CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Khái quát về vốn đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đô thị từ Ngân sách nhà nước 1. Một số khái niệm cơ bản về vốn đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đô thị từ Ngân sách nhà nước Khái niệm về vốn đầu tư “ Vốn đầu tư trong nền kinh tế thị trường, việc tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định là điều kiện quyết định đến sự tồn tại của mọi chủ thể kinh tế, để thực hiện được điều này, các tác nhân trong nền kinh tế phải dự trữ tích lũy các nguồn lực. Khi các nguồn lực này được sử dụng vào quá trình sản xuất để tái sản xuất ra các tài sản cố định của nền kinh tế thì nó trở thành vốn đầu tư” [9].
Vậy vốn đầu tư chính là tiền tích lũy của xã hội của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ là vốn huy động của dân và vốn huy động từ các nguồn khác, được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội. Vốn đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đô thị “ Vốn đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đô thị là toàn bộ những chi phí cho toàn bộ quá trình đầu tư để đạt được mục đích đầu tư, để đưa vào khai thác và sử dụng theo yêu cầu của dự án (bao gồm cả yếu tố trượt giá)” [7]. “ Vốn đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đô thị bao gồm các khoản chi phí gắn liền với hoạt động đầu tư, là toàn bộ chi phí cần thiết để xây dựng mới hoặc sửa chữa, cải tạo, mở rộng hay trang bị lại kỹ thuật công trình. Do đặc điểm của quá trình sản xuất và đặc điểm của sản phẩm xây dựng nên mỗi dự án đầu tư xây dựng công trình có chi phí riêng được xác định theo đặc điểm, tính 8 chất kỹ thuật và yêu cầu công nghệ của quá trình xây dựng” [8].
Chi phí đầu tư xây dựng được biểu thị qua chỉ tiêu tổng mức đầu tư, tổng dự toán, dự toán công trình, giá thanh toán và quyết toán vốn đầu tư khi kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng. Nguồn vốn cho đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông vận tải hình thành từ nguồn vốn NSNN, vốn nước ngoài và vốn từ khu vực tư nhân. Đặc điểm vốn đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đô thị - Vốn đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đô thị có thời gian thu hồi vốn dài trong nhiều trường hợp là không thu hồi trực tiếp được. Đây là một đặc điểm nổi bật của vốn đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đô thị.
Từ đặc điểm này dẫn đến việc huy động các nguồn vốn từ nhân dân đầu tư cho công trình giao thông rất hạn chế. Hệ thống hạ tầng giao thông đô thị trải dài trên phạm vi không gian rộng lớn, không những của địa phương mà còn kết nối với những vùng, lãnh thổ, địa phương khác. Do các yếu tố về tự nhiên, kỹ thuật phức tạp lại đòi hỏi độ bền cao, thời gian sử dụng lâu dài với cường độ sử dụng lớn, nên các công trình đều có giá thành cao. Bên cạnh đó, các công trình hạ tầng giao thông đô thị phải xây dựng đồng bộ từ đường, vỉa hè, biển báo, điện chiếu sáng.
để đảm bảo an toàn và hiệu quả. Chính vì vậy mà lượng vốn đầu tư vào các hạ tầng giao thông đô thị thường lớn. Hệ thống hạ tầng giao thông đô thị được đầu tư cho mục đích công cộng, phục vụ cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa của cư dân. Với giá trị đầu tư lớn nhưng khoản thu từ công trình là phí sử dụng lại ít, thậm chí là không thu phí nên các công trình có thời gian thu hồi vốn dài hoặc không thu hồi được.
- Vốn đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đô thị được huy động từ rất nhiều nguồn vốn. Đây là một đặc điểm nổi bật của vốn đầu tư hạ tầng giao thông đô thị. Từ đặc điểm này dẫn đến việc huy động các nguồn vốn từ nhân dân đầu tư cho hạ tầng giao thông đô thị là rất hạn chế. Thực tế trong những năm qua ở nước ta 9 cho thấy nguồn vốn đầu tư cho hạ tầng giao thông đô thị chỉ yếu là từ nguồn tiết kiệm của ngân sách Nhà nước, nguồn vốn tín dụng và hỗ trợ nước ngoài.
Khu vực tư nhân mới chỉ tham gia đóng góp vốn đầu tư cho hệ thống đường nông thôn. Để có thể khai thác tốt các nguồn vốn ngoài ngân sách đầu tư cho hệ thống giao thông vận tải thì Nhà nước cần phải có cơ chế khuyến khích cả về mặt pháp lý cũng như tài chính thì mới có thể thu hút được vốn từ các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư vào cơ sở hạ tầng giao thông đô thị. - Hiệu quả vốn đầu tư cho phát triển giao thông đô thị là hiệu quả kinh tế - xã hội tổng hợp.Trên góc độ quản lý vĩ mô phải xem xét, đánh giá việc thực hiện dự án đầu tư có những tác động gì đối với việc thực hiện mục tiêu phát triên kinh tế, có nghĩa là phải xem xét mặt kinh tế của dự án, xem xét những lợi ích kinh tế, xã hội do thực hiện dự án đem lại. Nội dung quản lý vốn đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đô thị từ ngân sách nhà nước 1.
Khái niệm, đặc điểm và nguyên tắc quản lý vốn đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đô thị từ ngân sách nhà nước 1. Khái niệm quản lý vốn đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đô thị từ ngân sách nhà nước Quản lý, theo nghĩa chung nhất, là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra. QLNN là dạng quản lý mang tính chất thực hiện quyền lực Nhà nước. Khái niệm: “ Quản lý vốn đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đô thị từ ngân sách nhà nước là những tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của cơ quan nhà nước có chức năng, thẩm quyền tới các đơn vị và cá nhân thực hiện quá trình huy động, sử dụng vốn đầu tư, thông qua các cơ chế, chính sách của Nhà nước nhằm phát triển hệ thống giao thông đô thị có hiệu quả”.
[3] - Chủ thể quản lý vốn đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đô thị là Nhà nước với hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước và các công chức lãnh đạo 10 trong các cơ quan đó. Trong hoạt động đầu tư xây dựng Chính phủ thống nhất quản lý vốn đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đô thị trong phạm vi cả nước. Các cơ quan nhà nước trực tiếp tham gia thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các phương diện kế hoạch, chính sách, tiền vốn, đất đai, kỹ thuật. Chủ thể nhà nước tham gia quản lý vốn đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đô thị từ trung ương đến địa phương.
Ở trung ương, chủ thể quản lý về vốn đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đô thị là Quốc hội, Chính phủ và các Bộ chức năng ( Bộ Giao thông vận tải, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Xây dựng, Bộ Tài Chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Các Bộ quản lý ngành có liên quan). Ở cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương chủ thể QLNN là Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Trong đó, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Giao thông vận tải, Sở Tài chính, Kho bạc nhà nước. là các cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương, các cơ quan này thực hiện các chức năng khác nhau trong quản lý vốn đầu tư.
Ví dụ, sở Kế hoạch và đầu tư thực hiện chức năng lập kế hoạch vốn, sở Tài chính thực hiện phân bổ vốn. - Đối tượng QLNN về vốn đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đô thị: là các đơn vị, cá nhân thực hiện các hoạt động liên quan đến đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đô thị gồm huy động và sử dụng vốn đầu tư. QLNN chỉ chủ động quản lý đối với các nguồn vốn từ NSNN; đối với các nguồn vốn khác, Nhà nước phải thông qua chính sách, cơ chế tạo điều kiện định hướng doanh nghiệp và dân cư đểthực hiện chức năng quản lý. Đối với dự án sử dụng vốn NSNN: Cơ quan QLNN chịu trách nhiệm quản lý các dự án do mình quyết định đầu tư.
Các dự án này có thể thuộc cả 3 nhóm A, B, C trong phạm vi và khả năng cân đối của ngân sách. Với các dự án này, cơ quan QLNN quản lý toàn bộ từ quá trình huy động, phân bổ và sử dụng vốn từ việc xác định chủ trương đầu tư, lập dự án, quyết định đầu tư, lập dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi công xây dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao và đưa công 11 trình vào khai thác sử dụng. Đối với các dự án sử dụng vốn khác nhau ( bao gồm cả vốn tư nhân theo hình thức PPP), cơ quan QLNN ( thường được giao cho Bộ giao thông vận tải) thực hiện chức năng quản lý đầu tư vốn của chủ đầu tư để xét duyệt dự án, còn quá trình thực hiện dự án sẽ do chủ đầu tư tự quyết định. Đối với dự án của doanh nghiệp sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước, Bộ giao thông vận tải sẽ quản lý về chủ trương và quy mô đầu tư.
Doanh nghiệp có dự án tự chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và quản lý dự án theo các quy định của pháp luật có liên quan. Phương thức quản lý vốn đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đô thị được thực hiện thông qua quy hoạch phát triển mạng lưới giao thông đường bộ, hình thành khuôn khổ pháp luật; ban hành và thực hiện cơ chế chính sách, bố trí đội ngũ cán bộ giám sát, kiểm tra, kiểm soát hoạt động tại các công trình.