CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CHĂN NUÔI BÒ THỊT Ở VIỆT NAM VÀ THỪA THIÊN HUẾ 1. Phát triển chăn nuôi bò thịt ở Việt Nam 1. Tổng đàn và sự phân bố đàn bò ở các vùng sinh thái Ở Việt Nam, chăn nuôi bò giai đoạn 2015-2021 phát triển khá nhanh.
Đàn bò cả nước có 6,325 triệu con số lượng bò cả nước tăng 17,9% và bò thịt tăng 16,3%. Tình hình về số lượng và phân bố đàn bò được trình bày trên Bảng 1. Số lượng bò (triệu con) và phân bố đàn bò (%) theo vùng sinh thái giai đoạn 2015 - 2021 10/2015 10/2017 1/2021 % tăng giai đoạn Vùng sinh thái Tổng Bò Tổng Bò Tổng Bò 2015- đàn thịt đàn thịt đàn thịt 2021 Cả nước 5,367 5,092 5,655 5,353 6,325 5,921 17,9 Phân bố ở các vùng sinh thái (%) Đồng bằng sông Hồng 9,3 9,3 8,7 8,6 7,9 7,8 0,4 Miền núi phía Bắc 17,6 18,1 17,5 18,4 19,0 18,5 27,7 Duyên hải miền Trung 40,7 42,3 40,7 41,2 38,0 39,2 10,1 Tây Nguyên 12,8 13,1 13,4 13,2 13,3 13,7 22,9 Đông Nam Bộ 6,8 6,0 6,9 6,1 6,7 5,4 15,6 Đồng bằng sông Cửu Long 12,8 13,1 12,8 12,5 15,0 15,4 37,6 (Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2022) Ngoài tốc độ tăng số lượng đàn bò, phân bố theo các vùng sinh thái cũng thay đổi mặc dù không lớn.1 cho thấy, vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung có số lượng bò thịt cao nhất, chiếm 42,3% (2015) và 39,2% (2021) so với số lượng bò thịt của cả nước. Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có số lượng đàn bò tăng nhanh (37%) và tỷ lệ tăng đàn bò thịt từ 13,1% năm 2015 lên 15,4% năm 2021, trong khi tỷ lệ tăng đàn bò thịt ở Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền Trung và Đông Nam Bộ giảm.
6 Sự thay đổi tỷ lệ phân bố đàn bò ở các vùng sinh thái cho thấy một sự dịch chuyển đàn bò trong cả nước để phù hợp với nguồn cung cấp thức ăn thô. Ví dụ, Đồng bằng sông Cửu Long có nguồn thức ăn dồi dào, tỷ lệ đàn bò thịt tăng (15,4% năm 2021 so với 13,1% năm 2015). Ở miền Trung, số lượng bò mặc dù cao nhưng có xu hướng giảm từ 2015 (40,7% cả nước) đến 2021 (38% cả nước), vì vậy, tốc độ tăng đàn thấp nhất cả nước (10,1%). Hạn chế về diện tích trồng cỏ và diện tích đất chăn thả bò do phát triển cây trồng khác có thể là nguyên nhân tăng đàn thấp (Hương Giang, 2017).
Tổng sản phẩm và năng suất đàn bò thịt Tình hình về sản lượng thịt bò và khối lượng giết mổ của đàn bò thịt ở nước ta được trình bày trên Bảng 1. Trong cả nước, số liệu thống kê cho thấy tổng sản lượng thịt bò tăng trong giai đoạn 2015-2021 từ 299,32 ngàn tấn lên 441,51 ngàn tấn; khối lượng giết thịt cũng tăng từ 191 kg/con lên 200 kg/con (Bảng 1. Điều này cho thấy, chất lượng đàn bò thịt có thay đổi nhưng ở mức độ thấp. Sản lượng thịt hơi và năng suất đàn bò thịt ở cả nước và các vùng sinh thái giai đoạn 2015 - 2021 10/2015 10/2017 1/2021 (1)* (2) (3) (1) (2) (3) (1) (2) (3) Cả nước 1.206,04 441,51 200 ĐBSH** 162,54 32,99 203 170,19 34,71 204 203,69 39,54 194 MNTD 168,82 30,36 180 175,81 31,62 180 229,89 43,19 188 DHTB 681,17 128,69 189 711,47 136,55 192 887,89 163,63 184 TN 190,13 36,37 191 210,72 40,44 192 354,85 65,40 184 DNB 109,91 36,37 331 120,52 26,03 216 124,39 29,79 239 ĐBSCL 254,86 46,65 183 263,42 52,30 198 405,34 99,97 247 *(1): Số con xuất chuồng (1.000 con); (2): Sản lượng thịt hơi (1.000 tấn); (3): Khối lượng giết mổ (kg/con); **ĐBSH: Đồng bằng sông Hồng; MNTD: Miền núi và trung du phía Bắc; DHTB: Duyên hải miền Trung; TN: Tây Nguyên; DNB: Đông Nam Bộ; ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long (Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2022) 7 Ở các vùng sinh thái, sự thay đổi về sản lượng thịt bò hơi và khối lượng giết mỗ cũng rất khác nhau.
