Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về bệnh đái tháo đường 1. Định nghĩa Theo Tổ chức Y tế thế giới: “Đái tháo đường (ĐTĐ) là một trong nhóm các bệnh lý chuyển hóa, đặc trưng bởi tình trạng tăng đường huyết mạn tính, cùng với các rối loạn chuyển hóa đường, đạm, mỡ, do khiếm khuyết khả năng tiết insulin, khiếm khuyết hoạt động của insulin, hoặc cả hai. Tình trạng tăng glucose máu mạn tính ở bệnh nhân ĐTĐ, sẽ gây rối loạn chức năng, dẫn đến tổn thương và suy nhiều cơ quan, đặc biệt là các tổ chức: mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu” [3].
Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường Hiện nay, các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh ĐTĐ được đề cập đến gồm: - Tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 1998, chẩn đoán xác định đái tháo đường khi có ít nhất một trong 3 tiêu chuẩn sau: + Glucose máu lúc đói (sau bữa ăn cuối cùng 8h) ≥ 7,0 mmol/L. + Glucose máu bất kỳ ≥ 11,1 mmol/L kết hợp với các triệu chứng của đái tháo đường như uống nhiều, tiểu nhiều. + Glucose máu sau 2 giờ làm nghiệm pháp tăng glucose máu ≥ 11,1 mmol/L [16]. - Tiêu chuẩn của Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) năm 2017 thì ĐTĐ được chẩn đoán dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau: + HbA1c ≥ 6,5%, được thực hiện tại phòng xét nghiệm có kiểm chuẩn và theo phương pháp đã chuẩn hóa.
+ Đường huyết mao mạch lúc đói (ít nhất 8 giờ sau ăn) ≥ 126 mg/dL (≥7,0mmoL/L). 4 + Đường huyết 2 giờ sau làm nghiệm pháp dung nạp Glucose (uống nhanh 75 g đường hòa tan trong nước) ≥ 200 mg/dL (≥ 11,1mmoL/L). + Bệnh nhân có triệu chứng điển hình của tăng đường huyết kèm theo xét nghiệm đường huyết ngẫu nhiên ≥ 200 mg/dL (≥ 11,1mmoL/L). Trong trường hợp bệnh nhân không có dấu hiệu của tăng đường huyết rõ (ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều, gầy nhiều), phải xét nghiệm lại lần 2.
Nếu 2 lần xét nghiệm cho kết quả không tương đồng, phải cân nhắc việc chẩn đoán ĐTĐ và nên cho thử lại sau 3 - 6 tháng. Tiền ĐTĐ: khi nồng độ đường huyết lúc đói từ 110 mg/dl - 125mg/dL và/hoặc HbAlc từ 5,7% - 6,4% [3]. Phân loại bệnh đái tháo đường - ĐTĐ type 1: chiếm khoảng 10% tại vùng Châu Á – Thái Bình Dương [5], [16]. Bệnh có các đặc điểm sau: + Tổn thương đặc trưng bởi tế bào beta của tụy bị phá hủy, thường gây thiếu insulin tuyệt đối.
+ Dựa vào cơ chế tổn thương tế bào beta của tụy, phân làm 2 nhóm: Tổn thương qua trung gian đáp ứng miễn dịch: gặp ở ĐTĐ type 1, vì cơ chế bệnh do đáp ứng miễn dịch, còn gọi là ĐTĐ type 1a. Tổn thương không do cơ chế đáp ứng miễn dịch: gọi là ĐTĐ không rõ nguyên nhân, hay ĐTĐ type 1b. - ĐTĐ type 2: chiếm khoảng 85 – 90%. Có 2 yếu tố thuận lợi gây bệnh chính, đó là tình trạng suy giảm chức năng của tế bào β của tuyến tụy và sự đề kháng insulin.
Bệnh ĐTĐ type 2 được chẩn đoán trên lâm sàng khi cả hai yếu tố này đồng thời hiện diện. Tuy nhiên, tùy từng bệnh nhân cụ thể, mà yếu tố này trội hơn yếu tố kia và ngược lại. - ĐTĐ thai kỳ: là sự rối loạn dung nạp glucose ở bất kỳ mức độ nào, với sự khởi phát hoặc được ghi nhận lần đầu tiên trong thời kỳ thai nghén. Cần chẩn đoán phân biệt ĐTĐ thai kỳ và ĐTĐ đã có từ trước khi mang thai.
5 - Các loại ĐTĐ đặc biệt khác do: di truyền, thuốc, nhiễm trùng, … 1.