Tổng quan luận án

Ung thư đại trực tràng (UTĐTT) là một trong những bệnh lý ác tính đường tiêu hóa phổ biến. Theo số liệu của GLOBOCAN năm 2020, UTĐTT đứng thứ ba về tỷ lệ mắc mới (chiếm 10% tổng số ca mắc ung thư) và đứng thứ hai về tỷ lệ tử vong do ung thư trên phạm vi toàn cầu. Tại Mỹ năm 2020, ghi nhận 104.610 ca mắc mới ung thư đại tràng và 43.200 ca tử vong. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc mới UTĐTT năm 2020 chiếm 9% (16.426 ca), xếp thứ năm trong số các bệnh lý ung thư.

Polyp đại trực tràng (ĐTT), đặc biệt là polyp u tuyến, được xác định là tổn thương tiền ung thư chủ yếu. Quá trình tích tụ các biến đổi di truyền và biểu sinh thúc đẩy polyp tiến triển từ loạn sản độ thấp đến loạn sản độ cao, xâm lấn qua lớp cơ niêm xuống dưới niêm mạc và hình thành UTĐTT. Quá trình sinh ung thư đại trực tràng diễn ra qua nhiều bước với sự tham gia của các gen điều khiển (driver genes), trong đó đột biến gen KRAS và BRAF thuộc thác tín hiệu MAPK (Mitogen-activated protein kinase) xuất hiện ở giai đoạn sớm của quá trình biến đổi mô học. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về đột biến KRAS và BRAF trước đây tập trung chủ yếu trên mô UTĐTT tiến triển, thiếu hụt các dữ liệu khảo sát đồng thời trên nhóm polyp ĐTT có loạn sản, polyp ung thư và mối liên quan với hình ảnh nội soi, giải phẫu bệnh. Luận án tiến sĩ y học của tác giả Ngô Thị Hoài (chuyên ngành Nội tiêu hóa, Viện Nghiên cứu Khoa học Y Dược Lâm sàng 108, năm 2022) được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu này.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm 2 mục tiêu:

  1. Nhận xét đặc điểm hình ảnh nội soi, mô bệnh học polyp có loạn sản, polyp ung thư và ung thư đại trực tràng.
  2. So sánh tỷ lệ và phân tích mối liên quan giữa đột biến gen KRAS, BRAF với đặc điểm nội soi, các thể mô bệnh học trên bệnh nhân polyp có loạn sản, polyp ung thư và ung thư đại trực tràng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân được chẩn đoán polyp đại trực tràng có loạn sản, polyp ung thư và ung thư đại trực tràng.
  • Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, phối hợp thực hiện xét nghiệm chuyên sâu tại Viện điều trị các bệnh tiêu hóa, Khoa Giải phẫu bệnh, Khoa Sinh học phân tử, Khoa Miễn dịch và Trung tâm nghiên cứu y học Việt - Đức (VG-CARE).
  • Thời gian nghiên cứu: Công trình hoàn thành và bảo vệ năm 2022.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về giải phẫu, nội soi, chất chỉ điểm khối u CEA, mô bệnh học và sinh học phân tử của polyp và UTĐTT:

Về vai trò của nội soi và dấu ấn sinh học:

  • Corley và cộng sự (2017) khảo sát trên 70.124 bệnh nhân có xét nghiệm máu ẩn trong phân dương tính, chứng minh việc trì hoãn nội soi đại trực tràng trên 10 tháng và trên 12 tháng làm tăng đáng kể nguy cơ mắc UTĐTT (OR = 2,25) và tiến triển giai đoạn bệnh (OR = 3,22).
  • Về chỉ số Carcino Embryonic Antigen (CEA), từ phát hiện đầu tiên của Gold và Freedman (1966), các nghiên cứu của Jing Tong (2015) và nhiều tác giả khẳng định nồng độ CEA huyết tương (>10 ng/ml) có giá trị theo dõi tiến triển và tái phát sau can thiệp polyp và khối u ĐTT.

