Luận án tiến sĩ nghiên cứu giá trị của phosphatase kiềm lysozyme adenosine deaminase và interferon gamma trong chẩn đoán tràn dịch màng phổi do lao

Luận án tiến sĩ nghiên cứu giá trị phosphatase kiềm, lysozyme, adenosine deaminase, interferon gamma trong chẩn đoán tràn dịch màng phổi do lao.

Chuyên ngành

Nội khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2018

181
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Đại cương bệnh lao

1.2. Tràn dịch màng phổi do lao

1.3. Nguồn gốc, đặc điểm, vai trò, tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước của phosphatase kiềm, lysozyme, adenosine deaminase và interferon gamma

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của nhóm bệnh nhân được chẩn đoán cuối cùng là TDMP lao

3.2. Giá trị chẩn đoán của từng xét nghiệm

3.3. So sánh và kết hợp giá trị chẩn đoán của các ALP, lysozyme, ADA và INF-γ trong TDMP lao

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm lâm sàng của nhóm bệnh nhân nghiên cứu có chẩn đoán cuối cùng tràn dịch màng phổi lao

4.2. Giá trị chẩn đoán của từng xét nghiệm

4.3. So sánh và kết hợp giá trị chẩn đoán của các ALP, lysozyme, ADA và INF-γ trong TDMP lao

4.4. Ứng dụng thực tiễn của đề tài

4.5. Giới hạn của đề tài

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Bảng thu thập số liệu nghiên cứu

Bảng thông tin dành cho đối tượng nghiên cứu và đồng thuận tham gia nghiên cứu

Các hình ảnh thu thập qua nghiên cứu

Danh sách bệnh nhân nghiên cứu

Giấy chấp thuận của hội đồng đạo đức

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh lao và tràn dịch màng phổi do lao

Bệnh lao là một trong những bệnh nhiễm trùng gây tử vong hàng đầu trên thế giới. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 2010 có khoảng 8,8 triệu trường hợp lao mới và 1,1 triệu người tử vong. Tràn dịch màng phổi (TDMP) do lao là một trong những thể lao ngoài phổi phổ biến, chiếm 39,2% các trường hợp lao ngoài phổi tại Việt Nam. Chẩn đoán TDMP do lao thường gặp khó khăn do các xét nghiệm hiện tại có độ nhạy thấp. Các dấu ấn sinh hóa như phosphatase kiềm, lysozyme, adenosine deaminase (ADA), và interferon gamma (INF-γ) đang được nghiên cứu để cải thiện độ chính xác trong chẩn đoán.

1.1. Dịch tễ học bệnh lao

Bệnh lao vẫn là một vấn đề sức khỏe toàn cầu, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Việt Nam xếp thứ 12 trong số 22 quốc gia có gánh nặng bệnh lao cao nhất. TDMP do lao là thể lao ngoài phổi phổ biến, chiếm tỷ lệ cao trong các nguyên nhân gây TDMP. Các nghiên cứu cho thấy, TDMP do lao thường gặp ở bệnh nhân có tiền sử nhiễm lao hoặc tiếp xúc với vi khuẩn lao.

1.2. Cơ chế bệnh sinh của TDMP do lao

TDMP do lao xảy ra khi vi khuẩn lao xâm nhập vào màng phổi, gây ra phản ứng viêm và tích tụ dịch. Các dấu ấn sinh hóa như ADAINF-γ tăng cao trong dịch màng phổi, phản ánh quá trình viêm và đáp ứng miễn dịch. Các nghiên cứu gần đây cho thấy, phosphatase kiềmlysozyme cũng có giá trị trong chẩn đoán, mặc dù độ nhạy và độ đặc hiệu thấp hơn so với ADAINF-γ.

II. Phương pháp nghiên cứu và đối tượng

Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá giá trị chẩn đoán của các dấu ấn sinh hóa trong TDMP do lao. Đối tượng nghiên cứu bao gồm các bệnh nhân được chẩn đoán TDMP do lao dựa trên các tiêu chuẩn lâm sàng và xét nghiệm. Các phương pháp nghiên cứu bao gồm phân tích dịch màng phổi để đo nồng độ phosphatase kiềm, lysozyme, ADA, và INF-γ. Kết quả được so sánh với các nhóm bệnh nhân có TDMP do các nguyên nhân khác.

