Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan hội chứng vành cấp 1. Định nghĩa Hội chứng vành cấp (HCVC) bao gồm đau thắt ngực không ổn định (ĐTNKÔĐ), nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp không ST chênh lên (gọi chung là hội chứng mạch vành cấp không ST chênh lên) và nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên [42], [44]. Dịch tễ học về hội chứng mạch vành cấp 1.
Trên thế giới Trên thế giới, trong năm 2001, bệnh mạch vành gây ra 7,2 triệu trường hợp tử vong và 52 triệu-năm đời sống tàn phế. Mỗi năm có khoảng 5,8 triệu bệnh mạch vành mới. Hiện có khoảng 40 triệu người đang mắc bệnh mạch vành còn sống [4]. Ở Mỹ, Năm 2006 có 7,3 triệu người mắc bệnh tim mạch, trong đó có hơn 1 triệu người bị bệnh mạch vành.
Theo thống kê của Hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA), mỗi năm có 600.000 ca nhồi máu cơ tim mới, và hơn 500.000 nhồi máu cơ tim tái phát [72]. Từ năm 1990 đến năm 2020, dự đoán tỷ lệ tử vong ở các nước đang phát triển là 120% đối với nữ là 135% đối với nam [4]. Tại Việt Nam Trước năm 1960 bệnh động mạch vành (ĐMV) ở nước ta còn ít gặp. Lần đầu tiên có 1 trường hợp được chẩn đoán và điều trị nhồi máu cơ tim vào trước năm 1960.
Đến năm 1965 chỉ mới thấy 22 trường hợp nhồi máu cơ tim cấp, trong đó có 10 trường hợp ở Bệnh viện Bạch Mai, 9 trường hợp ở Bệnh viện Hữu Nghị, 3 trường hợp ở Bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng. 4 Từ năm l984-l989, thống kê tại bệnh viện Bạch Mai, mỗi năm có 30 trường hợp NMCT và từ năm 1989- 1993 thì mỗi năm có tới 91 trường hợp NMCT [15]. Theo thống kê của Sở Y Tế thành phố Hồ Chí Minh thì chỉ riêng năm 2000 đã có 3.222 bệnh nhân bị NMCT và đã tử vong 122 trường hợp. Trong 6 tháng đầu năm 2001, đã có 1.725 bệnh nhân bị NMCT [4], [32].
Theo thống kê tại khoa Tim mạch và Hồi sức tích cực của Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ từ 08/2005 đến tháng 02/2006 có 54 bệnh nhân nhập viện được chẩn đoán xác định là NMCT, tỷ lệ tử vong là 20,07% [9]. Nhìn vào những thống kê trên, chúng ta dễ dàng nhận thấy số lượng bệnh nhân bị HCVC ngày càng gia tăng nhanh và tỷ lệ tử vong còn cao. Do đó, HCVC không chỉ là vấn đề y tế mà còn là vấn đề xã hội cần được quan tâm. Cơ chế bệnh sinh Có 5 cơ chế bệnh chính cho sự hình thành HCVC [11] đó là: - Sự nứt ra của mảng xơ vữa nên có sự lộ ra của lớp dưới nội mạc với điện tích khác dấu nên khởi phát quá trình ngưng kết tiểu cầu và hình thành huyết khối.
Đây là cơ chế thường gặp nhất. - Cản trở về mặt cơ học: co thắt động mạch vành hoặc do co mạch. - Lấp tắc dần dần về mặt cơ học: do sự tiến triển dần dần của mảng xơ vữa hoặc tái hẹp sau can thiệp động mạch vành. - Do viêm hoặc có thể liên quan đến nhiễm trùng.
- ĐTNKÔĐ thứ phát: do tăng nhu cầu oxy cơ tim hoặc giảm cung cấp ở các bệnh nhân đã có hẹp sẵn động mạch vành. Một số yếu tố nguy cơ của bệnh động mạch vành 1. Một số yếu tố nguy cơ không thay đổi được - Tuổi: nam > 45 tuổi, nữ > 55 tuổi được coi nguy cơ mắc tim mạch, yếu tố nguy cơ tim mạch của bệnh động mạch vành, tỷ lệ tử vong do bệnh 5 động mạch vành, các biến cố tim mạch mới xuất hiện sau tuổi 65 [47], [87]. - Giới tính: nam giới có nguy cơ bị bệnh ĐMV, đột qụy và các bệnh tim mạch khác cao hơn so với nữ giới ở tuổi trẻ, tỷ lệ mắc HCVC ở nam chiếm 73,5%; nữ chiếm 26,5% [7].
