Tổng quan luận án
Ung thư đại trực tràng là bệnh lý ác tính phổ biến với tỷ lệ mắc và tử vong cao trên toàn cầu. Theo số liệu của Tổ chức Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) năm 2020, ung thư đại trực tràng đứng hàng thứ ba về tỷ lệ mới mắc (1,9 triệu ca) và đứng thứ hai về tỷ lệ tử vong (935.000 ca). Tại Việt Nam, bệnh đứng hàng thứ tư ở nam giới và thứ ba ở nữ giới. Ung thư trực tràng chiếm khoảng 1/3 tổng số các trường hợp ung thư đại trực tràng.
Trước đây, kỹ thuật cắt đoạn trực tràng đơn thuần có tỷ lệ tái phát tại chỗ sau 5 năm từ 15% đến 45%, tỷ lệ sống còn 5 năm dao động trong khoảng 27% đến 42%. Việc ứng dụng kỹ thuật cắt toàn bộ mạc treo trực tràng (Total Mesorectal Excision - TME) kết hợp với phẫu thuật nội soi đã cải thiện kết quả điều trị, giảm tỷ lệ tái phát tại chỗ xuống dưới 10%. Bên cạnh chất lượng phẫu thuật, tình trạng diện cắt vòng quanh (Circumferential Resection Margin - CRM / DCVQ) được xác định là một trong những yếu tố tiên lượng quan trọng đối với khả năng tái phát tại chỗ, di căn xa và thời gian sống thêm. Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào đánh giá giới hạn cắt trên thành trực tràng, di căn hạch hoặc kết quả sớm của phẫu thuật nội soi; dữ liệu theo dõi dài hạn về giá trị tiên lượng của diện cắt vòng quanh còn thiếu hụt.
Luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Đặng Hồng Quân, chuyên ngành Ngoại Tiêu hóa (mã số 62.25), thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Võ Huỳnh Trang tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ (năm 2022), xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Mô tả một số đặc điểm bệnh lý, tổn thương giải phẫu bệnh và tình trạng diện cắt vòng quanh của bệnh phẩm sau mổ ở bệnh nhân ung thư biểu mô trực tràng được điều trị bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ từ tháng 07/2017 đến tháng 09/2021.
- Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật nội soi và giá trị tiên lượng của diện cắt vòng quanh ở các bệnh nhân nghiên cứu trên.
Đối tượng nghiên cứu gồm 94 bệnh nhân ung thư biểu mô trực tràng được phẫu thuật triệt căn bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ trong giai đoạn từ tháng 07/2017 đến tháng 09/2021.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan y văn trong luận án hệ thống hóa các mốc phát triển về giải phẫu học ngoại khoa, kỹ thuật phẫu thuật và mô bệnh học ung thư trực tràng:
- Về kỹ thuật cắt toàn bộ mạc treo trực tràng: Kỹ thuật TME được R. Heald đề xuất vào năm 1979 và công bố năm 1982. Năm 1986, Heald báo cáo kết quả trên 112 bệnh nhân với tỷ lệ tái phát tại chỗ sau 5 năm là 2,7% và tỷ lệ sống còn sau 5 năm đạt 87,5%. Các nghiên cứu tiếp theo của Enker (1995) và Aitken (1996) đã củng cố vai trò của TME như một tiêu chuẩn phẫu thuật triệt căn ung thư trực tràng.
- Về khái niệm và giá trị tiên lượng của diện cắt vòng quanh: Khái niệm diện cắt vòng quanh lần đầu tiên được Philip Quirke và cộng sự công bố năm 1986, xác định tổn thương DCVQ dương tính khi khoảng cách từ tế bào u đến mép cắt ngoài cùng của bệnh phẩm ≤ 1 mm. Năm 1994, Quirke công bố tỷ lệ tái phát tại chỗ ở nhóm DCVQ (+) là 66% so với 8% ở nhóm DCVQ (-). Các nghiên cứu quốc tế sau đó của de Haas-Kock và cộng sự (1996), Wibe và cộng sự tại Na Uy (2002 trên 686 bệnh nhân), Birbeck và cộng sự (2002 trên 608 bệnh nhân) đều khẳng định DCVQ (+) làm tăng tỷ lệ tái phát tại chỗ, di căn xa và giảm tỷ lệ sống còn toàn bộ. Nagtegaal I. (2008) và tổng quan hệ thống năm 2021 (gồm 75 nghiên cứu trên 85.048 bệnh nhân) tiếp tục xác nhận DCVQ là yếu tố tiên lượng độc lập.
- Về chất lượng bệnh phẩm phẫu thuật: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm MRC CR07 công bố năm 2009 của Quirke và cộng sự trên 1.156 bệnh nhân đã phân chia chất lượng bệnh phẩm thành 3 mức độ (mặt phẳng mạc treo trực tràng - tốt, mặt phẳng trong mạc treo trực tràng - trung bình, mặt phẳng cơ - kém), ghi nhận tỷ lệ tái phát tại vùng 3 năm lần lượt là 4%, 7% và 13%.
- Về phẫu thuật nội soi: Thử nghiệm MRC CLASSIC (2010) và thử nghiệm COLOR II (van der Pas và cộng sự, 2015 trên 1.044 bệnh nhân) chứng minh phẫu thuật nội soi điều trị ung thư trực tràng có kết quả ung thư học và tỷ lệ sống thêm tương đương với mổ mở.
- Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam: Các tác giả trong nước đã nghiên cứu bệnh phẩm và kết quả phẫu thuật ung thư trực tràng gồm Tạ Văn Tờ (1997), Lê Huy Hòa (2000, 2002), Lê Văn Quang và Đỗ Xuân Trường (2005), Đỗ Trọng Khanh (2007), Nguyễn Trọng Hòe (2009), Lâm Việt Trung (2008), Mai Đức Hùng (2012), Trần Anh Cường (2017), Trương Vĩnh Quý (2018), Lê Quốc Tuấn (2020), Trần Ngọc Thông (2021). Năm 2011, Đặng Hồng Quân và Phạm Văn Năng thực hiện khảo sát bước đầu diện cắt vòng quanh trên 49 bệnh nhân ung thư trực tràng, ghi nhận tỷ lệ DCVQ (+) là 24,5%, tuy nhiên chưa theo dõi dọc để đánh giá tiên lượng sống còn.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án giải quyết là đánh giá toàn diện tình trạng diện cắt vòng quanh gắn với chất lượng bệnh phẩm mổ nội soi TME và phân tích giá trị tiên lượng của diện cắt vòng quanh đối với tỷ lệ tái phát, di căn xa, thời gian sống thêm không bệnh (DFS) và sống thêm toàn bộ (OS) tại một trung tâm y khoa khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và phân loại chuẩn
- Giải phẫu học ứng dụng: Cấu trúc mạc quanh trực tràng bao gồm mạc riêng trực tràng (fascia propria recti), mạc trước xương cùng, mạc cùng - trực tràng (mạc Waldeyer ở ngang mức đốt sống cùng S4), vách trực tràng - sinh dục (mạc Denonvilliers) và các nếp gấp phúc mạc (van Houston). Khoang vô mạch giữa lá tạng và lá thành vùng chậu là mặt phẳng phẫu tích trong kỹ thuật TME.
- Định nghĩa diện cắt vòng quanh: DCVQ tương ứng với diện tích mặt ngoài không có phúc mạc che phủ ở cả mặt trước và mặt sau của bệnh phẩm trực tràng được cắt bỏ. Tình trạng DCVQ (+) được xác định khi khoảng cách ngắn nhất từ bờ ngoài khối u (hoặc từ ổ xâm lấn không liên tục, hạch di căn, xâm lấn mạch máu/bạch huyết/thần kinh) đến diện cắt ngoài cùng ≤ 1 mm khi đo dưới kính hiển vi quang học có thước đo.