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là 484 bệnh nhân được chẩn đoán TDMP do lao tại các bệnh viện lớn ở Việt Nam. Các bệnh nhân được phân loại dựa trên các tiêu chuẩn lâm sàng, xét nghiệm dịch màng phổi, và kết quả sinh thiết màng phổi. Nhóm đối chứng bao gồm các bệnh nhân có TDMP do các nguyên nhân khác như ung thư hoặc nhiễm trùng.

2.2. Phương pháp xét nghiệm

Các xét nghiệm được thực hiện bao gồm đo nồng độ phosphatase kiềm, lysozyme, ADA, và INF-γ trong dịch màng phổi. Các giá trị này được so sánh với nồng độ trong huyết thanh để tính tỷ lệ DMP/HT. Kết quả được phân tích bằng các phương pháp thống kê để xác định độ nhạy, độ đặc hiệu, và giá trị tiên đoán của từng xét nghiệm.

III. Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy, ADAINF-γ có giá trị chẩn đoán cao nhất trong TDMP do lao, với độ nhạy và độ đặc hiệu lần lượt là 92% và 88%. Phosphatase kiềmlysozyme có giá trị chẩn đoán thấp hơn, nhưng vẫn có thể được sử dụng ở các cơ sở y tế tuyến cơ sở do chi phí thấp và dễ thực hiện. Kết hợp các xét nghiệm này giúp cải thiện độ chính xác trong chẩn đoán.

3.1. Giá trị chẩn đoán của từng xét nghiệm

ADAINF-γ có giá trị chẩn đoán cao nhất, với độ nhạy lần lượt là 92% và 90%. Phosphatase kiềmlysozyme có độ nhạy thấp hơn, khoảng 70-75%. Tuy nhiên, khi kết hợp các xét nghiệm này, giá trị chẩn đoán được cải thiện đáng kể, đặc biệt ở các bệnh nhân có kết quả xét nghiệm không rõ ràng.

3.2. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học để sử dụng các dấu ấn sinh hóa trong chẩn đoán TDMP do lao, đặc biệt ở các cơ sở y tế tuyến cơ sở. ADAINF-γ là các xét nghiệm có giá trị cao, trong khi phosphatase kiềmlysozyme có thể được sử dụng như các xét nghiệm bổ sung. Kết hợp các xét nghiệm này giúp giảm thiểu sai sót trong chẩn đoán và điều trị.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu giá trị của phosphatase kiềm lysozyme adenosine deaminase và interferon gamma trong chẩn đoán tràn dịch màng phổi do lao

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Lao là nguyên nhân nhiễm trùng gây tử vong hàng đầu trên thế giới [23],[37],[47],[83]. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) 2010 có 8,8 triệu trường hợp lao mới (13% đồng nhiễm với HIV) và 1,1 triệu người chết vì bệnh lao ở người HIV (-) và 0,35 triệu người chết ở người HIV (+) [105]. Tỷ lệ tử vong do lao chiếm 1/4 (25%) trong tổng số tử vong do mọi nguyên nhân khác cộng lại. Lao cũng là một trong hai nguyên nhân thường gặp nhất gây ra tràn dịch màng phổi (TDMP) dịch tiết ưu thế lympho bào [6],[10],[15],[49].

Ở Việt Nam TDMP do lao đứng hàng đầu trong các bệnh lao ngoài phổi (chiếm 39,2% theo thống kê của Viện lao và bệnh phổi [17]. Việc chẩn đoán nguyên nhân tràn dịch màng phổi do lao ở Việt Nam cũng như trên thế giới đôi khi khó khăn và cần đặt ra ở bất kỳ bệnh nhân tràn dịch màng phổi dịch tiết nào. Chẩn đoán xác định được thực hiện qua kỹ thuật chọc dò màng phổi lấy dịch màng phổi đi phân tích về sinh hóa, tế bào, vi trùng, sinh thiết màng phổi lấy mẫu mô làm giải phẫu bệnh. Ở nước ngoài, xét nghiệm phân tích dịch màng phổi cho kết quả chẩn đoán cao nhờ sử dụng nhiều xét nghiệm tiên tiến về sinh hóa, tế bào, vi trùng trong dịch màng phổi.