Về hình ảnh nội soi và nguy cơ ác tính:

  • Corley và cộng sự (2014) ghi nhận tỷ lệ phát hiện polyp u tuyến qua nội soi dao động từ 7,4% đến 52,5% trên 314.872 ca.
  • Tỷ lệ ác tính hóa tăng thuận chiều với kích thước tổn thương: 1–5 mm có nguy cơ 0–0,1%; 6–9 mm nguy cơ 0–0,4%; 10–20 mm nguy cơ 2,4%; trên 20 mm nguy cơ tăng lên 19,4%.
  • Các hệ thống phân loại hình thái nội soi được chuẩn hóa gồm phân loại Paris, phân loại tổn thương lan rộng sang bên (LST - Laterally spreading tumors), phân loại NICE (Hayashi, 2013), phân loại JNET (2012) và phân loại vi cấu trúc bề mặt Kudo Pit Pattern (Kudo; Yamano, 2020).

Về mô bệnh học và phân loại độ xâm lấn:

  • Phân loại WHO (2019) đối với polyp u tuyến (tuyến ống, tuyến nhung mao, ống nhung mao), polyp răng cưa (polyp tăng sinh, polyp răng cưa không cuống SSL, polyp tuyến răng cưa truyền thống TSA) và các thể ung thư biểu mô tuyến (NOS, nhầy, tế bào nhẫn, thể tủy, vi nhú, dạng u tuyến).
  • Phân loại độ loạn sản theo Vienna cập nhật bởi Rubio (2006) và WHO (2019).
  • Đánh giá độ sâu xâm lấn polyp ung thư theo Kikuchi (Sm1, Sm2, Sm3 cho tổn thương không cuống) và theo Haggitt (độ 0 đến độ 4 cho tổn thương có cuống; Haggitt 1-3 có tỷ lệ di căn hạch <1%, Haggitt 4 có tỷ lệ di căn hạch 12-25%).
  • Phân loại giai đoạn tiến triển theo Dukes (1932) và hệ thống TNM của AJCC phiên bản 8 (2017).

Về con đường sinh học phân tử và đột biến gen:

  • Ba con đường sinh ung thư chính gồm: con đường mất ổn định nhiễm sắc thể (CIN, chiếm 70–85%), con đường mất ổn định vi vệ tinh (MSI, chiếm ~15%, liên quan hội chứng Lynch và gen sửa chữa ghép cặp DNA mismatch repair MMR), và con đường methyl hóa đảo CpG (CIMP / con đường răng cưa, liên quan gen BRAF, chiếm 15–30%).
  • Các gen điều khiển (driver genes) gồm 6 gen chủ chốt: APC, KRAS, BRAF, PIK3CA, SMAD4 và TP53 (Markowitz, 2009; Kuipers, 2016; Huang, 2018).
  • Gen KRAS nằm trên nhiễm sắc thể 12p, đột biến chủ yếu tại codon 12, 13 (exon 2), codon 61 (exon 3) và codon 146 (exon 4) (Neumann, 2009), gây hoạt hóa độc lập với thụ thể EGFR, dẫn đến kháng liệu pháp kháng thể đơn dòng Cetuximab và Panitumumab.
  • Gen BRAF nằm trên nhiễm sắc thể 7q34, phổ biến nhất là đột biến V600E (nucleotide 1799T>A), xuất hiện ở 50–80% polyp răng cưa và liên quan chặt chẽ với CIMP cao (Kambara, 2004).

Khoảng trống nghiên cứu giải quyết: Luận án định vị nghiên cứu vào việc kết nối đồng bộ giữa nội soi hình ảnh học nâng cao (Paris, Kudo, NICE), giải phẫu bệnh mô học chi tiết (WHO, Kikuchi, Haggitt) và phân tích đột biến hai gen KRAS, BRAF trên toàn bộ chuỗi tiến triển bệnh lý gồm polyp có loạn sản, polyp ung thư và UTĐTT tại cơ sở y tế Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và phân loại áp dụng

Luận án xây dựng trên cơ sở lý thuyết về tiến trình đa bước sinh ung thư đại trực tràng từ niêm mạc bình thường qua polyp tuyến đến ung thư xâm lấn, kết hợp các hệ thống phân loại tiêu chuẩn:

  1. Phân loại nội soi hình thái Paris: tổn thương lồi (0-Ip, 0-Is, 0-Isp), tổn thương phẳng (0-IIa, 0-IIb, 0-IIc), tổn thương loét (0-III) và phân loại LST (LST-G, LST-NG).
  2. Phân loại nội soi dải ánh sáng hẹp NICE (Type 1, 2, 3) và phân loại khe lỗ niêm mạc Kudo Pit Pattern (Type I, II, III s/L, IV, V gồm Vi và Vn).
  3. Phân loại mô bệnh học theo WHO 2019: phân độ loạn sản (độ thấp, độ cao) và phân loại dưới nhóm mô học UTBM đại trực tràng.
  4. Đánh giá xâm lấn polyp ung thư theo Kikuchi và Haggitt; phân chia giai đoạn TNM theo AJCC 8th (2017).

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp phân tích định lượng, tiến cứu kết hợp hồi cứu.
  • Cỡ mẫu và chọn mẫu: Thu thập toàn bộ bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chẩn đoán polyp ĐTT (n=215 polyp) và UTĐTT đến khám và điều trị tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.
  • Kỹ thuật nội soi: Sử dụng hệ thống nội soi ánh sáng trắng kết hợp nội soi phóng đại, nội soi dải tần ánh sáng hẹp (NBI) và nhuộm màu bề mặt niêm mạc.
  • Kỹ thuật mô bệnh học: Bệnh phẩm sinh thiết hoặc bệnh phẩm cắt bỏ qua nội soi (EMR, ESD) và phẫu thuật được cố định formalin, đúc khối parafin, cắt lát và nhuộm Hematoxylin - Eosin (HE) để xác định cấu trúc vi thể, mức độ loạn sản, diện cắt và độ xâm lấn mạch máu, thần kinh.
  • Kỹ thuật sinh học phân tử:
    • Tách chiết DNA từ các lát cắt mô mang tổn thương đã được đánh dấu vùng tế bào đích trên tiêu bản giải phẫu bệnh.
    • Kiểm tra nồng độ và độ tinh sạch của DNA trên máy quang phổ Nanophotometer.
    • Phát hiện đột biến gen KRAS (các đột biến tại codon 12, 13) và đột biến gen BRAF (đột biến V600E) bằng kỹ thuật Real-time PCR kết hợp công nghệ khóa PNA (Peptide nucleic acid clamp PCR) qua 2 lần phản ứng nhiệt, so sánh với các mẫu chứng chuẩn và phân tích ngưỡng chu kỳ (Cycle Threshold - Ct).

Bảng các dạng đột biến gen KRAS tổng quan trong nghiên cứu

Codon Dạng đột biến protein Đột biến nucleotide tương ứng
Codon 12 G12D (Gly12Asp) 35G>A
G12V (Gly12Val) 35G>T
G12C (Gly12Cys) 34G>T
G12S (Gly12Ser) 34G>A
G12A (Gly12Ala) 35G>C
G12R (Gly12Arg) 34G>C
G12F (Gly12Phe) 34G>T, 35G>T
G12I (Gly12Iso) 34G>A, 35G>T
Codon 13 G13D (Gly13Asp) 38G>A
G13C (Gly13Cys) 37G>T
G13R (Gly13Arg) 37G>C
  • Xử lý số liệu: Số liệu được nhập và xử lý bằng các thuật toán thống kê y học, so sánh tỷ lệ bằng kiểm định Chi-bình phương ($\chi^2$) hoặc Fisher's exact test, đánh giá mối tương quan với mức ý nghĩa thống kê $p < 0,05$.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa toàn diện cơ sở giải phẫu học khung đại tràng, mạch máu mạc treo tràng trên/dưới và các phương tiện chẩn đoán. Tác giả trình bày lịch sử phát triển kỹ thuật nội soi từ ống soi cứng Quenu (1898), Raoul Bensaude (1919), ống soi mềm Mutsugana (1957), Overholt (1966) đến thế hệ nội soi video, nội soi phóng đại, NBI, FICE và nội soi tế bào. Chương 1 phân tích sâu về đặc điểm hình thái polyp theo Paris, LST, NICE, JNET, Kudo; phân loại vi thể theo WHO 2019; cơ chế sinh bệnh học qua 3 con đường (CIN, MSI, CIMP); và vai trò điều khiển của các gen APC, TP53, TGFBR2, SMAD4, KRAS, BRAF, PTEN, PIK3CA.

Bảng đặc điểm các gen sinh ung và ức chế khối u chính trong ung thư đại trực tràng

Gen Tần suất (%) Vai trò sinh học chính Đặc điểm di truyền và cơ chế
APC 85% Ức chế khối u; điều hòa phân hủy $\beta$-catenin trong con đường Wnt Đột biến dòng mầm trong hội chứng FAP; đột biến mắc phải ở 85% UTĐTT rải rác
TP53 35–55% Ức chế khối u; kiểm soát chu kỳ tế bào và chết theo chương trình Đột biến dòng mầm trong hội chứng Li-Fraumeni; mất dị hợp tử nhiễm sắc thể 17p
KRAS 35–45% Gen sinh ung; kinase truyền tín hiệu tăng sinh tế bào qua nhánh PI3K và RAF-MEK-ERK Đột biến hoạt hóa chủ yếu tại exon 2 (codon 12, 13); gây kháng thuốc kháng EGFR
BRAF 8–12% Gen sinh ung; serine/threonine kinase xuôi dòng của KRAS trong trục MAPK Đột biến V600E phổ biến trong polyp răng cưa và khối u có CIMP cao
TGFBR2 25–30% Thụ thể truyền tín hiệu ức chế tăng trưởng tế bào Đột biến chuyển khung lặp lại polyA; gặp ở >90% khối u MSI và >15% MSS
SMAD4 10–35% Gen ức chế khối u nằm tại vị trí 18q, điều hòa tín hiệu nội bào Đột biến dòng mầm trong hội chứng đa polyp thanh thiếu niên; thường mất cùng TP53
MLH1, MSH2, MSH6 15–25% Hệ thống sửa chữa ghép cặp sai DNA (MMR) Đột biến dòng mầm trong hội chứng HNPCC/Lynch; tăng methyl hóa biểu sinh MLH1
PTEN 10–15% Ức chế con đường tín hiệu PI3K Đột biến dòng mầm trong hội chứng Cowden; liên quan tăng sinh tế bào ác tính

Bảng mối liên quan giữa phân loại LST và phân loại Paris

Phân loại LST Dạng tổn thương theo LST Tương ứng phân loại Paris
LST-NG (Không hạt) Loại phẳng 0-IIa, 0-IIb
Loại giả polyp lõm 0-IIa + IIc
LST-G (Dạng hạt) Loại nốt đồng nhất 0-IIa
Loại dạng nốt hỗn hợp 0-IIa, 0-IIa + Is

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình chọn mẫu, phương tiện nghiên cứu, hóa chất sinh học phân tử và quy trình kỹ thuật. Luận án xây dựng quy trình đối chiếu chuẩn từ khâu nội soi quan sát (phân loại Paris, đánh giá Kudo Pit Pattern, phân loại NICE), lấy mẫu sinh thiết/bệnh phẩm can thiệp cắt hớt niêm mạc EMR, cắt tách hạ niêm mạc ESD hoặc phẫu thuật, cố định tiêu bản giải phẫu bệnh, đo độ xâm lấn đối với polyp ung thư (Kikuchi Sm1-Sm3, Haggitt 0-4), cho đến quy trình tách chiết DNA, đo mật độ quang học trên Nanophotometer và thực hiện Real-time PCR phát hiện đột biến KRAS, BRAF.

Bảng phân loại giai đoạn bệnh UTĐTT theo hệ thống TNM (AJCC 8th)

Giai đoạn U nguyên phát (T) Hạch vùng (N) Di căn xa (M)
0 Tis N0 M0
I T1, T2 N0 M0
IIA T3 N0 M0
IIB T4a N0 M0
IIC T4b N0 M0
IIIA T1–T2 / T1 N1/N1c / N2a M0
IIIB T3–T4a / T2–T3 / T1–T2 N1/N1c / N2a / N2b M0
IIIC T4a / T3–T4a / T4b N2a / N2b / N1–N2 M0
IVA Bất kỳ T Bất kỳ N M1a
IVB Bất kỳ T Bất kỳ N M1b
IVC Bất kỳ T Bất kỳ N M1c

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương kết quả trình bày các bộ số liệu thực nghiệm qua hệ thống bảng và biểu đồ:

  • Đặc điểm lâm sàng và nội soi: Phân bố bệnh nhân theo tuổi, giới tính, triệu chứng lâm sàng và nồng độ CEA huyết tương. Mô tả chi tiết phân bố vị trí tổn thương ở đại tràng phải, đại tràng trái và trực tràng; kích thước khối u/polyp; hình thái đại thể theo phân loại Paris, Kudo và NICE.
  • Đặc điểm vi thể và mối liên quan: Tỷ lệ các phân nhóm u tuyến ống, tuyến nhung mao, ống nhung mao, polyp răng cưa; mức độ loạn sản thấp, loạn sản cao và polyp ung thư (n=29). Đối chiếu độ chính xác giữa phân loại nội soi Kudo (type IV, V), NICE (type 2, 3) với kết quả mô bệnh học xác định ung thư xâm nhập.
  • Kết quả đột biến gen: Phân bố tỷ lệ đột biến KRAS và BRAF trên nhóm bệnh nhân polyp ĐTT và UTĐTT; phân tích mối liên quan giữa tình trạng đột biến với các thông số: tuổi, giới tính, vị trí tổn thương, kích thước polyp, thể mô bệnh học, phân độ loạn sản, phân loại TNM và tình trạng xâm nhập mạch máu, thần kinh.

Chương 4: Bàn luận

Tác giả bàn luận, so sánh các phát hiện nghiên cứu với y văn trong nước và quốc tế:

  • Bàn luận về giá trị của nội soi tăng cường hình ảnh (NBI, phóng đại, nhuộm màu) kết hợp phân loại NICE và Kudo trong việc dự báo chính xác tính chất tân sinh và độ sâu xâm lấn lớp dưới niêm mạc của polyp.
  • Bàn luận về mối tương quan giữa nồng độ CEA huyết tương với kích thước polyp, phân độ mô học và giai đoạn xâm lấn ung thư.
  • Phân tích ý nghĩa sinh học của tần suất đột biến KRAS và BRAF trong tiến trình sinh ung thư: đột biến KRAS xuất hiện sớm ở các polyp có kích thước lớn, loạn sản độ cao và cấu trúc nhung mao; đột biến BRAF gắn liền với các tổn thương răng cưa.
  • Đánh giá giá trị thực tiễn của việc xác định đột biến gen trong việc định hướng điều trị can thiệp nội soi, phẫu thuật và chỉ định liệu pháp nhắm trúng đích kháng EGFR.

Kết quả và những đóng góp mới

Kết quả chính

  1. Về hình ảnh nội soi và mô bệnh học:
  • Xác lập đặc điểm hình ảnh nội soi theo các phân loại Paris, Kudo, NICE trên bệnh nhân polyp ĐTT có loạn sản, polyp ung thư và UTĐTT.
  • Làm rõ mối tương quan có ý nghĩa giữa hình ảnh nội soi nâng cao (Kudo type V, NICE type 3) với bản chất vi thể loạn sản nặng và ung thư xâm nhập hạ niêm mạc.
  • Đánh giá mức độ xâm lấn trên 29 trường hợp polyp ung thư theo phân loại Kikuchi và Haggitt, cung cấp cơ sở đối chiếu giải phẫu bệnh trong chỉ định cắt polyp qua nội soi so với phẫu thuật triệt căn.
  1. Về đột biến gen KRAS và BRAF:
  • Xác định tỷ lệ hiện diện của đột biến gen KRAS và BRAF trên nhóm bệnh nhân polyp ĐTT có loạn sản, polyp ung thư và nhóm ung thư đại trực tràng.
  • Phân tích mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa đột biến KRAS với kích thước tổn thương, phân loại vi thể (thể nhung mao) và mức độ loạn sản cao.
  • Khẳng định tính chất phân bố của đột biến BRAF trong các thể polyp răng cưa và ung thư biểu mô đại trực tràng.

Đóng góp mới về lý luận và thực tiễn

  • Đóng góp lý luận: Cung cấp dẫn liệu khoa học đồng bộ đầu tiên tại Việt Nam về mối liên hệ giữa các biến đổi hình thái nội soi, phân loại mô bệnh học WHO 2019 và đột biến gen điều khiển (KRAS, BRAF) xuyên suốt từ giai đoạn tổn thương tiền ung thư (polyp có loạn sản, polyp ung thư) đến ung thư đại trực tràng tiến triển.
  • Đóng góp thực tiễn:
    • Thiết lập quy trình phối hợp chặt chẽ giữa nội soi can thiệp, giải phẫu bệnh vi thể và sinh học phân tử Real-time PCR.
    • Hỗ trợ bác sĩ lâm sàng và nội soi trong việc sàng lọc tổn thương nguy cơ cao, đưa ra quyết định can thiệp cắt niêm mạc (EMR/ESD) an toàn hoặc chỉ định phẫu thuật bổ sung đối với polyp ung thư xâm lấn sâu.
    • Cung cấp dữ liệu đột biến KRAS phục vụ cá thể hóa điều trị bằng thuốc ức chế EGFR.

Kiến nghị và đề xuất

  • Đưa phân loại nội soi tăng cường hình ảnh (NICE, Kudo) vào quy trình nội soi đại trực tràng thường quy tại các cơ sở chuyên khoa để đánh giá sớm tổn thương tiền ung thư.
  • Mở rộng xét nghiệm đột biến gen KRAS và BRAF cho các polyp u tuyến có loạn sản độ cao hoặc kích thước lớn nhằm theo dõi sát nguy cơ tiến triển và tái phát sau cắt polyp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Nghiên cứu được thực hiện tại một trung tâm y tế chuyên sâu (Bệnh viện Trung ương Quân đội 108), do đó cỡ mẫu của một số phân nhóm tổn thương hiếm (như polyp răng cưa có loạn sản, các dưới nhóm giải phẫu bệnh ít gặp của UTĐTT) còn khiêm tốn.
  • Phạm vi khảo sát sinh học phân tử tập trung chủ yếu vào các vị trí đột biến điểm phổ biến của 2 gen KRAS (codon 12, 13) và BRAF (V600E), chưa giải trình tự toàn bộ các exon khác hoặc mở rộng khảo sát các gen điều khiển phối hợp như NRAS, PIK3CA, SMAD4, TP53.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng theo dõi dọc thuần tập bệnh nhân sau cắt polyp có mang đột biến KRAS, BRAF để đánh giá tỷ lệ tái phát polyp và tiến triển ác tính theo thời gian.
  • Ứng dụng công nghệ giải trình tự gen thế hệ mới (NGS) đa gen kết hợp đánh giá tình trạng mất ổn định vi vệ tinh (MSI) và kiểu hình methyl hóa CIMP trên mẫu mô lớn hơn.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn cho các đối tượng và chuyên ngành:

  • Bác sĩ Nội tiêu hóa và Nội soi tiêu hóa: Cung cấp hướng dẫn trực quan đối chiếu hình thái tổn thương theo phân loại Paris, LST, Kudo Pit Pattern và NICE; hỗ trợ nhận định nguy cơ ung thư xâm lấn hạ niêm mạc ngay trong quá trình nội soi để lựa chọn kỹ thuật cắt phù hợp.
  • Bác sĩ Giải phẫu bệnh: Tham khảo tiêu chuẩn cập nhật theo WHO 2019 về phân loại polyp răng cưa, phân độ loạn sản, đo đạc độ xâm lấn polyp ung thư theo Kikuchi và Haggitt, cũng như tình trạng xâm nhập mạch máu, thần kinh.
  • Bác sĩ Ung bướu và Sinh học phân tử: Cung cấp số liệu dịch tễ phân tử về tỷ lệ đột biến KRAS, BRAF tại Việt Nam, phục vụ định hướng điều trị trúng đích và tiên lượng bệnh.
  • Giảng viên, học viên sau đại học, nghiên cứu sinh: Tham khảo thiết kế nghiên cứu kết hợp đa chuyên khoa (Nội soi - Mô bệnh học - Di truyền học phân tử) và phương pháp xử lý số liệu y sinh học.

Câu hỏi thường gặp

  1. Phân loại Haggitt áp dụng cho loại polyp nào và có ý nghĩa lâm sàng ra sao trong điều trị? Phân loại Haggitt được áp dụng đối với polyp ung thư có cuống, chia độ xâm lấn thành 5 mức độ (từ độ 0 đến độ 4). Độ 0 là ung thư tại chỗ; độ 1 xâm lấn phần đầu polyp; độ 2 xâm lấn phần cổ; độ 3 xâm lấn vào thân cuống; độ 4 xâm lấn xuống lớp dưới niêm mạc phía dưới cuống. Về mặt lâm sàng, polyp có cuống ở mức độ Haggitt 1, 2, 3 có tỷ lệ di căn hạch dưới 1%, có thể điều trị triệt để bằng cắt bỏ qua nội soi. Đối với Haggitt độ 4, tỷ lệ di căn hạch tăng lên 12–25%, bệnh nhân cần được xem xét chỉ định phẫu thuật.