Một số yếu tố nguy cơ chủ yếu có thể thay đổi được - Tăng huyết áp (THA): là yếu tố nguy cơ đã được chứng minh rõ ràng của các biến cố tim mạch như bệnh ĐMV, tử vong do bệnh ĐMV, đột quỵ, suy tim ứ huyết và đột tử [31]. - Hút thuốc lá: Các kết quả nghiên cứu Framingham đã chứng minh rằng, nguy cơ đột tử cao hơn 10 lần ở nam và gấp 5 lần ở nữ giới có hút thuốc lá [18]. - Rối loạn lipid máu: rối loạn chuyển hóa lipid, và tăng cholesterol máu là một trong các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được và quan trọng bậc nhất của bệnh tim mạch [33]. - Thừa cân và béo phì: Người có lượng mỡ trong cơ thể quá mức, đặc biệt nếu tích mỡ quá nhiều vùng hông, dễ bị bệnh tim và đột qụy ngay cả khi không có bất kỳ yếu tố nguy cơ nào khác [7], [18].
- Đái tháo đường: những người mắc bệnh đái tháo đường, đặc biệt đái tháo đường týp 2 có tỷ lệ mới mắc bệnh mạch vành và đột quỵ cao hơn người bình thường [31]. Chẩn đoán hội chứng vành cấp Theo ACCF/AHA (American College of Cardiology Foundation/ American Heart Association -ACCF/AHA) [64], [78]. Nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên - Tăng chất chỉ điểm sinh học (Troponin) và - Lâm sàng: cơn đau thắt ngực kiểu mạch vành: xảy ra đột ngột, vị trí sau xương ức chắn ngang giữa ngực lan lên cổ, hàm dưới, lên vai, ra sau lưng 6 điển hình là lan ra mặt trong cánh tay, cẳng tay, ngón 4-5 bên trái, xuống thượng vị. Nhưng cường độ lớn hơn, kéo dài hơn trên 20- 30 phút, không giảm khi nghỉ ngơi hay dùng nitroglycerine.
Ngoài ra, thường kèm thêm một số dấu hiệu thần kinh tự chủ như vã mồ hôi, tái nhợt da, lạnh đầu chi, buồn nôn, nôn, mệt, khó thở, hồi hộp, trống ngực,…và/hoặc - Thay đổi mới trên ECG: biến đổi điện tâm đồ với đoạn ST chênh lên mới tại điểm J > 0,2mv (nam) và > 0,15mv (nữ) ở V1,V2; và/hoặc > 0,l mv ở các chuyển đạo khác. ST chênh lên, sóng T đảo ngược, sóng Q hoặc Block nhánh trái mới xuất hiện [78]. Nhồi máu cơ tim cấp không ST chênh lên - Tăng chất chỉ điểm sinh học (Troponin) và - Lâm sàng: cơn đau thắt ngực kiểu mạch vành như trên và/hoặc - Thay đổi mới trên ECG: đoạn ST chênh xuống và/hoặc thay đổi sóng T: ST mới chênh xuống nằm ngang hoặc chênh xuống > 0,05mv ở hai chuyển đạo liên tiếp; và/hoặc sóng T đảo ngược > 0,1mv ở hai chuyển đạo với sóng R cao hoặc R/S > 1 [64]. Đau thắt ngực không ổn định Chẩn đoán xác định ĐTNKÔĐ khi có cơn đau thắt ngực kiểu mạch vành phối hợp với ít nhất một trong ba đặc điểm sau: - Đau thắt ngực xuất hiện khi nghỉ ngơi hoặc kéo dài trên 20 phút.
- Đau thắt ngực mới xuất hiện và nặng từ nhóm III trở lên theo phân độ của CCS (CCS: Canadian Cardiovascular Society: Hiệp Hội Tim Mạch Canada) tiến triển nhanh trong 1 tháng. - Đau thắt ngực ổn định nhưng ngày càng nặng hơn: tần số dày hơn, kéo dài hơn hoặc đau nhiều hơn. - Men tim Troponin T và Troponin I âm tính. 7 - ECG: bất thường trên điện tâm đồ biểu hiện dưới dạng ST chênh lên hay chênh xuống thoáng qua và T dẹt, đảo hay nhọn.