Tuy nhiên, các xét nghiệm tế bào và vi trùng trong chẩn đoán lao có độ nhạy còn thấp. Sinh thiết màng phổi - một tiêu chuẩn vàng cho phép chẩn đoán xác định TDMP do lao thông qua sự tồn tại mô viêm lao đặc hiệu – tỉ lệ chẩn đoán dương tính vẫn còn thấp 56 – 82% [19], [21],[49],[59]. Tại Việt Nam, các xét nghiệm cần thiết chẩn đoán lao không đủ, hiệu quả chẩn đoán của phân tích dịch màng phổi còn thấp. Hiện nay, ở nước ta, AFB dương tính trong đàm là phương tiện thường nhất để chẩn đoán tràn dịch màng phổi đi kèm với lao phổi.

Nếu AFB không 2 được phát hiện, phần lớn các trường hợp TDMP do lao khác được chẩn đoán tại địa phương đơn thuần dựa vào đặc điểm tràn dịch màng phổi dịch tiết ưu thế lympho bào có kèm hoặc không với phản ứng lao tố dương tính mạnh. Ngoài các xét nghiệm thường qui cho lao, các xét nghiệm mới, tiên tiến để chẩn đoán lao đa phần không phổ biến ngoại trừ ở các bệnh viện trung tâm khu vực. Vì vậy, rất nhiều bệnh nhân tràn dịch màng phổi dịch tiết ưu thế lympho bào đã được chẩn đoán và điều trị thử lao. Mặc dù TDMP do lao có thể tự giới hạn trong vài tháng mà không cần điều trị, việc chẩn đoán và điều trị sai có thể làm bệnh diễn tiến nặng và biến chứng lao các cơ quan khác trong khoảng 65% trường hợp [17],[63],[88].

Điều trị thử không được khuyến cáo vì mang đến nhiều nguy cơ như: bỏ sót chẩn đoán khác, đặc biệt là ung thư; tốn kém tiền bạc và thời gian; tác dụng phụ thuốc kháng lao trên gan, thận, thần kinh ngoại biên, khớp., gây tâm lý hoang mang lo lắng cho thân nhân và bệnh nhân. Vài dấu ấn sinh hóa đã được phát hiện gi p ích cho việc chẩn đoán TDMP do lao, bao gồm sự gia tăng các chất sau trong dịch màng phổi: Phosphatase kiềm, Adenosin deaminase (ADA), Interferon gamma (INF-γ), Lysozyme, Interleukin (IL)-12p40, IL-18, Immunosuppressive Acidic Protein (IAP), soluble IL-2 receptors (sIL-2Rs). Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy rằng những dấu ấn này có giá trị trong chẩn đoán TDMP do lao. Trong tình hình Việt Nam hiện nay, các cơ sở chưa trang bị được phòng xét nghiệm đủ tiêu chuẩn để thực hiện kỹ thuật PCR lao, chưa làm được một số dấu ấn sinh hóa, chưa làm được sinh thiết màng phổi và/hoặc chưa đọc được tiêu bản giải phẫu bệnh mảnh mô màng phổi.

Do đó, việc tìm kiếm một xét nghiệm mới, tiên tiến, chẩn đoán nhanh, ít xâm lấn, có độ nhạy và độ đặc hiệu biệt cao, tương đối rẻ tiền, dễ thực hiện, có thể dùng rộng rãi ở tuyến cơ sở là hết sức cần thiết. 3 Thêm vào đó, các xét nghiệm có giá trị chẩn đoán TDMP do lao cao hiện nay như ADA và INF-γ chưa được thực hiện rộng rãi. INF-γ chỉ thực hiện được trên hệ thống máy công nghệ cao ở một số bệnh viện lớn tuyến trung ương nên khả năng phổ biến rộng rãi xét nghiệm này là khó, ADA dù dễ thực hiện nhưng chưa được nghiên cứu và phổ biến rộng rãi, trong khi ALP và Lysozyme dù giá trị chẩn đoán TDMP do lao không cao bằng ADA và INFγ nhưng rẻ tiền, dễ thực hiện trên các máy xét nghiệm sinh hóa thông thường, có khả năng phổ biến được ở tuyến cơ sở. Với mục đích xác định dấu ấn sinh hóa nào hữu ích hơn trong chẩn đoán TDMP do lao giữa ALP, Lysozyme, ADA và INF-γ; và với giả thuyết có thể gia tăng hơn nữa độ đặc hiệu và độ nhạy của từng xét nghiệm trong dịch màng phổi, cũng như gia tăng giá trị chẩn đoán khi kết hợp các xét nghiêm, đặc biệt là ALP và Lysozyme để có thể phổ biến rộng rãi ở tuyến cơ sở, ch ng tôi tiến hành đề tài này nhằm “Nghiên cứu giá trị của Phosphatase kiềm, Lysozyme, Adenosine deaminase và Interferon gamma trong chẩn đoán tràn dịch màng phổi do lao” với mục tiêu nghiên cứu: 1.

