Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu: trình bày các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến dự báo hạn mùa các cực đoan nhiệt độ cao và nêu rõ đặc trưng chế độ nhiệt trên khu vực Bắc Trung Bộ trong các tháng mùa hè. Chương 2: Số liệu và Phương pháp nghiên cứu: Khái quát mô hình RegCM và giới thiệu những điểm mới trong mô hình này ở phiên bản 4 so với các phiên bản trước đó; nguồn số liệu sử dụng trong luận văn và phương pháp nội suy, đánh giá, hiệu chỉnh kết quả dự báo của mô hình được sử dụng trong luận văn. Chương 3: Kết quả và nhận xét: Trình bày các kết quả về khả năng mô phỏng hạn mùa với các hạn dự báo từ 1 đến 5 tháng các chỉ số cực đoan nhiệt độ cao trong các tháng mùa hè trên khu vực Bắc Trung Bộ giai đoạn cơ sở 1983 - 2012. Thử nghiệm và đánh giá hiệu quả của phương pháp hiệu chỉnh sai số hệ thống đối với kết quả mô hình cho thời kỳ kiểm định sau hiệu chỉnh 2013 - 2014.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu dự báo hạn mùa cực đoan nhiệt độ cao 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Trong thế kỷ 21, biến đổi khí hậu được xem là một trong những mối đe dọa môi trường lớn nhất đối với thế giới, và sự thay đổi phức tạp của các cực đoan khí hậu được ước tính gây ra những tác động tiêu cực đến xã hội loài người và môi trường tự nhiên nhiều hơn so với sự biến đổi của các đặc trưng khí hậu trung bình [42]. Theo báo cáo lần thứ năm (AR5) của IPCC, phần lớn những thay đổi lớn nhất của cực đoan khí hậu trên toàn cầu được tìm thấy trong các yếu tố và hiện tượng liên quan đến nhiệt độ; cực đoan lượng mưa mặc dù cũng có xu thế tăng lên tuy nhiên có sự biến động không gian lớn [45].
Các cực đoan nhiệt độ là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra bệnh tật và tử vong cho các đối tượng dễ bị tổn thương nhất bao gồm người già, trẻ sơ sinh ở cả các nước phát triển cũng như đang phát triển. Nó chiếm tới 75% số ca tử vong liên quan đến thời tiết cũng như tăng tỷ lệ mắc bệnh ngay cả ở các nước có thu nhập cao [25, 26]. Cùng với xu thế gia tăng nhiệt độ trên toàn cầu, trong những năm gần đây, các kỷ lục mới về nhiệt độ cao liên tiếp được ghi nhận tại nhiều khu vực và thường xảy ra trong các tháng mùa hè như Mitribah (Kuwait) 54,2oC ngày 21/07/2016; Ahwaz (Iran) 54,0oC ngày 29/6/2017; Basra (Irag) 53,9oC ngày 22/7/2016; 50,3oC (Trung Quốc) ngày 24/7/2015; 51oC (Ấn Độ) ngày 19/5/2016. Các cực đoan liên quan đến nhiệt độ được dự báo sẽ tăng ở nhiều khu vực; đồng thời tần suất, cường độ và thời gian kéo dài các hiện tượng cực đoan liên quan đến nhiệt độ cao, cụ thể là nắng nóng (NN) có xu thế tăng lên đáng kể gây thiệt hại lớn về người và của.
