Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm đột biến gen egfr và mối liên quan với lâm sàng cận lâm sàng ở bệnh nhân ung thư phổi biểu mô tuyến

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm đột biến gen EGFR và mối liên quan với lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân ung thư phổi biểu mô tuyến.

Trường đại học

Học viện Quân Y

Chuyên ngành

Nội hô hấp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học
137
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Đột biến gen EGFR và ung thư phổi biểu mô tuyến

Nghiên cứu tập trung vào đột biến gen EGFR và mối liên quan của nó với ung thư phổi biểu mô tuyến. Đột biến gen EGFR là yếu tố quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của ung thư phổi, đặc biệt là ung thư phổi biểu mô tuyến. Các đột biến này làm thay đổi cấu trúc và chức năng của thụ thể EGFR, dẫn đến sự kích hoạt bất thường của con đường tín hiệu tế bào, thúc đẩy sự phát triển và di căn của khối u. Nghiên cứu chỉ ra rằng khoảng 30-64% bệnh nhân ung thư phổi biểu mô tuyến có đột biến gen EGFR, đặc biệt phổ biến ở nhóm bệnh nhân không hút thuốc và nữ giới.

1.1. Cơ chế đột biến gen EGFR

Đột biến gen EGFR thường xảy ra ở các exon 18-21, dẫn đến sự thay đổi trong vùng kinase của thụ thể EGFR. Những đột biến này làm tăng ái lực của thụ thể với các chất ức chế tyrosine kinase (TKI), từ đó cải thiện hiệu quả điều trị. Các đột biến phổ biến nhất bao gồm L858R và delE746-A750, chiếm tỷ lệ cao trong các trường hợp ung thư phổi biểu mô tuyến.

1.2. Tỷ lệ đột biến gen EGFR

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đột biến gen EGFR ở bệnh nhân ung thư phổi biểu mô tuyến dao động từ 30% đến 64%, tùy thuộc vào đặc điểm dân số và yếu tố nguy cơ. Đặc biệt, tỷ lệ này cao hơn ở nhóm bệnh nhân không hút thuốc và nữ giới, cho thấy sự khác biệt về cơ chế bệnh sinh giữa các nhóm bệnh nhân.

II. Mối liên quan lâm sàng và cận lâm sàng

Nghiên cứu phân tích mối liên quan giữa đột biến gen EGFR với các đặc điểm lâm sàngcận lâm sàng ở bệnh nhân ung thư phổi biểu mô tuyến. Kết quả cho thấy đột biến gen EGFR có liên quan đến các triệu chứng lâm sàng như ho, khó thở, và đau ngực. Ngoài ra, các chỉ số cận lâm sàng như nồng độ CEA và Cyfra 21-1 trong huyết thanh cũng có sự khác biệt đáng kể giữa nhóm bệnh nhân có và không có đột biến gen EGFR.

2.1. Đặc điểm lâm sàng

Bệnh nhân có đột biến gen EGFR thường biểu hiện các triệu chứng lâm sàng như ho kéo dài, khó thở, và đau ngực. Những triệu chứng này có thể xuất hiện sớm hơn so với nhóm bệnh nhân không có đột biến, cho thấy sự tiến triển nhanh của bệnh ở nhóm này.

2.2. Đặc điểm cận lâm sàng

Các chỉ số cận lâm sàng như nồng độ CEA và Cyfra 21-1 trong huyết thanh thường cao hơn ở nhóm bệnh nhân có đột biến gen EGFR. Điều này cho thấy sự liên quan giữa đột biến gen và mức độ tiến triển của bệnh, đồng thời cung cấp thông tin quan trọng trong việc tiên lượng và điều trị.

III. Chẩn đoán và điều trị ung thư phổi

Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chẩn đoán ung thư phổi sớm và chính xác, đặc biệt là việc xác định đột biến gen EGFR. Các phương pháp chẩn đoán hiện đại như PCR và giải trình tự gen giúp phát hiện chính xác các đột biến, từ đó hỗ trợ lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp. Điều trị ung thư phổi bằng các thuốc ức chế tyrosine kinase (TKI) đã cho thấy hiệu quả cao ở nhóm bệnh nhân có đột biến gen EGFR.

