Tổng quan luận án

Tổn thương đám rối thần kinh cánh tay (ĐRTKCT) do chấn thương là dạng thương tổn ngoại biên phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng vận động và cảm giác của toàn bộ chi trên. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ tai nạn giao thông, đặc biệt là tai nạn xe máy tại Việt Nam. Về mặt giải phẫu và điều trị ngoại khoa, việc phân định chính xác giữa tổn thương trước hạch (nhổ rễ khỏi tủy sống) và tổn thương sau hạch (đứt, đụng giập, giãn rễ thần kinh) có ý nghĩa quyết định trực tiếp tới chiến lược điều trị: tổn thương sau hạch có thể phẫu thuật nối ghép thần kinh trực tiếp, trong khi tổn thương nhổ rễ chỉ có thể phục hồi bằng các kỹ thuật chuyển thần kinh từ nguồn khác.

Trong thực hành lâm sàng, chụp cộng hưởng từ (CHT) có ưu thế khảo sát vùng ngoài lỗ ghép nhưng bộc lộ nhiều hạn chế đối với các trường hợp có phương tiện kết xương kim loại đi kèm do gãy xương phối hợp, khó chẩn đoán trong các tổn thương nhổ rễ kín đáo, nhổ rễ không hoàn toàn hoặc bị che lấp bởi tình trạng phù nề mô mềm trong giai đoạn chấn thương mới. Trong khi đó, chụp cắt lớp vi tính (CLVT) tủy cổ cản quang đa dãy lát mỏng cho phép quan sát chi tiết cấu trúc các rễ con trong ống sống và thực hiện được trên bệnh nhân có phương tiện kết xương. Tại Việt Nam, trước thời điểm luận án được công bố, chưa có công trình nghiên cứu hệ thống nào mô tả chi tiết các đặc điểm hình ảnh và đánh giá giá trị chẩn đoán của CLVT tủy cổ cản quang trong tổn thương nhổ rễ ĐRTKCT đối chiếu với kết quả phẫu thuật.

Luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Tống Thị Thu Hằng, chuyên ngành Chẩn đoán hình ảnh (mã số: 62720166), được thực hiện tại Viện Nghiên cứu Khoa học Y Dược Lâm sàng 108 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lâm Khánh và PGS.TS Lê Văn Đoàn, nhằm giải quyết hai mục tiêu cụ thể:

  1. Mô tả đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính tủy cổ cản quang trong chẩn đoán nhổ rễ đám rối thần kinh cánh tay do chấn thương.
  2. Đánh giá vai trò của cắt lớp vi tính tủy cổ cản quang trong chẩn đoán nhổ rễ đám rối thần kinh cánh tay do chấn thương có đối chiếu với kết quả phẫu thuật.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu bao gồm các bệnh nhân bị tổn thương ĐRTKCT do chấn thương được chỉ định chụp CLVT tủy cổ cản quang và phẫu thuật điều trị tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, hoàn thành và nghiệm thu vào năm 2022.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Về dịch tễ học và cơ chế chấn thương, các công trình quốc tế như nghiên cứu của Midha R. chỉ ra tổn thương ĐRTKCT chiếm khoảng 5% các ca chấn thương do tai nạn xe máy và 4% do tai nạn trượt tuyết. Tại Việt Nam, Hồ Hữu Lương (1992) ghi nhận tỷ lệ tổn thương thần kinh do chấn thương cột sống cổ dao động từ 60% đến 70%; Lê Văn Đoàn (2013) khẳng định nguyên nhân hàng đầu gây tổn thương ĐRTKCT là tai nạn xe máy với dạng tổn thương thường gặp và nặng nề nhất là nhổ rễ thần kinh.