Ở Duyên hải miền Trung, sản lượng thịt bò chiếm 37% cả nước nhưng khối lượng bò khi giết mổ thấp hơn trung bình cả nước (184 kg/con so 200 kg/con). Ngược lại, sản lượng thịt bò hơi ở Đông Nam Bộ chỉ chiếm 6,7% cả nước nhưng khối lượng bò thịt giết mổ cao hơn 23,5% (247 kg/con so với 200 kg/con). Ở Tây Nguyên, mặc dù sản lượng thịt hơi tăng 36,37 tấn năm 2015 lên 65,4 tấn đầu năm 2021 nhưng khối lượng giết mổ có xu hướng giảm (theo số liệu thống kê). Điều này có thể do ảnh hưởng của chất lượng giống bò, nguồn thức ăn và mức độ đầu tư trong chăn nuôi bò thịt ở các vùng.
Định hướng phát triển chăn nuôi bò thịt đến 2030 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1520/QĐ-TTg ngày 06/10/2020 về Phê duyệt phát triển Chăn nuôi giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2045. Theo đó, sản lượng thịt xẻ của gia súc ăn cỏ chiếm 8-10% (hiện nay 6-7%), đàn bò thịt ổn định 6,5-6,6 triệu con, trong đó 30% được nuôi trong trang trại. Một số giải pháp phát triển đàn bò liên quan đến nội dung luận án: - Chuyển phần lớn diện tích ở những nơi phù hợp và một phần diện tích đất nông nghiệp hiệu quả thấp sang thâm canh trồng cỏ và cây thức ăn chăn nuôi. Tổng diện tích đất các loại cho nhu cầu này 0,5-1 triệu ha.
- Tăng cường đầu tư hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ chăn nuôi, thú y…Ưu tiên, khuyến khích nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, công nghệ mới. vào lĩnh vực thức ăn. - Khuyến khích phát triển các mô hình thâm canh trồng cỏ, ngô dày, lúa chín sáp… kết hợp công nghệ chế biến thức ăn thô xanh hỗn hợp (TMR) để chăn nuôi và vỗ béo các loại gia súc ăn cỏ. Phát triển chăn nuôi bò thịt ở Thừa Thiên Huế 1.
Điều kiện tự nhiên Tỉnh Thừa Thiên Huế với diện tích 49,02 ngàn km2 nằm ở duyên hải miền Trung Việt Nam bao gồm phần đất liền và phần lãnh hải thuộc thềm lục địa biển Đông. Phần đất liền chiếm 92% tổng diện tích, có tọa độ ở cực Bắc: 16044'30'' vĩ Bắc và 107023'48'' kinh Đông; cực Nam: 15059'30'' vĩ Bắc và 107041'52'' kinh Đông; cực Tây: 16022'45'' vĩ Bắc và 107000'56'' kinh Đông; và cực Đông: 16013'18'' vĩ Bắc và 108012'57'' kinh Đông. Theo Dư địa chí Thừa Thiên Huế (2005), lãnh thổ Thừa Thiên Huế được chia thành 4 vùng sinh thái: vùng núi, vùng gò đồi, vùng đồng bằng và vùng đầm phá và cồn cát ven biển. Núi thấp và đồi phân bố trên diện tích rộng nhất của khu vực địa hình đồi núi (trên 65%) và chiếm khoảng 50% lãnh thổ toàn tỉnh.
Vùng địa hình gò đồi có tổng diện tích khoảng 712,5 km2, chiếm khoảng 14% diện tích tự nhiên của tỉnh. Đại bộ phận 8 lãnh thổ vùng gò đồi nằm ở dải chuyển tiếp giữa khu vực địa hình núi và đồng bằng duyên hải, chủ yếu ở A Lưới và Nam Đông. Đồng bằng duyên hải là lãnh thổ tương đối bằng phẳng có độ cao tuyệt đối từ 15-10 m trở xuống, kể cả các trảng cát nội đồng Phong Điền, Quảng Điền và Phú Vang, chiếm khoảng 16% diện tích tự nhiên của tỉnh. Đồng bằng duyên hải Thừa Thiên Huế trải dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam trên 100 km, trong đó thu hẹp dần và bị các dãy núi thấp xen đồi đâm ngang ra biển phân cắt manh mún từ phía Nam đầm Cầu Hai đến chân đèo Hải Vân.