3.1. Phương pháp chẩn đoán

Các phương pháp chẩn đoán hiện đại như PCR và giải trình tự gen được sử dụng để phát hiện đột biến gen EGFR. Những phương pháp này cho phép xác định chính xác loại đột biến, từ đó hỗ trợ lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp.

3.2. Phương pháp điều trị

Điều trị ung thư phổi bằng các thuốc ức chế tyrosine kinase (TKI) như gefitinib và erlotinib đã cho thấy hiệu quả cao ở nhóm bệnh nhân có đột biến gen EGFR. Những thuốc này giúp ức chế sự phát triển của khối u và cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân.

IV. Tình trạng bệnh nhân và phân tích gen

Nghiên cứu đánh giá tình trạng bệnh nhân và mối liên quan giữa phân tích gen với tiên lượng bệnh. Kết quả cho thấy bệnh nhân có đột biến gen EGFR thường có tiên lượng tốt hơn khi được điều trị bằng các thuốc ức chế tyrosine kinase. Tuy nhiên, sự tiến triển của bệnh cũng phụ thuộc vào các yếu tố khác như tuổi, giới tính, và tiền sử hút thuốc.

4.1. Tiên lượng bệnh

Bệnh nhân có đột biến gen EGFR thường có tiên lượng tốt hơn khi được điều trị bằng các thuốc ức chế tyrosine kinase. Tuy nhiên, tiên lượng cũng phụ thuộc vào các yếu tố khác như tuổi, giới tính, và tiền sử hút thuốc.

4.2. Phân tích gen và tiên lượng

Phân tích gen giúp xác định các đột biến cụ thể, từ đó hỗ trợ tiên lượng và lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp. Điều này đặc biệt quan trọng trong việc cải thiện chất lượng sống và kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm đột biến gen egfr và mối liên quan với lâm sàng cận lâm sàng ở bệnh nhân ung thư phổi biểu mô tuyến

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, YẾU TỐ NGUY CƠ VÀ CƠ CHẾ GÂY UNG THƯ PHỔI 1. Đặc điểm dịch tễ ung thư phổi nguyên phát Ung thư phổi nguyên phát hoặc ung thư phế quản là loại ung thư phổ biến nhất và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các bệnh ung thư ở người lớn trên toàn thế giới. Theo Tổ chức Y tế thế giới (2012), ung thư phổi rất phổ biến trên thế giới: có khoảng 1,8 triệu người mắc mới, chiếm 12,9% tương ứng, xếp hàng thứ nhất về tỷ lệ mới mắc trong số các bệnh ung thư.

Tại Việt Nam, số liệu này là trên 21000, chiếm 17,5%, đứng hàng thứ 2 sau ung thư gan ở cả hai giới. Tỷ lệ mới mắc chuẩn theo tuổi ở nam là 41,1/100 nghìn dân và ở nữ là 12,2/100 nghìn dân. Ung thư phổi cũng là ung thư có tỷ lệ tử vong cao. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (2012) thì số trường hợp tử vong do ung thư phổi là 1,59 triệu, chiếm 19,4% tổng số trường hợp tử vong do ung thư và dẫn đầu về nguyên nhân tử vong, trong đó nam giới là 30,0/100 nghìn dân (đứng thứ 1), nữ giới là 11,1/100 nghìn dân (đứng thứ 2 sau ung thư vú).

Ở Việt Nam năm 2002, tỷ lệ tử vong ở nam giới là 27,4/100 nghìn dân, ở nữ giới là 6,7/100 nghìn dân. Năm 2012, có trên 19 nghìn trường hợp tử vong do ung thư phổi, chiếm 20,6% tổng số trường hợp tử vong do ung thư (đứng hàng thứ 2 sau ung thư gan). Tỷ lệ tử vong ở nam giới là 37,2/100 nghìn dân, ở nữ giới là 10,9/100 nghìn dân. Tỷ lệ ung thư phổi biểu mô tuyến Hiện nay, ung thư biểu mô tuyến chiếm vị trí hàng đầu trong các typ ung thư phổi.

Nghiên cứu của Montezuma D. (2013) trên 325 BN ung thư phổi nguyên phát cho tỷ lệ ung thư phổi biểu mô tuyến là 44,7%. Người ta 4 cũng nhận thấy có sự chuyển đổi về tần suất các typ mô học của ung thư phổi. Những năm đầu thế kỷ 20, typ ung thư phổi biểu mô vảy chiếm > 50%, ung thư phổi biểu mô tuyến khoảng 30%, còn lại là các typ khác.

