Chương 1: Cơ sở khoa học về điều tiết GTTTTĐ do đầu tư CSHT Chương 2: Thực trạng điều tiết GTTTTĐ do đầu tư CSHT trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp hoàn thiện cơ chế điều tiết GTTTTĐ do đầu tư xây dựng CSHT trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC ĐIỀU TIẾT GIÁ TRỊ TĂNG THÊM TỪ ĐẤT DO ĐẦU TƢ CƠ SỞ HẠ TẦNG 1. Nguồn gốc và cơ sở hình thành GTTTTĐ 1. Đất đai, đặc tính và vai trò của đất đai Khái niệm: ”Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luâ ̣t. Đất đai là một loại tài nguyên tự nhiên, một loại tài nguyên sản xuất bao gồm cả lục địa và mặt nước trên bề mặt trái đất Đất đai là tài sản vì đất đai có đầy đủ thuộc tính của một tài sản như: Có giá trị sử dụng bởi vì đất đai đáp ứng được nhu cầu nào đó của con người, con người có khả năng chiếm hữu và sử dụng , là đối tượng trao đổi mua bán”.
Đặc tính của đất đai: ”Thứ nhất, đất đai không bị hao mòn và có sức chịu tải liên tục thì trong sửdụng nó không bị hao mòn và thu lợi từ giá trị tăng thêm của đất cũng có tínhchất lâu dài không có điểm cuối. Thứ hai, tính không thể di dời và chất lượng các thửa đất khác nhau thì khác nhau tạo ra tính cá biệt của từng thửa đất là rất rõ rệt, từ đó có khả năng sinh lợi khác nhau, đó chính là nguồn gốc cơ bản tạo ra địa tô chênh lệch. Thứ ba, đặc tính không tăng của đất đai là đặc tính về lượng, nó tác động làm cho việc cung cấp đất đai ít cạnh tranh, còn về mặt nhu cầu thì trở nên cạnh tranh quyết liệt, do đó lượng nhu cầu quyết định giá cả đất đai. Thứ tư, tính khu vực của đất đai và khu vực mà nó hình thành đều tồn tại mối quan hệ hỗ trợ, bổ sung lẫn nhau, hợp lực với nhau, đó là nguồn gốc tạo ra vùng giá trị của đất đai, vùng giá trị của đất đai trở thành căn cứ để xác định giá đất.
Thứ năm, đặc tính xã hội của đất đai làm cho đất đai được cấu thành bởi sự kết hợp hài hoà giữa đặc điểm về điều kiện xã hội và điều kiện tự nhiên, từ đó đất 6 đai chiếm lĩnh vị trí kinh tế, xã hội. Nhưng điều kiện xã hội và điều kiện tự nhiên là quá trình thay đổi thường xuyên, nên cấu thành và vị trí KT-XH của đất đai cũng thay đổi theo. Thứ sáu, Do đặt tính của đất đai vừa là tư liệu sản xuất, vừa là tài sản, trong sử dụng không phải khấu hao do hao mòn, diện tích là có hạn, giá cả của đất đai xét cả quá trình là không ngừng tăng lên, vì thế nguồn thu không chỉ ổn định mà còn không ngừng tăng lên nếu lấy giá đất làm căn cứ để thực hiện phân phối lợi ích từ đất đai, và giá trị kinh tế của đất đai biến động theo xu hướng tăng lên mang tính qui luật.” Vai trò của đất đai: - Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia, là điều kiện tồn tại và phát triển của con người cũng như các sinh vật khác trên trái đất. - Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xã hội như là một tư liệu sản xuất đặc biệt.
Trong quá trình sản xuất, đất đai trở thành tư liệu sản xuất không thể thiếu được. Đối với từng ngành cụ thể trong nền kinh tế quốc dân, đất đai cũng có những vị trí vai trò quan trọng khác nhau. Trong ngành công nghiệp (trừ ngành khai khoáng), ngành dịch vụ, đất đai làm nền tảng, làm cơ sở , làm địa điểm để tiến hành những thao tác, những hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong nông nghiệp, đất đai có một vị trí đặc biệt quan trọng, đó là yếu tố hàng đầu của ngành sản xuất nông nghiệp, đất đai không chỉ là chỗ dựa, chỗ đứng cho cây trồng mà mọi tác động của con người vào cây trồng đều phải dựa vào đất đai.
- Đất đai là một trong các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến sự phân bố dân cư lao động và môi trường sống cho con người. Vì đất đai tạo nên sự sống của thực vật, động vật và của con người nên tại các khu vực có môi trường sống thuận lợi thì dân cư sẽ tập trung đông đúc và ngược lại. - Đất đai là tài sản quốc gia có giá trị lớn, là nguồn lực tài chính, nguồn thu ổn định, lâu dài và có xu hướng tăng lên cho ngân sách NN.Nguồn tài chính từ đất đai có giá trị rất lớn trong nguồn tài chính của xã hội vì đất đai là hàng hóa đặc biệt. Giá trị của đất đai có thể góp vốn sản xuất kinh doanh, góp vốn mà tài sản 7 không mất đi, đó cũng là đặc điểm của đất đai, càng sử dụng và sử dụng vào nhiều mục đích thì đất đai càng tăng giá trị của nó.