Bề rộng nơi lớn nhất đạt 20-22 km (đồng bằng sông Ô Lâu) nơi hẹp nhất không quá 0,05-0,2 km (Lăng Cô), trung bình khoảng 14- 16 km. Trảng cát phân bố luân phiên với trằm bàu theo hướng Tây Bắc - Đông Nam ở Phong Điền, Quảng Điền là dấu tích của những dãy đê cát ngầm và máng trũng cổ được hình thành vào thời đoạn biển tiến Holocen cực đại vào đồng bằng trước đây. Trảng cát nội đồng cổ nhất của Thừa Thiên Huế là vùng gò rộng, tương đối bằng phẳng dạng thềm biển cổ, cao tới 15-10 m và được cấu tạo từ cát vàng nghệ hệ tầng Phú Xuân. Về đất đai, tỉnh Thừa Thiên Huế có diện tích đất nhỏ nhưng đất đai đa dạng, được hình thành từ 10 nhóm đất khác nhau: Cồn cát và đất cát chiếm 8,7% nằm ở Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Lộc, Phú Vang; Đất mặn chiếm 1,24% ở Phú Lộc, Phú Vang, Hương Trà, Quảng Điền; Đất phèn chiếm 1,36% nằm rải rác từ Phú Lộc đến Phong Điền; Phù sa chiếm 8,11% nằm ở Phú Lộc, Phong Điền và thành phố Huế; Đất lầy và than bùn chiếm 0,02% phân bố ở Phong Điền, Phú Lộc; Đất xám bạc màu với diện tích 800 ha, chiếm 0,16% tổng diện tích tự nhiên và chỉ có 1 loại đất là đất xám trên đá macma axit và đá cát, phân bố chủ yếu ở huyện A Lưới, vùng lâm trường thuộc các xã Phong Sơn, Phong An huyện Phong Điền.
Đất được hình thành từ sản phẩm phong hóa đá granit và các loại đá cát, là những loại đá giàu silic, nghèo khoáng vật chứa kim loại kiềm, kiềm thổ, khi phong hoá cho ra đất có thành phần cơ giới nhẹ, thô, lẫn nhiều khoáng vật nguyên sinh bền. Phân bố ở địa hình dốc, nên quá trình rửa trôi xảy ra mạnh, mùn bị rửa trôi và sắt cũng bị rửa trôi, nên tầng đất mặt bị bạc màu trở nên xám trắng. Mùn, đạm, lân, kali, cation trao đổi đều rất nghèo, phản ứng của đất chua, độ no bazơ thấp. Có thể nói đây là loại đất có độ phì tự nhiên thấp, nếu canh tác không chú ý đến biện pháp quản lý dinh dưỡng tổng hợp thì dễ dàng chuyển thành loại đất xói mòn trơ sỏi đá, mất khả năng sản xuất; Đất đỏ vàng chiếm 68,74% phân bố ở tất cả các huyện thị; Đất thung lung dốc tụ chiếm 0,13% ở Phong Điền, Phú Lộc và Hương Thuỷ; Đất mùn vàng đỏ trên núi chiếm 3,15% ở Nam Đông, A Lưới, Phú Lộc; và đất xói mòn trơ sỏi đá chiếm 1,03% ở Phú Lộc, Phong Điền, Hương Trà, Nam Đông, Hương Thuỷ và Huế.
Thừa Thiên Huế có khí hậu khác biệt với nhiều tỉnh thành khác trong cả nước do sự khác nhau về vị trí địa lý và đặc điểm địa hình. Theo Địa chí Thừa Thiên Huế (2005), khí hậu Thừa Thiên Huế là vùng chuyển tiếp giữa hai miền: khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh hơn (miền Bắc) và khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình với nền nhiệt độ cao và mùa mưa khác biệt mùa khô (miền Nam). Số liệu khí tượng ở bảng 1.3 cho 9 thấy, nhiệt độ trung bình năm 25,6oC, tháng có nhiệt độ cao từ tháng 5 đến tháng 9 (28,7- 29oC) và thấp từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau.