phân loại và khoanh vùng theo độ mặn nhạt của nước và các loại hình hóa học của nước. Độ mặn nhạt của nước ngầm trong các tầng chứa nước được đánh giá thông qua độ tổng khoáng hóa (M) theo 4 cấp [11]: - Nước siêu nhạt: M < 500 mg/l; - Nước nhạt: 500 < M < 1000 mg/l; - Nước lợ: 1000 < M < 3000 mg/l; - Nước mặn: M > 3000 mg/l. Tùy theo sự có mặt của các loại ion âm, nước dưới đất còn có thể được phân thành các loại hình hóa học khác nhau: - Loại I: Nước bicarbonat (khi HCO3- chiếm ưu thế); - Loại II: Nước clorua (khi Cl- chiếm ưu thế); - Loại III: Nước sunfat (khi SO42- chiếm ưu thế); - Loại IV: Nước hỗn hợp (khi các ion tương đương nhau).
Mặt khác, việc đánh giá chất lượng nước dưới đất còn được thực hiện bằng cách so sánh các chỉ tiêu phân tích với các tiêu chuẩn hiện hành tùy theo mục đích n 9 sử dụng nước. Hiện nay các nước trên thế giới đều ban hành các tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá chất lượng của nguồn nước ngầm, ở Việt Nam đã ban hành để các tiêu chuẩn, quy chuẩn so sánh và đánh giá chất lượng nước bao gồm: - Quy chuẩn QCVN 09:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm. - Quy chuẩn QCVN 01:2009/BYT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống. - Quy chuẩn QCVN 02:2009/BYT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt.
Tùy thuộc vào mức độ nghiên cứu, ý nghĩa sử dụng, có thể phân ra thành hai loại tầng chứa nước được thể hiện trên bản đồ với các lớp có ký hiệu khác nhau. Tầng chứa nước thứ nhất là tầng chứa nước Holocene (qh) trình bày hiện trạng chất lượng môi trường tầng chứa nước tầng mặt, và tầng chứa nước thứ hai là tầng chứa nước Pleistocene (qp) trình bày hiện trạng chất lượng môi trường nước tầng sâu. Cơ sở pháp lý Một số văn bản pháp luật là căn cứ có liên quan đến việc thực hiện đề tài: - Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 ban hành ngày 12/12/2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006. - Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/6/2012, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013.