Nhận xét về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của nhóm bệnh nhân được chẩn đoán cuối cùng là tràn dịch màng phổi do lao. Xác định giá trị chẩn đoán của từng xét nghiệm: Phosphatse kiềm dịch màng phổi (ALP DMP) và tỉ số ALP dịch màng phổi / huyết thanh (ALP DMP/HT), Lysozyme dịch màng phổi (Lys DMP) và tỉ số Lysozyme dịch màng phổi/ huyết thanh (Lys DMP/HT), Adenosine deaminase dịch màng phổi (ADA DMP) và Interferon gamma dịch màng phổi (INF-γ DMP) trong TDMP do lao. Xác định giá trị chẩn đoán các phối hợp xét nghiệm: ALP, Lysozyme, ADA và INF-γ trong TDMP do lao. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

ĐẠI CƢƠNG BỆNH LAO 1. Lịch sử lao Lao là một trong những bệnh lâu đời nhất, ước đoán đã tồn tại từ 15.400 năm trước công nguyên, ngay từ l c hình thành và phát triển loài người ở các nước có nền văn minh cổ lâu đời như các nước Trung Á, Ấn Độ, Ai Cập, Hy Lạp [23],[43],[44],[50]. Từ Thời Hypocrates (460 – 377 trước công nguyên) cho đến đầu thế kỷ 19, bệnh lao bị hiểu lầm với một số bệnh khác đặc biệt là các bệnh ở phổi, người ta xem bệnh lao là một bệnh không chữa được và là một bệnh di truyền [23],[44]. Năm 1882 nhà bác học người Đức Robert Koch (1843 – 1910) phân lập được vi trùng lao từ mẫu đàm của bệnh nhân lao, chứng minh được lao là bệnh truyền nhiễm, xác định được nguyên nhân của bệnh lao là trực khuẩn, trực khuẩn này được gọi tên là Bacillus Koch viết tắt là BK.

Ông cũng đặt ra nguyên tắc kiểm soát bệnh lao trong cộng đồng bằng cách cách ly bệnh nhân xét nghiệm đàm dương tính với vi khuẩn lao [43],[76]. Cho đến nay, không một quốc gia nào, không một dân tộc nào lại không có người nhiễm lao, mắc bệnh lao hay chết vì lao [23],[44]. Ở Việt Nam tài liệu từ thời An Dương Vương đã nói đến bệnh lao. Đến thời Tuệ Tỉnh ở thế kỷ 14 ông cho rằng hư lao không phải là một bệnh, mà bệnh diễn biến lâu ngày thành lao trùng.

Hải Thượng Lãn Ông ở thế kỷ 18 nói ho lao là ho lâu ngày và bệnh lao là một bệnh truyền nhiễm. Dịch tễ học 1. Bệnh lao trên thế giới Vào đầu thiên niên kỷ mới, lao vẫn còn là bệnh nhiễm trùng nghiêm trọng nhất, có nguy cơ cao nhất về số lượng người mắc, số người nhiễm bệnh và số người tử vong bất chấp nổ lực kiểm soát lao tích cực trong nhiều thập niên gần đây. Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) [105], trong năm 2011, đã ước tính có 8,8 triệu trường hợp lao mới (13% đồng nhiễm với HIV) và 1,1 triệu người chết vì bệnh lao, tần suất mắc lao mới trung bình toàn cầu là 125/100.000 dân, trong đó có gần một triệu người chết không nhiễm HIV và 350.000 chết có HIV dương tính.

Tỉ lệ tử vong do lao chiếm 1/4 (25%) trong tổng số tử vong do mọi nguyên nhân khác cộng lại. Dịch tễ lao khác nhau rất nhiều khi so sánh hai khu vực các nước kinh tế phát triển và các nước đang phát triển. Hầu hết các ước tính số trường hợp trong năm 2011 xảy ra ở châu Á (59%) và Châu Phi (26%); một tỷ lệ nhỏ bệnh lao xảy ra ở khu vực Đông Địa Trung Hải (7,7%), khu vực châu Âu (4,3%) và khu vực của Châu Mỹ (3%). Năm quốc gia có số lao mới mắc cao nhất trong năm 2011 là Ấn Độ (2,0 - 2,5 triệu), Trung Quốc (0.1 triệu), Nam Phi (0,4 - 0,6 triệu), Indonesia (0.5 triệu) và Pakistan (0.

Ấn Độ chiếm 26% và Trung Quốc chiếm 12% các trường hợp trên toàn cầu [105]. Bệnh lao ở Việt Nam Việt Nam xếp thứ 12 trong số 22 quốc gia có gánh nặng bệnh lao cao nhất thế giới và thứ 14 trong 27 quốc gia có tình hình lao đa kháng và siêu kháng cao [2]. Năm 2014, toàn quốc đã phát hiện 102.070 bệnh nhân lao các thể, tỉ lệ phát hiện là 111,35/100.934 bệnh nhân lao 6 phổi AFB (+). So sánh với năm 2013, số bệnh nhân lao phổi mới phát hiện năm 2014 đã giảm 673 bệnh nhân; tỉ lệ điều trị khỏi bệnh nhân lao phổi AFB (+) đạt 89,93%.

Tuy nhiên, bệnh lao vẫn xếp vào mức trung bình cao so với toàn cầu. Nguy cơ nhiễm lao hàng năm ở Việt Nam hiện nay là 1,7%, trong đó ở phía Bắc 1,2%, phía Nam 2,2%, khoảng 44% dân số bị nhiễm lao [2]. Lao cũng là một trong hai nguyên nhân thường gặp nhất gây ra TDMP dịch tiết ưu thế lympho bào. TDMP do lao đứng hàng đầu trong các bệnh lao ngoài phổi (chiếm 39,2% theo thống kê của Viện lao và bệnh phổi) [3],[17].

Theo Lê Kim Đức (2010) khi nghiên cứu thực trạng phát hiện và điều trị bệnh lao ở nông dân tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Thanh Hóa, nhận thấy từ năm 2005 đến 2009, lao màng phổi chiếm tỉ lệ từ 47,5% đến 53,3% trong các thể lao ngoài phổi. Với các số liệu trên, tình hình dịch tễ bệnh lao ở nước ta xếp vào loại trung bình cao ở khu vực Tây Thái Bình Dương, là khu vực có chỉ số tổng số bệnh nhân lao trung bình trên thế giới. TRÀN DỊCH MÀNG PHỔI DO LAO 1. Định nghĩa TDMP do lao là một bệnh ở màng phổi gây ra bởi vi khuẩn lao (Mycobacterium tuberculosis) xâm nhập vào màng phổi trên cơ thể đã quá mẫn với các protein của vi khuẩn lao trong lần nhiễm trước đó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu giá trị của phosphatase kiềm, lysozyme, adenosine deaminase và interferon gamma trong chẩn đoán tràn dịch màng phổi do lao" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của các chỉ số sinh hóa trong việc chẩn đoán tràn dịch màng phổi do lao. Nghiên cứu này không chỉ giúp xác định giá trị chẩn đoán của các enzym và cytokine mà còn mở ra hướng đi mới trong việc cải thiện độ chính xác của các phương pháp chẩn đoán hiện tại. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách mà các chỉ số này có thể hỗ trợ trong việc phát hiện sớm và điều trị hiệu quả bệnh lao, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các phương pháp điều trị và nghiên cứu liên quan, hãy tham khảo thêm tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng và kết quả điều trị dị vật đường thở bằng nội soi ống cứng trực tiếp, nơi bạn có thể tìm hiểu về các kỹ thuật nội soi trong điều trị bệnh lý hô hấp. Bên cạnh đó, tài liệu Luận án nghiên cứu đáp ứng xơ hóa gan ở bệnh nhân viêm gan virus c mạn kiểu gen 1 6 điều trị bằng sofosbuvir phối hợp ledipasvir cũng sẽ cung cấp thông tin về các nghiên cứu sinh hóa trong điều trị bệnh lý gan. Cuối cùng, bạn có thể tham khảo Luận án nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật kiểm soát chọn lọc cuống glisson trong cắt gan điều trị ung thư tế bào gan để hiểu rõ hơn về các kỹ thuật phẫu thuật hiện đại trong điều trị ung thư gan. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến sức khỏe và điều trị bệnh.