Về lịch sử các phương pháp chẩn đoán hình ảnh:

  • Chụp X-quang tủy cổ cản quang kinh điển được báo cáo đầu tiên bởi Choroschoko (1935) và Murphey (1947), dựa vào dấu hiệu gián tiếp là giả thoát vị màng tủy (GTVMT) nhưng tỷ lệ chính xác thấp (60 - 70%) và xâm lấn trực tiếp vùng cột sống cổ.
  • Siêu âm thần kinh ngoại biên được Pequer F. (2014) và Nguyễn Phước Bảo Quân (2012) nghiên cứu, có giá trị khảo sát tổn thương sau hạch ở rễ trên (C5, C6, C7) bằng đầu dò tần số cao 10 - 18 MHz nhưng hoàn toàn không đánh giá được cấu trúc rễ trong ống sống và hạn chế ở các rễ dưới (C8, T1).
  • Chụp cộng hưởng từ: Khởi đầu từ Blair D.N. và cộng sự (1987), tiếp nối bởi Cejas D.C. (2016), Fan Y.L., Veronesi B.A. (2018) với các chuỗi xung T2W thể tích như 3D VISTA, FIESTA/CUBE, CISS. Tại Việt Nam, Đinh Hoàng Long (2012) nghiên cứu trên máy CHT 1.5 Tesla ghi nhận độ phù hợp với phẫu thuật đạt 80,6% nhưng chỉ chẩn đoán nhổ rễ dựa vào dấu hiệu gián tiếp GTVMT; Nguyễn Ngọc Trung (2019) sử dụng CHT 3.0 Tesla trên 60 bệnh nhân cho độ nhạy và độ đặc hiệu đạt từ 70% đến 95%.
  • Chụp CLVT tủy cổ cản quang: Di Chiro và Chellinger đề xuất kỹ thuật vào năm 1976; Marshall và De Silva (1986) lần đầu áp dụng trong chẩn đoán nhổ rễ ĐRTKCT. Nagano A. (1989) đưa ra bảng phân loại 6 mức độ tổn thương trên tủy đồ cản quang (N, A1, A2, A3, D, M). Carvalho G.A. và cộng sự (1997) khẳng định CLVT tủy cổ cản quang là phương pháp đáng tin cậy nhất trong chẩn đoán nhổ rễ hoàn toàn và không hoàn toàn, khắc phục hạn chế dương tính/âm tính giả của CHT. Doi K. và cộng sự (2002) khảo sát 175 rễ trên 35 bệnh nhân cho thấy độ nhạy của CLVT tủy cản quang là 92,9% và độ đặc hiệu là 75,8%. Yamazaki H. và cộng sự (2007) trên 28 bệnh nhân chứng minh các mặt phẳng đứng ngang và chếch theo đường đi của rễ đạt độ nhạy 100%, độ đặc hiệu 96% và độ chính xác 98%. Tse R. và cộng sự (2014), Vanderhave và cộng sự (2012), Dubuison A., Cho A., Laohaprasitiporn (2018), Walker A., Bordalo-Rodrigues M. (2020) tiếp tục đối chiếu giá trị chẩn đoán của CLVT tủy cản quang với phẫu thuật và điện cơ.

Vị trí của luận án: Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống thực tiễn tại Việt Nam thông qua việc chuẩn hóa kỹ thuật chụp CLVT tủy cổ cản quang đa dãy, mô tả có hệ thống các dấu hiệu hình ảnh trực tiếp và gián tiếp, đồng thời xác định giá trị chẩn đoán của phương pháp này khi đối chiếu trực tiếp với kết quả bộc lộ trong phẫu thuật.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên nền tảng giải phẫu học thần kinh, sinh thái học chấn thương và các tiêu chuẩn chẩn đoán hình ảnh tủy sống:

  • Giải phẫu ĐRTKCT: Mạng lưới gồm khoảng 100.000 sợi thần kinh tạo bởi ngành trước của các rễ C5 đến T1. Đoạn trong ống sống gồm các rễ con trước (vận động) và rễ con sau (cảm giác) xuất phát từ tủy, hợp nhất thành rễ trước và rễ sau nguyên phát, tiếp nối thành dây thần kinh gai sống qua lỗ ghép. Ba thân thần kinh (thân trên C5-C6, thân giữa C7, thân dưới C8-T1) chia thành các ngành trước/sau và hợp thành 3 bó (ngoài, trong, sau) để cho ra các nhánh tận (thần kinh giữa, trụ, quay, cơ bì, nách).
  • Cơ chế chấn thương: Phân định cơ chế chấn thương trung tâm (dịch chuyển tủy đột ngột gây giật đứt rễ mà không rách màng cứng) và cơ chế ngoại vi (lực kéo giãn làm rách bao màng cứng, tạo túi dịch não tủy qua lỗ ghép thành GTVMT).
  • Phân loại tổn thương rễ trên CLVT theo Nagano (1989): N (bình thường), A1 (bất thường nhỏ vùng tay áo), A2 (cắt cụt vùng tay áo, biến dạng rễ), A3 (cắt cụt vùng tay áo và mất hoàn toàn rễ/rễ con), D (khuyết vùng tay áo), M (giả thoát vị màng tủy).

Phương pháp nghiên cứu:

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu kết hợp hồi cứu, có đối chiếu trực tiếp với tiêu chuẩn vàng là kết quả phẫu thuật bộc lộ rễ thần kinh.
  • Phương tiện kỹ thuật: Máy chụp cắt lớp vi tính đa dãy (hệ thống GE-Brivo 16 dãy), máy kích thích thần kinh và máy đo điện cơ.
  • Quy trình kỹ thuật chụp CLVT tủy cổ cản quang:
    • Thuốc cản quang: Sử dụng thuốc tan trong nước, không ion hóa, áp lực thẩm thấu thấp (Iohexol/Omnipaque hoặc Iopamidol) hàm lượng 180 - 300 mg/ml, thể tích tiêm 10 - 20 ml ở người lớn.
    • Vị trí chọc dò: Chọc dò khoang dưới nhện cột sống thắt lưng dưới mức L3 bằng kim 22G hoặc 25G để tránh gây tổn thương chóp tủy.
    • Tư thế dồn thuốc: Đặt bệnh nhân nằm đầu thấp nghiêng một góc 45 độ so với mặt bàn để thuốc cản quang tỷ trọng cao di chuyển từ tủy thắt lưng lên khoang dưới nhện vùng tủy cổ.
    • Thời điểm chụp: Tiến hành chụp sau tiêm 15 - 20 phút (tuân thủ Quy trình kỹ thuật ban hành theo Quyết định số 172/QĐ-BV108 năm 2015 của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108). Thời điểm chụp sau chấn thương tối thiểu từ 3 đến 4 tuần nhằm đảm bảo máu tụ nội tủy đã hấp thu hoàn toàn và các túi GTVMT đã hình thành ổn định.
    • Thông số quét và tái tạo: Độ dày lát cắt trục thô dưới 1 mm (hoặc 0,625 mm, tái tạo 0,4 mm), ứng dụng thuật toán làm sắc nét xương/rễ (hard-bone kernel), tái tạo đa mặt phẳng (MPR), mặt phẳng đứng ngang (coronal) và chếch dọc theo hướng đi của rễ thần kinh (oblique coronal).
  • Điện thần kinh cơ đối chiếu: Khảo sát dẫn truyền vận động (MCV, DML, CMAPs, sóng F), dẫn truyền cảm giác (SCV, DSL, SNAPs) và điện cơ kim trên các nhóm cơ chi phối bởi ĐRTKCT.
Dây thần kinh DML (vận động) MCV (vận động) Biên độ CMAPs DSL (cảm giác) SCV (cảm giác) Biên độ SNAPs Sóng F (tần số)
Giữa < 4,2 ms > 50 m/s > 7 mV < 3,5 ms > 48 m/s > 10 µV > 75%
Trụ < 3,5 ms > 50 m/s > 7 mV < 3,0 ms > 48 m/s > 10 µV > 75%
Quay - > 50 m/s > 7 mV - - - < 31 ms
Bì cẳng tay ngoài - - - - > 45 m/s > 6 µV -
Bì cẳng tay trong - - - - > 45 m/s > 6 µV -