- Phân loại chất lượng bệnh phẩm (CLBP): Đánh giá theo tiêu chuẩn của Quirke gồm 3 mức:
- Tốt (Mặt phẳng mạc treo trực tràng): Mạc treo trực tràng nguyên vẹn, bề mặt trơn láng, khiếm khuyết không sâu quá 5 mm, không có hình nón.
- Trung bình (Mặt phẳng trong mạc treo trực tràng): Khiếm khuyết bề mặt sâu > 5 mm, hình nón nhẹ ở mặt cắt xa, chưa lộ lớp cơ trực tràng.
- Kém (Mặt phẳng cơ): Rách sâu vào lớp cơ thành trực tràng, diện cắt không đều.
- Hệ thống phân giai đoạn TNM: Áp dụng hướng dẫn của Ủy ban Liên hiệp Ung thư Hoa Kỳ ấn bản lần thứ 8 năm 2017 (AJCC-8th).
Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu quan sát mô tả có theo dõi dọc theo thời gian.
- Cỡ mẫu và chọn mẫu: 94 bệnh nhân ung thư biểu mô trực tràng được điều trị phẫu thuật nội soi triệt căn tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ từ tháng 07/2017 đến tháng 09/2021.
- Quy trình kỹ thuật và thu thập dữ liệu:
- Phẫu thuật nội soi: Sử dụng dàn máy phẫu thuật nội soi Karl-Storz, dao cắt siêu âm, dao hàn mạch, máy khâu cắt thẳng (linear stapler) và máy nối vòng (circular stapler). Tiến hành phẫu thuật bảo tồn cơ thắt (cắt trước thấp nối máy, nối đại tràng - ống hậu môn) hoặc phẫu thuật cắt cụt trực tràng qua ngả bụng - tầng sinh môn (phẫu thuật Miles) tuân thủ nguyên tắc TME.
- Xử lý giải phẫu bệnh: Bệnh phẩm sau mổ được giữ nguyên khối, nhuộm mực đen ở toàn bộ diện cắt không có phúc mạc che phủ, cố định dung dịch Formalin, cắt lát mỏng ngang nguyên khối và đánh giá vi thể trên tiêu bản nhuộm Hematoxylin - Eosin (H&E) có thước đo vi mô.
- Theo dõi sau mổ: Khám lâm sàng định kỳ, định lượng CEA, siêu âm ổ bụng, chụp cắt lớp vi tính (CLVT) bụng - tiểu khung, X-quang phổi và nội soi đại trực tràng để phát hiện tái phát tại chỗ, di căn xa.
- Phương pháp xử lý thống kê: Phân tích đơn biến và đa biến (hồi quy logistic) xác định các yếu tố liên quan đến DCVQ (+). Phân tích thời gian sống thêm toàn bộ (OS) và sống thêm không bệnh (DFS) theo phương pháp Kaplan - Meier; so sánh đường cong sống còn bằng kiểm định Log-rank với độ tin cậy 95% (p < 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 trình bày hệ thống lý thuyết về giải phẫu trực tràng và hệ thống mạc chậu, bao gồm phân chia 3 đoạn trực tràng (1/3 trên, 1/3 giữa, 1/3 dưới) tương ứng với mối liên quan của nếp phúc mạc; chi tiết hệ thống mạch máu cấp máu (động mạch trực tràng trên từ động mạch mạc treo tràng dưới, động mạch trực tràng giữa và dưới từ hệ chậu trong, động mạch cùng giữa); hệ dẫn lưu tĩnh mạch cửa - chủ và dẫn lưu bạch huyết theo mạc treo tràng dưới và thành chậu bên.
Chương này cũng phân tích đặc điểm giải phẫu bệnh của ung thư biểu mô trực tràng (chiếm > 90% là ung thư biểu mô tuyến thông thường, cùng các dạng ít gặp như ung thư biểu mô nhầy, ung thư tế bào nhẫn, ung thư biểu mô không biệt hóa), cơ chế xâm lấn tại chỗ, di căn đường bạch mạch, đường tĩnh mạch và phúc mạc. Đồng thời, tác giả tổng thuật các phương pháp phẫu thuật (cắt trước thấp, kéo tụt pull-through, phẫu thuật Hartmann, phẫu thuật Miles), nguyên tắc cắt toàn bộ mạc treo trực tràng của Heald, các chỉ dẫn diện cắt xa an toàn (cách u 1-2 cm trên thành ruột, 4-5 cm trong mạc treo trực tràng), cũng như phác đồ điều trị đa mô thức (xạ trị tiền phẫu, hóa trị bổ trợ) theo hướng dẫn quốc tế của NCCN và ESMO.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân: chẩn đoán xác định ung thư biểu mô trực tràng, được điều trị bằng phẫu thuật nội soi triệt căn, có đầy đủ bệnh phẩm được xử lý theo quy trình chuẩn hóa về giải phẫu bệnh và theo dõi sau mổ. Tiêu chuẩn loại trừ gồm các trường hợp phẫu thuật tạm bợ, có di căn xa giai đoạn IV chưa thể cắt bỏ, hoặc không đầy đủ thông tin giải phẫu bệnh.
Quy trình phẫu thuật nội soi được chuẩn hóa từ tư thế bệnh nhân, vị trí đặt 4-5 trocar, kỹ thuật phẫu tích mạch mạc treo tràng dưới, bộc lộ và bảo tồn thần kinh hạ vị, phẫu tích đúng mặt phẳng TME (mặt sau, mặt bên, mặt trước), thực hiện miệng nối bằng máy khâu nối thẳng và vòng hoặc đường khoét tầng sinh môn trong phẫu thuật Miles. Chương này nêu quy trình nhuộm mực đen diện cắt ngoài bệnh phẩm tươi, quy trình cố định mô học và các biến số nghiên cứu định lượng/định tính, phương pháp kiểm soát sai số và đảm bảo đạo đức nghiên cứu y sinh học.
Chương 3: Kết quả
Chương 3 công bố các kết quả nghiên cứu trên 94 bệnh nhân ung thư biểu mô trực tràng:
| Đặc điểm / Biến số nghiên cứu |
Giá trị ghi nhận trong mẫu nghiên cứu (n = 94) |
| Tuổi trung bình |
61,09 ± 10,57 tuổi (nhóm 60 - 69 tuổi chiếm 41,5%) |
| Tỷ số Nam / Nữ |
0,9 : 1 |
| Vị trí khối u |
Trực tràng 1/3 giữa và 1/3 dưới: 86,2% |
| Kích thước khối u trung bình |
4,5 ± 1,7 cm |
| Mức độ biệt hóa mô học |
Biệt hóa vừa: 81,9% |
| Độ xâm lấn thành trực tràng |
Giai đoạn T3 và T4a: 86,1% |
| Số lượng hạch nạo vét trung bình |
12,6 ± 4,2 hạch |
| Tỷ lệ di căn hạch vùng |
N1: 16,0%; N2: 25,5% |
| Phân loại chất lượng bệnh phẩm |
Tốt: 51,1%; Trung bình: 38,3%; Kém: 10,6% |
| Tỷ lệ diện cắt vòng quanh dương tính [DCVQ (+)] |
29,8% (n = 28) |
| Phương pháp phẫu thuật |
Bảo tồn cơ thắt: 78,7%; Phẫu thuật Miles: 21,3% |
| Thời gian phẫu thuật trung bình |
237,5 phút |
| Thời gian có trung tiện trở lại sau mổ |
40,4 ± 14,4 giờ |
| Thời gian nằm viện sau mổ trung bình |
9,27 ± 2,5 ngày |
| Tai biến trong mổ / Tử vong chu phẫu |
0% |
| Tỷ lệ biến chứng chung / Xì miệng nối |
Biến chứng chung: 10,6%; Xì miệng nối: 8,1% |
| Tỷ lệ tái phát tại chỗ - vùng chung |
5,3% |
| Tỷ lệ di căn xa chung |
12,8% |
Phân tích hồi quy logistic đa biến ghi nhận các yếu tố làm gia tăng tỷ lệ DCVQ (+) gồm: độ sâu xâm lấn khối u giai đoạn T4, tình trạng di căn hạch vùng và chất lượng bệnh phẩm phẫu thuật không đạt mức tốt (mặt phẳng trong mạc treo hoặc mặt phẳng cơ).
Phân tích sống còn Kaplan - Meier theo dõi trung bình 22,1 ± 11,9 tháng cho thấy:
| Chỉ số theo dõi (Kaplan - Meier) |
Nhóm DCVQ (+) (n = 28) |
Nhóm DCVQ (-) (n = 66) |
Mức ý nghĩa thống kê (p) |
| Tỷ lệ tái phát tại chỗ sau 4 năm |
14,4% |
5,3% |
- |
| Tỷ lệ di căn xa sau 4 năm |
52,4% |
13,9% |
- |
| Thời gian sống thêm toàn bộ trung bình |
35,8 ± 3,2 tháng (95% CI: 29,5 - 42,2) |
45,5 ± 1,3 tháng (95% CI: 42,8 - 48,2) |
p = 0,003 (Log-rank) |
| Tỷ lệ sống thêm toàn bộ dự đoán sau 48 tháng |
55,0% |
91,0% |
p = 0,003 |
| Thời gian sống không bệnh trung bình |
31,5 ± 3,5 tháng (95% CI: 24,6 - 38,5) |
43,1 ± 1,8 tháng (95% CI: 39,4 - 46,7) |
p = 0,002 (Log-rank) |
| Sống không bệnh dự đoán tại 24 tháng |
71,3% |
91,9% |
- |
| Sống không bệnh dự đoán tại 36 tháng |
58,3% |
81,1% |
- |
| Sống không bệnh dự đoán tại 48 tháng |
38,9% |
81,1% |
p = 0,002 |
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 so sánh các kết quả đạt được với các nghiên cứu trong nước và quốc tế:
- Về đặc điểm lâm sàng và chất lượng phẫu thuật: Tác giả phân tích tính khả thi và an toàn của phẫu thuật nội soi TME. Thời gian mổ (237,5 phút), thời gian phục hồi nhu động ruột (40,4 giờ), số lượng hạch nạo vét trung bình (12,6 hạch, đạt tiêu chuẩn tối thiểu ≥ 12 hạch theo khuyến cáo quốc tế) và tỷ lệ biến chứng (10,6%, xì miệng nối 8,1%) tương đương với các công bố của Mai Đức Hùng (2012), Trần Anh Cường (2017), Lê Quốc Tuấn (2020) và thử nghiệm COLOR II.
- Về tình trạng DCVQ: Tỷ lệ DCVQ (+) 29,8% trong nghiên cứu phản ánh đặc điểm mẫu bệnh nhân chủ yếu ở giai đoạn tiến triển tại chỗ (T3, T4a chiếm 86,1%, vị trí u thấp và giữa chiếm 86,2%). Tỷ lệ này nằm trong khoảng dao động từ 1% đến 31,8% được ghi nhận trong tổng quan của Nagtegaal (2008) và tổng quan năm 2021.
- Về giá trị tiên lượng: So sánh với các nghiên cứu của Quirke (1994), de Haas-Kock (1996, 2016), Birbeck (2002) và Wibe (2002), kết quả của luận án khẳng định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm DCVQ (+) và DCVQ (-) về tỷ lệ tái phát tại chỗ (14,4% so với 5,3%), di căn xa (52,4% so với 13,9%), sống thêm toàn bộ sau 4 năm (55% so với 91%, p = 0,003) và sống thêm không bệnh sau 4 năm (38,9% so với 81,1%, p = 0,002).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn
- Luận án cung cấp dữ liệu lâm sàng và giải phẫu bệnh có theo dõi dọc về vai trò của diện cắt vòng quanh trong phẫu thuật nội soi điều trị ung thư biểu mô trực tràng tại Việt Nam.
- Xác lập mối liên quan giữa chất lượng bệnh phẩm phẫu thuật (mặt phẳng phẫu tích), giai đoạn u (T4), tình trạng di căn hạch với nguy cơ diện cắt vòng quanh dương tính.
- Chứng minh bằng phân tích thống kê sống còn (Kaplan - Meier và Log-rank test) rằng diện cắt vòng quanh là yếu tố tiên lượng trực tiếp đến nguy cơ tái phát tại chỗ, di căn xa, thời gian sống thêm không bệnh và thời gian sống thêm toàn bộ của bệnh nhân ung thư biểu mô trực tràng sau phẫu thuật nội soi triệt căn.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Tình trạng diện cắt vòng quanh có vai trò tiên lượng đối với tái phát bệnh và thời gian sống thêm sau mổ, do đó cần được đánh giá chi tiết, đo đạc khoảng cách vi thể trong báo cáo kết quả giải phẫu bệnh sau mổ và triển khai thường quy tại các trung tâm ngoại khoa.
- Cần thực hiện các biện pháp giảm tỷ lệ diện cắt vòng quanh dương tính thông qua việc tăng cường tầm soát phát hiện ung thư trực tràng ở giai đoạn sớm và kiểm soát kỹ thuật phẫu thuật để đạt mặt phẳng mạc treo trực tràng nguyên vẹn.
- Chất lượng bệnh phẩm phẫu thuật cần được phân loại và đánh giá thường quy đại thể/vi thể nhằm chuẩn hóa và nâng cao chất lượng thực hành phẫu thuật ngoại khoa tiêu hóa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án nêu rõ 3 hạn chế chính:
- Đánh giá giai đoạn bệnh trước mổ phần lớn dựa trên chụp cắt lớp vi tính bụng - tiểu khung. Các hướng dẫn hiện nay của NCCN và ESMO khuyến cáo sử dụng chụp cộng hưởng từ (MRI) vùng chậu độ phân giải cao để đánh giá mức độ xâm lấn, di căn hạch và dự đoán tình trạng DCVQ trước mổ; chụp CLVT có độ nhạy thấp hơn trong việc dự đoán tình trạng DCVQ.
- Chưa thực hiện khảo sát các yếu tố vi thể khác như sự xâm lấn mạch máu và xâm lấn thần kinh ngoại biên trong kết quả giải phẫu bệnh sau mổ.
- Thời gian theo dõi sau mổ của nhóm bệnh nhân cuối cùng tính từ thời điểm kết thúc thu thập mẫu là 6 tháng, chưa đủ dài để đánh giá toàn diện các biến cố tái phát và di căn xa sau mổ ở mốc thời gian 5 năm.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo tham khảo trong lĩnh vực Ngoại Tiêu hóa và Ung bướu:
- Đối với phẫu thuật viên ngoại tiêu hóa: Cung cấp thông tin chi tiết về giải phẫu mạc quanh trực tràng, các mốc phẫu thuật TME qua nội soi và tiêu chuẩn đánh giá mặt phẳng phẫu thuật để đảm bảo chất lượng bệnh phẩm.
- Đối với bác sĩ giải phẫu bệnh: Quy trình nhuộm mực đen diện cắt không có phúc mạc che phủ, kỹ thuật cắt lát mỏng nguyên khối và tiêu chuẩn đo khoảng cách vi thể diện cắt vòng quanh (≤ 1 mm) là tài liệu tham khảo cho quy trình thực hành chuẩn.
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên sau đại học: Cung cấp phương pháp thiết kế nghiên cứu đánh giá sống còn Kaplan - Meier, phân tích hồi quy đa biến và các biểu mẫu thu thập bệnh án nghiên cứu lâm sàng - giải phẫu bệnh chuẩn hóa.
Câu hỏi thường gặp
1. Tiêu chuẩn xác định diện cắt vòng quanh dương tính [DCVQ (+)] trong luận án là gì?
Diện cắt vòng quanh dương tính được xác định khi khoảng cách ngắn nhất từ tế bào ung thư (hoặc từ khối u nguyên phát, ổ xâm lấn không liên tục, hạch di căn, xâm lấn mạch máu/bạch huyết/thần kinh) đến diện cắt ngoài cùng của bệnh phẩm không có phúc mạc che phủ đo được trên kính hiển vi quang học có thước đo là ≤ 1 mm.
2. Tỷ lệ diện cắt vòng quanh dương tính và các yếu tố liên quan được ghi nhận trong nghiên cứu là bao nhiêu?
Tỷ lệ DCVQ (+) trong nghiên cứu là 29,8% (28/94 bệnh nhân). Các yếu tố làm gia tăng tỷ lệ DCVQ (+) gồm: khối u giai đoạn T4, có di căn hạch vùng (N1, N2) và chất lượng bệnh phẩm phẫu thuật không tốt (mặt phẳng trong mạc treo trực tràng hoặc mặt phẳng cơ).
3. Tình trạng DCVQ ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ tái phát và di căn xa sau 4 năm?
Phân tích Kaplan - Meier cho thấy sau 4 năm theo dõi:
- Tỷ lệ tái phát tại chỗ tích lũy ở nhóm DCVQ (+) là 14,4%, cao hơn so với nhóm DCVQ (-) là 5,3%.
- Tỷ lệ di căn xa tích lũy ở nhóm DCVQ (+) là 52,4%, cao hơn so với nhóm DCVQ (-) là 13,9%.
4. Thời gian sống thêm toàn bộ và sống thêm không bệnh khác biệt ra sao giữa hai nhóm DCVQ (+) và DCVQ (-)?
- Sống thêm toàn bộ (OS): Nhóm DCVQ (-) đạt thời gian trung bình 45,5 ± 1,3 tháng, tỷ lệ sống 4 năm dự đoán là 91%; nhóm DCVQ (+) đạt 35,8 ± 3,2 tháng, tỷ lệ sống 4 năm dự đoán là 55% (khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,003).
- Sống thêm không bệnh (DFS): Nhóm DCVQ (-) đạt thời gian trung bình 43,1 ± 1,8 tháng, tỷ lệ sống không bệnh 4 năm là 81,1%; nhóm DCVQ (+) đạt 31,5 ± 3,5 tháng, tỷ lệ sống không bệnh 4 năm là 38,9% (khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,002).
5. Chất lượng bệnh phẩm phẫu thuật được phân loại theo các mức độ nào và tỷ lệ đạt được ra sao?
Chất lượng bệnh phẩm được phân loại theo tiêu chuẩn Quirke gồm 3 mức: mặt phẳng mạc treo trực tràng (tốt) chiếm 51,1%, mặt phẳng trong mạc treo trực tràng (trung bình) chiếm 38,3% và mặt phẳng cơ (kém) chiếm 10,6%.
Kết luận
Luận án tiến sĩ y học của Đặng Hồng Quân đã đánh giá đặc điểm bệnh lý, tổn thương mô bệnh học và tình trạng diện cắt vòng quanh trên 94 bệnh nhân ung thư biểu mô trực tràng được phẫu thuật nội soi triệt căn tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ giai đoạn 2017 - 2021. Kết quả nghiên cứu xác định tỷ lệ diện cắt vòng quanh dương tính là 29,8%, liên quan có ý nghĩa với giai đoạn u T4, di căn hạch và chất lượng bệnh phẩm phẫu thuật. Phân tích sống còn Kaplan - Meier chứng minh diện cắt vòng quanh là yếu tố tiên lượng độc lập quan trọng đối với tỷ lệ tái phát tại chỗ, di căn xa, thời gian sống thêm toàn bộ (p = 0,003) và sống thêm không bệnh (p = 0,002). Luận án đề xuất việc chuẩn hóa đánh giá diện cắt vòng quanh và chất lượng bệnh phẩm thành quy trình thường quy trong thực hành ngoại khoa và giải phẫu bệnh học.