Đến đầu thế kỷ 21, tỷ lệ typ ung thư phổi biểu mô vảy và ung thư phổi biểu mô tuyến gần tương đương nhau (khoảng 40%) và đến thời điểm hiện tại, tỷ lệ ung thư phổi biểu mô tuyến chiếm khoảng 50% tổng số các trường hợp ung thư phổi. Tại Việt Nam, ung thư phổi biểu mô tuyến đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây. Nghiên cứu của Lê Tuấn Anh (2012) trên 60 BN ung thư phổi không tế bào nhỏ cho thấy tỷ lệ ung thư phổi biểu mô tuyến nhiều nhất là 55,4%. Theo Phạm Văn Thái (2015) , nghiên cứu trên 81 BN ung thư phổi không tế bào nhỏ cho thấy tỷ lệ ung thư phổi biểu mô tuyến là 76,6%.

Nghiên cứu của Lê Hoàn (2010) và Nguyễn Minh Hải (2010) thì tỷ lệ lần lượt là 65,2% và 53,0% ,. Yếu tố nguy cơ và cơ chế bệnh sinh ung thư phổi 1. Các yếu tố nguy cơ Ung thư phổi biểu mô tuyến giống như các loại UTP khác, đã từ lâu được xem như bệnh có mối liên quan mật thiết với các tác nhân môi trường. Các nghiên cứu về UTP đã chỉ ra các yếu tố nguy cơ như sau: Nghiện thuốc lá, thuốc lào: Khói thuốc lá chứa hơn 4.000 loại hóa chất, 200 loại có hại cho sức khỏe, khoảng 60 chất gây ung thư.

Trong số đó có hợp chất thơm có vòng đóng như: benzo - A - pyrine gây kích hoạt một số con đường dẫn truyền tín hiệu nội bào làm tăng tần suất đột biến ở gen TP53 và một số gen ức chế khối u khác. Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ ung thư của các loại tế bào theo những tỷ lệ khác nhau, ung thư tế bào vảy và tế bào nhỏ tăng gấp 5 - 20 lần, dạng tuyến và tế bào lớn tăng gấp 2 - 5 lần. Các yếu tố khác: Tiếp xúc với các chất phóng xạ ion hóa, các kim loại (arsenic, chrom, nikel.), amiang, sillic, radon. trong môi trường với thời gian dài có thể gây ung thư phổi và màng phổi.

Cơ chế bệnh sinh Ung thư phổi phát triển qua quá trình nhiều bước từ tế bào biểu mô phế quản bình thường dẫn đến loạn sản, rồi đến ung thư biểu mô tại chỗ, cuối cùng thành ung thư xâm nhập. Ở mức độ tế bào và phân tử cho thấy các tế bào ung thư có nhiều sự thay đổi cả về số lượng và cấu trúc nhiễm sắc thể không hồi phục là những chỉ điểm quan trọng của sự xuất hiện ung thư phổi. Một trong những thay đổi sớm nhất được xác định trong UTP là mất alen ở nhánh ngắn NST số 3. Cùng với bất thường NST là các bất thường về gen.

Trong ung thư phổi các bất thường về gen thường gặp là: khuếch đại, hoạt hóa gen ung thư (khuếch đại gen MYC, hoạt hóa gen RAS) và các đột biến dẫn đến bất hoạt và mất gen kháng u. Các bất thường này gây kích thích ung thư phổi phát triển và trốn thoát sự kiểm soát chết tế bào theo chương trình , ,. Trong những năm gần đây, nhờ kỹ thuật sinh học phân tử hiện đại hầu hết các biến đổi về gen đã được phát hiện, đó là sự biểu hiện quá mức các gen sinh khối u và đột biến bất hoạt của các gen ức chế khối u trong cơ chế bệnh sinh ung thư phổi không tế bào nhỏ. Bất thường di truyền học trong UTP, quan trọng đầu tiên được kể đến là họ gen sinh khối u RAS (H - ras, K - ras, N - ras).