Thay đổi ST thoáng qua (≥0,05 mv) xuất hiện khi có triệu chứng và mất khi bệnh nhân hết triệu chứng thì rất có giá trị gợi ý thiếu máu cơ tim cấp và báo hiệu nguy cơ cao bị bệnh động mạch vành. - Các chỉ số sinh học của tim: trong ĐTNKÔĐ không có sự thay đổi các chỉ số này [64]. Điều trị hội chứng vành cấp Tất cả bệnh nhân được điều trị theo khuyến cáo của Hội Tim mạch Việt Nam [11]. Điều trị tại bệnh viện Chế độ ăn uống, nghỉ ngơi [11] - Nghỉ tại giường và vận động nhẹ nhàng khi tình trạng ổn định.
- Chế độ ăn lỏng, 2 gam muối/ngày, hạn chế chất béo bão hòa. - Thở oxy 2-4 lít/phút để đảm bảo bệnh nhân có SpO2 > 90%. Điều trị thuốc [11] Chống đông: Enoxaparin: bắt đầu với liều 30mg tiêm tĩnh mạch, sau đó tiêm 15 phút tiêm dưới da (TDD) 1mg/kg mỗi 12 giờ nếu bn 75 tuổi và mức creatinine máu < 2,5mg/dl (nam) hoặc < 2mg/dl (nữ). Với những bn ≥ 75 tuổi thì không tiêm liều tĩnh mạch, liều tiêm dưới da giảm xuống 0,75mg/kg mỗi 12 giờ.
Nếu mức độ thanh thải creatinin < 30 ml/phút, TDD lmg/kg mỗi 24 giờ, không phụ thuộc vào tuổi tác người bệnh. Duy trì liều Enoxaparin tối đa là 8 ngày. Thuốc ức chế ngưng tập tiểu cầu: Aspirin: Liều khởi đầu 162-324 mg, duy trì liều 81-162 mg/ngày. Clopidogrel: dùng phối hợp hoặc thay thể Aspirin.
Nếu bệnh nhân < 75 tuổi, liều đầu 300mg, duy trì 75 mg/ngày (ít nhất 12 tháng). Nếu BN>75 tuổi, dùng liều duy trì 75 mg/ngày (ít nhất 12 tháng). 8 Chẹn beta giao cảm : dùng trong vòng 24 giờ đầu nếu không có chống chỉ định. Khởi đầu liều thấp rồi tăng dần liều.
Ức chế men chuyển: dùng trong vòng 24 giờ đầu đối với các bệnh nhân có suy tim, có rối loạn chức năng thất trái EF < 40% nếu không có chống chỉ định hay có tụt huyết áp. Nitroglycerin: uống hoặc ngậm dưới lưỡi liều 0,4 mg sau mỗi 5 phút, tối đa có thể dùng 3 liều. Truyền tĩnh mạch nitroglycerin được chỉ định để làm giảm đau ngực, kiểm soát huyết áp hay điều trị phù phổi cấp. Truyền 24- 48 giờ sau chuyển sang dạng uống.
Thuốc hạ lipid: dùng nhóm thuốc statin với mục tiêu điều trị LDL-C < 100 mg/dl đối với các bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp và LDL-C < 70 mg/dl nếu có kèm theo đái tháo đường. Điều trị sau khi ra viện Theo dõi 2-3 tháng sau giai đoạn cấp. Chuẩn bị cho bệnh nhân trở lại hoạt động bình thường sớm nhất khi có thể. Tiếp tục sử dụng thuốc [11] Thuốc ức chế ngưng tập tiểu cầu: Aspirin: 80- 162 mg/ngày và uống lâu dài nếu không có chống chỉ định.
Clopidogrel: 75 mg/ngày nếu không có chống chỉ định. Clopidogrel được cho dùng thêm cùng Aspirin trong ít nhất 1 tháng và tối ưu là 12 tháng. Thuốc chẹn beta giao cảm: nếu không có chống chỉ định. Cần chỉnh liều ở bệnh nhân có suy tim.
Thuốc ức chế men chuyển: đối với các bệnh nhân có suy tim, rối loạn chức năng thất trái EF < 40% tăng huyết áp hoặc đái tháo đường. Thuốc ức chế thụ thể angiotensin : nên cho khi bệnh nhân không dung nạp với thuốc ức chế men chuyển. 9 Thuốc kháng Aldosteron: nên cho ở những bệnh nhân có suy tim và không bị suy thận. Nitroglycerin: để điều trị triệu chứng đau ngực.
Thuốc hạ lipid máu: mục tiêu LDL-C < 100 mg/dl và tối ưu < 70 mg/dl.