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 hệ thống hóa các cơ sở giải phẫu học, lâm sàng, điện sinh lý và chẩn đoán hình ảnh của ĐRTKCT:

  • Đặc điểm giải phẫu: Mô tả đường đi của 100.000 sợi thần kinh từ C5 đến T1 qua các tam giác cổ sau, khe cơ bậc thang và vùng dưới đòn/nách. Rễ trước và rễ sau có đường kính 1,5 - 3 mm, chiều dài từ tủy sống tới lỗ ghép dao động từ 5 đến 20 mm. Các rễ trên (C5-C7) có tổ chức mô xơ liên kết vững chắc hơn các rễ dưới (C8, T1).
  • Cơ chế và phân loại tổn thương: Trình bày cơ chế gián tiếp qua lực kéo căng cổ - vai; phân loại tổn thương thành nhóm trên đòn (chiếm 70 - 75%, gồm tổn thương rễ trên C5-C6, rễ dưới C8-T1 hoặc toàn bộ C5-T1) và nhóm dưới đòn (chiếm 25 - 30% ở mức bó và nhánh tận). Phân định tổn thương trước hạch (nhổ rễ) và sau hạch (đứt rễ).
  • Triệu chứng lâm sàng định khu: Dấu hiệu tổn thương rễ gồm liệt thần kinh ngực dài gây "cánh xương bả vai", liệt thần kinh vai sau gây teo cơ trám, teo cơ cạnh sống và hội chứng Claude Bernard - Horner (sụp mi, co đồng tử, mắt trũng, khô mắt) chỉ điểm nhổ rễ C8-T1. Tổn thương mức bó biểu hiện qua liệt cơ lưng to (bó sau), liệt bó đòn cơ ngực lớn (bó ngoài) và liệt bó ức cơ ngực lớn (bó trong). Phân biệt triệu chứng gõ đau chói vùng nền cổ (gợi ý đứt rễ) và không đau khi gõ (gợi ý nhổ rễ).
  • Các phương pháp chẩn đoán: Phân tích ưu nhược điểm của X-quang tủy cản quang, siêu âm, CHT (chuỗi xung 3D T2W VISTA, FIESTA, CUBE) và CLVT tủy cổ cản quang; các dấu hiệu hình ảnh trên CLVT bao gồm bất thường vùng tay áo, giảm số lượng rễ con, mất hoàn toàn rễ con, GTVMT và khuyết cột dịch não tủy.
  • Tổng quan các công trình quốc tế và trong nước: Điểm lại các nghiên cứu từ Marshall (1986), Nagano (1989), Carvalho (1997), Doi K. (2002), Yamazaki (2007), Tse R. (2014) đến các tác giả Việt Nam như Đinh Hoàng Long (2012), Nguyễn Ngọc Trung (2019), Lâm Khánh (2020).

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết phương pháp luận thực nghiệm:

  • Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân chấn thương ĐRTKCT có chỉ định phẫu thuật và thực hiện chụp CLVT tủy cổ cản quang tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân có chống chỉ định chọc dò tủy sống (nhiễm trùng tại chỗ chọc, rối loạn đông máu nặng), tiền sử dị ứng thuốc cản quang hoặc không thực hiện phẫu thuật đối chiếu.
  • Quy trình thu thập và xử lý hình ảnh: Chọc dò thắt lưng L3, bơm thuốc cản quang không ion hóa, dốc đầu thấp 45 độ, chụp sau 15 - 20 phút trên máy CT 16 dãy. Tái tạo ảnh đa mặt phẳng MPR, lát cắt đứng ngang và chếch theo đường đi của rễ.
  • Đánh giá hình ảnh độc lập: Phân tích các dấu hiệu rễ con, bất thường lối ra của rễ, GTVMT theo bảng phân loại Nagano.
  • Xử lý số liệu và thống kê y học: Tính toán độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác, giá trị dự báo dương tính, giá trị dự báo âm tính và hệ số đồng thuận giữa chẩn đoán CLVT tủy cản quang với kết quả phẫu thuật bộc lộ rễ. Đảm bảo các nguyên tắc đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 tổng hợp toàn bộ số liệu thu được từ mẫu nghiên cứu:

  • Đặc điểm chung: Thống kê phân bố về độ tuổi, giới tính (nam giới chiếm ưu thế), nguyên nhân chấn thương (tai nạn giao thông chiếm tỷ lệ cao nhất), bên tổn thương, tổn thương phối hợp (chấn thương sọ não, gãy xương đòn, gãy chi thể có kết xương kim loại) và khoảng thời gian từ khi bị tai nạn đến khi được chụp CLVT và phẫu thuật.
  • Đặc điểm tổn thương trên CLVT tủy cổ cản quang: Phân bố vị trí tổn thương từ C5 đến T1; số lượng rễ tổn thương trên từng bệnh nhân; nhóm tổn thương nhiều rễ (n = 179); tần suất xuất hiện của các dấu hiệu hình ảnh (mất rễ con, giảm số lượng rễ con, biến dạng tay áo, GTVMT, co kéo tủy lệch bên); phân loại mức độ tổn thương theo Nagano (A1, A2, A3, D, M).
  • Tương quan và mối liên quan giữa các rễ: Tỷ lệ tổn thương kết hợp giữa rễ C5 và C6; tổn thương rễ C8 và T1; tương quan giữa rễ C7 với nhóm rễ trên (C5-C6) và nhóm rễ dưới (C8-T1).
  • Giá trị chẩn đoán của CLVT tủy cổ cản quang đối chiếu với phẫu thuật:
    • Tỷ lệ chẩn đoán đúng tổn thương nhổ rễ thần kinh từng vị trí.
    • Giá trị chẩn đoán nhổ nhóm rễ trên (C5, C6 và C5-C7).
    • Giá trị chẩn đoán nhổ nhóm rễ dưới (C8, T1 và C7-T1).
    • Giá trị chẩn đoán nhổ toàn bộ 5 rễ từ C5 đến T1.
    • Biểu đồ đồng thuận chẩn đoán giữa CLVT tủy cổ cản quang và phẫu thuật bộc lộ thực tế.

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 tập trung phân tích, so sánh các phát hiện nghiên cứu với y văn trong nước và quốc tế:

  • Bàn luận về đặc điểm lâm sàng và dịch tễ: Phân tích yếu tố nguy cơ tai nạn xe máy, sự phức tạp của các tổn thương phối hợp xương khớp khiến việc chỉ định CHT gặp cản trở do nhiễu ảnh kim loại, khẳng định tính khả thi của CLVT tủy cản quang.
  • Bàn luận về đặc điểm hình ảnh học: Đánh giá độ tin cậy của dấu hiệu trực tiếp (mất hoàn toàn rễ con trên các lát cắt MPR/oblique coronal) so với dấu hiệu gián tiếp (GTVMT). Bàn luận về tỷ lệ dương tính giả của GTVMT (khoảng 20% như ghi nhận của Laohaprasitiporn, 2018) do màng tủy rách nhưng rễ chưa đứt hoàn toàn hoặc nang màng nhện có sẵn.
  • Bàn luận về giá trị chẩn đoán đối chiếu phẫu thuật: So sánh độ nhạy và độ đặc hiệu của luận án với các nghiên cứu của Dubuison A., Cho A., Doi K. (2002), Walker A., Bordalo-Rodrigues M. (2020), Yamazaki H. (2007) và Tse R. (2014). Khẳng định kỹ thuật tái tạo đa mặt phẳng trên CLVT đa dãy giúp nâng cao rõ rệt độ chính xác trong việc phân loại nhổ rễ hoàn toàn và không hoàn toàn.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp chính của luận án bao gồm:

  1. Về mặt khoa học và phương pháp: Xác lập và chuẩn hóa quy trình chụp CLVT tủy cổ cản quang đa dãy qua đường chọc dò thắt lưng, định vị góc dốc 45 độ và thời gian chờ 15 - 20 phút tại cơ sở y tế Việt Nam, chứng minh độ an toàn và chất lượng hình ảnh bộc lộ rễ thần kinh trong ống sống.
  2. Về mặt hình ảnh học: Mô tả đầy đủ và có hệ thống các dấu hiệu trực tiếp (mất rễ con, giảm số lượng rễ con, teo rễ) và gián tiếp (GTVMT, biến dạng nón màng tủy, lệch tủy) trên các hướng cắt ngang, đứng ngang và chếch theo đường đi của rễ; áp dụng thành công phân loại Nagano trong đánh giá mức độ tổn thương rễ.
  3. Về mặt thực tiễn lâm sàng: Cung cấp bằng chứng đối chiếu phẫu thuật khẳng định CLVT tủy cổ cản quang có giá trị chẩn đoán cao trong xác định tổn thương nhổ rễ ĐRTKCT do chấn thương, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân có phương tiện kết xương kim loại chống chỉ định hoặc hạn chế chụp CHT, hỗ trợ bác sĩ phẫu thuật lập kế hoạch mổ chuyển ghép thần kinh chính xác.

Kiến nghị: Đề xuất áp dụng kỹ thuật chụp CLVT tủy cổ cản quang đa dãy lát mỏng kết hợp dựng ảnh tái tạo đa mặt phẳng cho các trường hợp nghi ngờ nhổ rễ ĐRTKCT sau chấn thương từ tuần thứ 3 - 4 trở đi, đặc biệt khi CHT không thực hiện được hoặc cho kết quả nghi ngờ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Kỹ thuật mang tính xâm lấn do phải chọc dò dịch não tủy qua cột sống thắt lưng và tiêm thuốc cản quang vào khoang dưới nhện, tiềm ẩn nguy cơ tác dụng phụ như đau đầu sau chọc dò.
  • Phương pháp sử dụng tia X và chỉ khảo sát được đoạn rễ thần kinh trong ống sống tới lỗ ghép, không đánh giá trực tiếp được các tổn thương sau hạch (mức thân, bó và nhánh tận ngoài lỗ ghép) như chụp CHT.
  • Cần tuân thủ khoảng thời gian chờ từ 3 đến 4 tuần sau chấn thương để tránh ảnh giả từ máu tụ nội tủy, hạn chế khả năng chẩn đoán tức thì trong giai đoạn cấp cứu ban đầu.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Nghiên cứu kết hợp quy trình chẩn đoán hình ảnh phối hợp đa phương thức giữa CLVT tủy cổ cản quang (đánh giá trước hạch) và CHT/siêu âm (đánh giá sau hạch) nhằm xây dựng bản đồ tổn thương toàn diện của ĐRTKCT.
  • Mở rộng ứng dụng trên các dòng máy CLVT thế hệ mới nhiều dãy đầu thu hơn (từ 64 đến 128 dãy hoặc CT hai mức năng lượng) nhằm giảm liều xạ và tối ưu hóa độ phân giải không gian của các rễ con.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn cho:

  • Bác sĩ chuyên ngành Chẩn đoán hình ảnh: Tham khảo quy trình kỹ thuật chụp, thông số quét lát mỏng, kỹ thuật tái tạo ảnh theo đường đi của rễ (oblique coronal) và tiêu chuẩn nhận định dấu hiệu nhổ rễ theo phân loại Nagano.
  • Bác sĩ Phẫu thuật Chấn thương chỉnh hình và Phẫu thuật Thần kinh: Cung cấp cơ sở đối chiếu chẩn đoán hình ảnh với thương tổn thực tế trong mổ, hỗ trợ chỉ định phương pháp phẫu thuật nối ghép trực tiếp hoặc chuyển thần kinh.
  • Nghiên cứu sinh, học viên sau đại học: Tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu về bệnh học đám rối thần kinh ngoại biên và các ứng dụng chẩn đoán hình ảnh can thiệp tủy sống.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ chế hình thành giả thoát vị màng tủy (GTVMT) trong tổn thương nhổ rễ ĐRTKCT là gì?
GTVMT hình thành theo cơ chế ngoại vi khi lực kéo giãn mạnh lên chi trên thắng sức chịu đựng của các tổ chức xơ bao quanh rễ, làm rách bao màng cứng tại vị trí lỗ ghép; nón màng cứng bị kéo ra ngoài và dịch não tủy thoát qua lỗ rách tạo thành túi dịch thông với khoang dưới nhện, bắt thuốc cản quang khi chụp.

2. Tại sao thời điểm chụp CLVT tủy cổ cản quang được khuyến cáo thực hiện từ 3 đến 4 tuần sau chấn thương?
Thời gian tối thiểu 3 - 4 tuần là cần thiết để các cục máu đông và phản ứng viêm cấp tính trong khoang dưới nhện hấp thu hoàn toàn, tránh gây ảnh giả chẩn đoán nhầm rễ thần kinh, đồng thời đây cũng là khoảng thời gian đủ để các túi GTVMT hình thành ổn định.

3. Quy trình đưa thuốc cản quang vào ống sống tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 được thực hiện như thế nào?
Thuốc cản quang không ion hóa (như Iohexol hoặc Iopamidol) được tiêm qua đường chọc dò khoang dưới nhện cột sống thắt lưng dưới mức L3 (để tránh làm tổn thương tủy sống), sau đó đặt bệnh nhân nằm đầu thấp nghiêng 45 độ trong 15 - 20 phút để thuốc dồn lên vùng tủy cổ trước khi tiến hành quét cắt lớp vi tính.

4. Phân loại tổn thương rễ ĐRTKCT của Nagano (1989) gồm những mức độ nào?
Phân loại Nagano gồm 6 mức: N (bình thường), A1 (bất thường nhỏ ở vùng tay áo rễ), A2 (cắt cụt vùng tay áo, biến dạng rễ), A3 (cắt cụt vùng tay áo và mất hoàn toàn rễ/rễ con), D (khuyết vùng tay áo) và M (giả thoát vị màng tủy).

5. CLVT tủy cổ cản quang có ưu điểm gì so với chụp cộng hưởng từ (CHT) trong tổn thương ĐRTKCT?
CLVT tủy cổ cản quang lát mỏng khảo sát chi tiết và chính xác cấu trúc các rễ con trong ống sống, phân định tốt nhổ rễ hoàn toàn và không hoàn toàn, không bị ảnh hưởng bởi chuyển động dòng chảy dịch não tủy và đặc biệt thực hiện được trên những bệnh nhân có phương tiện kết xương kim loại hoặc nẹp vít sau gãy xương phối hợp.

Kết luận

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Tống Thị Thu Hằng là công trình nghiên cứu chuyên sâu về ứng dụng của cắt lớp vi tính tủy cổ cản quang trong chẩn đoán tổn thương đám rối thần kinh cánh tay do chấn thương tại Việt Nam. Luận án đã hệ thống hóa cơ sở giải phẫu, chuẩn hóa kỹ thuật chụp tủy cản quang qua đường thắt lưng và xác định các dấu hiệu hình ảnh đặc trưng theo phân loại Nagano. Kết quả đối chiếu với phẫu thuật khẳng định phương pháp có giá trị chẩn đoán cao đối với các thương tổn nhổ rễ trước hạch, khắc phục hiệu quả các hạn chế của cộng hưởng từ ở bệnh nhân có phương tiện kết xương kim loại. Công trình cung cấp nguồn dữ liệu thực nghiệm và tài liệu tham khảo có giá trị cho chuyên ngành Chẩn đoán hình ảnh và Phẫu thuật thần kinh - chỉnh hình.