Khi giá trị của đất đai ngày càng tăng thì nguồn thu của NN cũng tăng theo vì đất đai thuộc sở hữu toàn dân do NN đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Tóm lại, đất đai có vai trò rất quan trọng đối với sản xuất và đời sống con người, nó giữ một vị trí độc tôn và cốt lõi trong xã hội, chính trị và lý thuyết kinh tế, là nguồn lực tài chính. Đối với đời sống của con người, đất đai có những chức năng quan trọng, đó là chức năng “vật mang” - là cơ sở tồn tại của mọi sinh vật và vật thể phi sinh vật (vật kiến trúc, đường sá.), nơi tồn giữ khoáng sản, là vật mang của hệ thống sinh thái, văn hóa và tự nhiên để cung cấp cảnh quan cho con người; là chức năng dưỡng dục khi trở thành tư liệu sản xuất và nguồn sống của muôn loài, nhờ đó mà khi trở thành tài sản, nhu cầu xã hội làm cho giá đất tăng lên không ngừng, đất đai trở thành nơi đầu tư để tích trữ vốn và gia tăng giá trị. Về kinh tế, đất đai gắn liền với các quyền (sở hữu, sử dụng, thu lợi, chothuê, thừa kế, thế chấp.); về kinh tế - chính trị thì đất đai vừa là công cụ lao động vừa là đối tượng lao động trong quá trình sản xuất vật chất xã hội; về chính trị thì đất đai là yếu tố hàng đầu để hình thành nên một quốc gia, thể hiện phạm vi của quyền quản lý NN và quyền tài phán.
Các cuộc chiến tranh được phát động để chiếm đất, các quyền về sở hữu đất đai được đưa vào trong các bộ luật của tất cả các nước và được pháp luật bảo vệ. Khái niệm, Bản chất và cơ sở hình thành của GTTTTĐ GTTTTĐ: “ Là phần chênh lệch giữa giá trị hiện tại so với giá trị ban đầu của đất đai do vị trí địa lý của đất đai hoặc do sự tác động của con người ”. GTTTTĐ có: GTTTTĐ do vị trí địa lý: “ Là phần giá trị chênh lệch giữa giá trị hiện tại của đất đai so với gia trị ban đầu do điều kiện tự nhiên thuận lợi mang lại đó là địa tô chênh lệch 1.” GTTTTĐ do người SDĐ tạo ra: “Là phần giá trị chênh lệch giữa giá trị hiện tại của đất đai sau một quá trình con người sử dụng, đầu tư, bồi bổ, cải tạo so với phần giá trị ban đầu của đất đai.” 8 GTTTTĐ không do người SDĐ tạo ra: “Là phần giá trị chênh lệch giữa giá trị hiện tại của đất đai do sự tác động của NN, của cộng đồng so với giá trị ban đầu vốn có của đất đai. Thông thường ở nhiều nước thông qua việc đăng ký giá đất, từ đó xác định GTTTTĐ tăng thêm giữa 2 thời điểm sau khi lạo trừ chi phí đầu tư vào đất (nếu có) và một số yếu tố tác động làm tăng giá như giá trị tiền tệ .” Cả hai loại GTTTTĐ do người SDĐ hay không phải người SDĐ tạo ra thì giá trị đó đều do sự tác động của con người vào đất đai làm tăng giá trị của đất đai so với ban đầu.
Về bản chất, theo lý thuyết năng suất thặng dư thì thực chất nghiên cứu GTTTTĐ là nghiên cứu địa tô: ”Địa tô được vốn hóa thành giá đất hoặc tiền cho thuê đất, là cách thức thực hiện quyền sở hữu đất đai về mặt kinh tế. Theo lý luận của C.Mác thì trong bất cứ xã hội nào, mỗi khi có sự tách biệt quyền sở hữu đất khỏi QSDĐ thì xuất hiện địa tô. Đó là dạng phân phối ban đầu của thu nhập quốc dân. Địa tô phát sinh khi sử dụng đất phi nông nghiệp cũng giống như địa tô nông nghiệp, có ba dạng là địa tô tuyệt đối, địa tô chênh lệch và địa tô độc quyền.
Địa tô tuyệt đối chỉ gắn với quyền sở hữu đất, bất luận đất xấu tốt thế nào. Địa tô chênh lệch bao gồm địa tô chênh lệch 1 phụ thuộc vào vị trí của khoảnh đất đó, và địa tô chênh lệch 2 phụ thuộc vào mức độ đầu tư vào khoảnh đất đó. Nói chung, chủ sở hữu được hưởng địa tô chênh lệch 1, còn người SDĐ được hưởng địa tô chênh lệch 2.Mác cũng đã chứng minh rằng bất kể tính chất, nội dung, hình thức địa tô có không giống nhau như thế nào, thì nó đều có một điểm chung, đó là sự chiếm hữu địa tô là sự thực hiện quyền sở hữu đất đai về mặt kinh tế, đồng thời phân biệt một cách rành mạch hai phạm trù địa tô và tiền thuê, ông đưa ra định nghĩa về địa tô "địa tô thực chất là sự chi trả cho việc sử dụng bản thân đất đai"; Đặc biệt khi nghiên cứu kinh tế học của Ri-các-đô về quan hệ sở hữu và phân phối địa tô, C.Mác đã nhận định “Quy luật của Ri-các-đô cũng sẽ thống trị y như thế trong trường hợp hoàn toàn không có quyền sở hữu về ruộng đất. Khi quyền sở hữu về ruộng đất bị xoá bỏ mà nền sản xuất tư bản chủ nghĩa vẫn được duy trì, thì lợi nhuận phụ thêm đó, bắt nguồn từ sự khác nhau trong độ phì, vẫn sẽ không mất đi.
Nếu như NN 9 chiếm lấy quyền sở hữu về ruộng đất, còn nền sản xuất tư bản chủ nghĩa vẫn tiếp tục tồn tại, thì tô của các loại đất … sẽ được trả cho NN, nhưng bản thân tô vẫn còn được duy trì”.