Theo báo cáo của IPCC 2015, từ những năm 1950 trở lại đây, trong khi số ngày và số đêm lạnh có xu thế giảm thì số ngày, số đêm nóng, tần xuất xuất hiện các đợt nắng nóng lại có xu thế gia tăng rõ rệt trên quy mô toàn cầu, đặc biệt tại các khu vực như châu Âu, châu Á và Austraylia [45]. Tại một số khu vực, nắng nóng là nhân tố chịu trách nhiệm cho nhiều trường hợp tử vong trong những thập kỷ qua hơn bất kỳ sự kiện cực đoan nào khác [39]. 3 z Thế nhưng thật may mắn khi thông thường những bệnh tật và tử vong liên quan đến cực đoan nhiệt độ phần lớn có thể ngăn ngừa trước một thời gian dài nếu có thể xây dựng được một hệ thống dự báo khí hậu nội mùa đến hạn mùa S2S (sub- seasonal-to-seasonal) có độ tin cậy cao [39]. Trong đó, các thông tin dự báo hạn mùa là chìa khóa quan trọng cho những quyết định dài hạn và cảnh báo sớm các hiện tượng cực đoan, thiên tai có thể xảy ra trong bối cảnh sự nóng lên toàn cầu đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh như hiện nay.
Dự báo hạn mùa (seasonal forecast) thuộc bài toán dự báo khí hậu, do vậy cần xác định rõ ràng rằng các kết quả dự báo sẽ không chỉ ra được trạng thái khí quyển vào những thời điểm cụ thể từng ngày, từng giờ mà thay vào đó sẽ cung cấp các thông tin chung về điều kiện khí quyển trong từng khoảng thời gian nhất định ví dụ như từng tháng, từng mùa và tối đa là 1 năm. Thông thường, trong nghiên cứu dự báo mùa, các nhà khí tượng - khí hậu chủ yếu tập trung vào dự báo xu hướng và mức độ dao động xung quanh trung bình nhiều năm hay trung bình chuẩn (dưới dạng dự báo chuẩn sai) hoặc xác suất xuất hiện các pha với 3 pha cơ bản bao gồm trên (vượt) chuẩn, lân cận (xấp xỉ) chuẩn và dưới (hụt) chuẩn. Về phương pháp dự báo hạn mùa đối với cả yếu tố khí hậu và các yếu tố, hiện tượng cực đoan đến nay có hai cách tiếp cận cơ bản là bằng phương pháp thống kê thực nghiệm (thống kê truyền thống và hạ quy mô thống kê) và phương pháp số trị (bao gồm sử dụng một mô hình số hoặc kết hợp đa mô hình số trị để dự báo) [49, 27]. Cách tiếp cận thống kê là một phương pháp truyền thống được thực hiện từ rất lâu và là công cụ sử dụng khá phổ biến từ cuối thế kỷ 19.
Trong cách tiếp cận này, quan hệ thống kê giữa yếu tố dự báo và nhân tố dự báo (tập số liệu lịch sử hoặc trường dự báo từ mô hình khí hậu toàn cầu hoặc khu vực) được thiết lập. Một số nghiên cứu áp dụng phương pháp này trong dự báo cực đoan nhiệt độ có thể kể đến như: Alfaro và CS, 2006 [22] xây dựng mô hình thống kê dựa trên phân tích tương quan Canon (CCA) nhằm đánh giá khả năng dự báo nhiệt độ tối cao (Tx) và nhiệt độ tối thấp (Tm) tháng 6 đến tháng 8 cũng như tần suất cực trị nhiệt độ ngày (Tx ngày lớn hơn phân vị 90% Tx khí hậu trong các tháng mùa hè) ở khu vực trung tâm và miền Tây Hoa 4 z Kỳ. Della và CS, 2007 [28] áp dụng phân tích tương quan Canon để xem xét mối quan hệ và khả năng dự báo các đợt sóng nhiệt trên khu vực Tây Âu giai đoạn 1880 -2003 dựa trên những tác động quy mô lớn (large-scale forcings). Fan và CS, 2013 [30] áp dụng hai phương pháp hạ quy mô thống kê cho việc tính toán bốn chỉ số cực trị nhiệt độ mùa hè bao gồm: nhiệt độ tối cao trung bình (Tx), nhiệt độ tối thấp trung bình (Tm), phân vị 90% của nhiệt độ tối cao (Tx90) và phân vị 90% nhiệt độ tối thấp (Tm90) cho 48 trạm quan trắc ở phía bắc Trung Quốc từ 1960 - 2008.