  2. Kỹ thuật nội soi Kudo Pit Pattern phân loại hình thái lỗ niêm mạc thành những dạng nào? Hệ thống Kudo chia hình thái lỗ mở tuyến (Pit pattern) thành 5 type: Type I (lỗ hơi tròn, niêm mạc bình thường); Type II (lỗ hình sao hoặc nhú, polyp tăng sản); Type III gồm IIIs (lỗ tròn/ống nhỏ hơn type I) và IIIL (lỗ tròn/ống lớn hơn type I, u tuyến lành tính); Type IV (lỗ dạng nhánh cành cây hoặc cuộn não, u tuyến nhung mao); Type V gồm Vi (cấu trúc bất thường) và Vn (mất hoàn toàn cấu trúc lỗ tuyến, đặc trưng cho tổn thương loạn sản nặng hoặc ung thư xâm lấn hạ niêm mạc).

  3. Tại sao việc xét nghiệm đột biến gen KRAS lại mang tính bắt buộc trước khi điều trị kháng thể đơn dòng kháng EGFR trên bệnh nhân UTĐTT? Gen KRAS mã hóa cho protein kinase kiểm soát dòng truyền tín hiệu từ thụ thể EGFR đến nhân tế bào. Khi xảy ra đột biến KRAS (chủ yếu tại codon 12 và 13), protein này chuyển sang trạng thái hoạt động cấu thành liên tục, độc lập với sự kích hoạt của EGFR. Do đó, các thuốc kháng thể đơn dòng kháng EGFR (như Cetuximab hoặc Panitumumab) không còn khả năng ức chế tín hiệu tăng sinh tế bào, dẫn đến hiện tượng đề kháng thuốc. Việc xét nghiệm giúp tránh chỉ định không hiệu quả cho bệnh nhân mang đột biến KRAS.

  4. Sự khác biệt chính giữa polyp răng cưa không cuống (SSL) và polyp tăng sản thông thường là gì? Theo WHO (2019), polyp tăng sản thường có kích thước nhỏ (<5 mm), phân bố chủ yếu ở đại tràng trái và trực tràng (75–90%), cấu trúc khe tuyến chỉ răng cưa ở phần bề mặt. Ngược lại, polyp răng cưa không cuống (SSL) chủ yếu gặp ở đại tràng phải (70–80%), kích thước lớn hơn, có biến đổi cấu trúc sâu ở đáy khe tuyến (khe tuyến giãn nở ngang bám dọc cơ niêm hình chữ L hoặc chữ T, răng cưa mở rộng xuống tận đáy tuyến) và có nguy cơ tiến triển thành ung thư qua con đường CIMP/đột biến BRAF.

  5. Nguy cơ ung thư hóa của polyp đại trực tràng thay đổi như thế nào theo kích thước khối polyp? Tỷ lệ ung thư hóa tăng tỷ lệ thuận với kích thước polyp: nhóm kích thước 1–5 mm có nguy cơ ung thư rất thấp (0–0,1%); nhóm kích thước 6–9 mm có nguy cơ từ 0 đến 0,4%; nhóm kích thước 10–20 mm có nguy cơ là 2,4%; và tỷ lệ này tăng vọt lên 19,4% đối với các khối polyp có kích thước trên 20 mm.

Kết luận

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Ngô Thị Hoài đã thực hiện nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm nội soi, mô bệnh học và tình trạng đột biến gen KRAS, BRAF trên bệnh nhân polyp tuyến có loạn sản, polyp ung thư và ung thư đại trực tràng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Công trình đã chuẩn hóa việc áp dụng các thang phân loại nội soi hình ảnh cao (Paris, Kudo, NICE) tương ứng với phân loại mô bệnh học WHO 2019 và độ sâu xâm lấn theo Kikuchi, Haggitt. Đồng thời, luận án làm sáng tỏ mối liên quan giữa đột biến các gen sinh ung KRAS, BRAF với các đặc điểm hình thái và phân độ ác tính, cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học có giá trị phục vụ chẩn đoán sớm, can thiệp nội soi và định hướng điều trị cá thể hóa cho bệnh lý đại trực tràng tại Việt Nam.