Phương pháp đầu tiên các tác giả sử dụng là hạ quy mô Tx, Tm ngày dựa vào phân tích EOF và hồi quy tuyến tính từng bước, sau đó mới tính toán các chỉ số cực đoan. Một cách khác là hạ quy mô trực tiếp các chỉ số dựa trên ngưỡng phân vị sử dụng các ghi nhận thông tin về nhiệt độ và độ cao địa thế vị trung bình mùa quy mô lớn thu được từ số liệu tái phân tích của NCEP. Các kết quả thu được cho thấy, việc xác định các chỉ số cực đoan bằng phương pháp sau cho kết quả tốt hơn so với phương pháp trước. Cách tiếp cận thống kê mặc dù có đạt một số kết quả nhất định, dễ áp dụng và ít tốn kém tài nguyên máy tính, tuy nhiên còn khá xa để phương pháp này có thể đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của thực tế, đặc biệt là vấn đề dự báo các hiện tượng cực đoan tại một địa phương.
Thông thường cách tiếp cận thống kê chỉ có hiệu quả đối với các hiện tượng khí hậu mang tính quy luật, hoặc nắm bắt tốt sự phát triển của các hệ thống thời tiết, khí hậu quy mô lớn; trong khi các hiện tượng cực đoan với tính đột biến cao thường bị “bỏ sót”, hoặc sự ảnh hưởng của đặc trưng của địa phương thường bị làm trơn. Hơn nữa, sự hạn chế trong việc thu thập và lưu trữ số liệu quan trắc về các yếu tố cực trị trong quá khứ cũng là điểm bất lợi đối việc áp dụng phương pháp này trong dự báo. Phương pháp động lực áp dụng trong dự báo mùa mới được phát triển khoảng vài chục năm trở lại đây dựa trên nền tảng sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ máy tính và những hiểu biết sâu về bản chất vật lý các quá trình trong khí quyển của con người. Cách tiếp cận này dựa trên các nguyên lý cơ bản nhiệt động lực học trong khí quyển để mô phỏng các hiện tượng, các quá trình vận động của toàn bộ khí quyển đối với khu vực được quan tâm nghiên cứu.
Phương pháp số trị khắc phục một số nhược 5 z điểm của phương pháp thống kê trong dự báo cực đoan khí hậu đã đề cập ở trên, đây là hướng tiếp cận hiện đại mà nhiều Trung tâm nghiên cứu và các nhà khoa học đang quan tâm phát triển. Các mô hình dự báo khí hậu hạn mùa, theo mức độ phức tạp, có thể sắp xếp theo thứ tự từ những mô hình cân bằng năng lượng đơn giản đến các mô hình rất phức tạp, đòi hỏi phải có các máy tính lớn, tốc độ tính toán nhanh và nhiều kỹ thuật tính toán. Ban đầu khi các hệ thống máy tính lớn chưa được trang bị tại nhiều khu vực, thông thường các thông tin dự báo hạn mùa được lấy trực tiếp từ đầu ra các sản phẩm dự báo của các mô hình khí hậu toàn cầu (GCM-Global climate model) bao gồm mô hình hoàn lưu chung khí quyển (AGCM) và các mô hình hoàn lưu chung khí quyển đại dương (AOGCM). Một số mô hình dự báo hạn mùa toàn cầu có thể kể đến như: CFS của Mỹ, hệ thống dự báo khí hậu mùa GloSea của Anh, mô hình động lực kết hợp khí quyển - đại dương POAMA của cục Khí tượng Úc (BOM), hệ thống dự báo mùa ECMWF-IFS của Trung tâm Khí tượng Hạn vừa châu Âu, hệ thống dự báo tổ hợp EPS bao gồm mô hình hoàn lưu chung khí quyển AGCM và mô hình đại dương OGCM của Nhật Bản.