Các gen này mã hóa cho một loại protein nằm ở mặt trong của màng TB, có hoạt tính GTPase tham gia con đường dẫn truyền tín hiệu nội bào. Những nghiên cứu cho thấy sự kích hoạt gen RAS sẽ thúc đẩy tiến triển của khối u phổi, đặc biệt ở phân nhóm ung thư phổi biểu mô tuyến trên BN hút thuốc lá ,. Đột biến TP53, một gen ức chế khối u ở người, biểu lộ quá mức trong khoảng 50% ung thư phổi bằng phương pháp hóa mô miễn dịch và thường thấy trong ung thư phổi tế bào vảy và ung thư phổi tế bào nhỏ. Các đột biến KRAS và TP53 gặp phổ biến ở những người ung thư phổi có hút thuốc cùng với những thay đổi về con đường tín hiệu kích thích tăng trưởng ,.

6 Biến đổi di truyền quan trọng khác trong bệnh ung thư phổi là đột biến gen EGFR, gây rối loạn trong con đường dẫn truyền tín hiệu thông qua thụ thể yếu tố phát triển biểu mô EGFR. Trong tế bào ung thư, hoạt tính tyrosine kinase của EGFR bị rối loạn bởi đột biến gen EGFR, tăng số lượng bản sao gen EGFR hoặc biểu hiện quá mức protein EGFR. Sự phosphoryl hóa KRAS, BRAF hoạt hóa các MEK thúc đẩy phân bào và làm tăng khả năng sống sót của TB ung thư , ,. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA UNG THƯ PHỔI 1.

Đặc điểm lâm sàng Các biểu hiện lâm sàng của UTP nói chung trong đó có UTP biểu mô tuyến thường rất khác nhau. Tại thời điểm chẩn đoán, đặc điểm lâm sàng phụ thuộc vào: vị trí khối u nguyên phát, di căn, mức độ xâm lấn vào hạch và các cấu trúc trong lồng ngực. Ở BN UTP biểu mô tuyến còn có một số đặc điểm: thường gặp nhiều ở nữ giới, người trẻ tuổi, không nghiện thuốc lá hoặc nghiện nhẹ. Các triệu chứng và hội chứng thường gặp là: * Triệu chứng về hô hấp + Bệnh nhân có biểu hiện ho khan, ho đờm kéo dài, hoặc ho ra máu với số lượng ít, lẫn đờm thành dạng dây máu màu đỏ hoặc hơi đen đôi khi chỉ khạc đơn thuần máu.

Theo Nguyễn Thị Lựu (2013) và Vũ Văn Thịnh (2014) nhận thấy triệu chứng ho gặp khoảng 45 - 75% bệnh nhân UTP biểu mô tuyến ,,. + Khó thở thường gặp với u ở trung tâm hoặc giai đoạn muộn khi khối u to, chèn ép gây bít tắc đường hô hấp, có thể do tràn dịch màng phổi, tràn dịch màng ngoài tim hoặc BN có bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính kèm theo.Theo Lê Hoàn (2010) và Vũ Văn Thịnh (2014) triệu chứng khó thở gặp khoảng 13 - 40,4% ,. Triệu chứng hô hấp thường phụ thuộc vào vị trí khối u ở trung tâm hay ngoại vi. Theo Nguyễn Việt Cồ và Đồng Khắc Hưng (2011) thì ho, khạc đờm và khái huyết gặp nhiều trong u trung tâm, trái lại đau ngực gặp nhiều trong u ngoại vi.

7 * Các hội chứng, triệu chứng do khối u chèn ép xâm lấn vào lồng ngực: + Đau ngực: kết quả các nghiên cứu cho thấy đây là triệu chứng thường gặp với tỷ lệ 53,1 - 64,2%. Đau ngực do khối u xâm lấn màng phổi, trung thất. thường gặp u ở ngoại vi, đau nửa lồng ngực có khối u khu trú ,. + Đau vai lan dọc cánh tay cùng bên và dị cảm vùng da chi phối bởi đốt sống cổ C7 và ngực L1 (hội chứng Pancoast - Tobias).

+ Chèn ép dây quặt ngược ở trung thất: khàn tiếng, mất tiếng hoặc giọng đôi. Gặp với tỷ lệ 10 - 11,3% ,. + Chèn ép dây thần kinh hoành gây nấc, khó thở do liệt cơ hoành (2- 3%). + Hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ trên: phù cổ mặt hoặc phù áo khoác, tĩnh mạch cổ nổi.

+ Hội chứng 3 giảm do tràn dịch màng phổi. + Triệu chứng chèn ép thực quản: Khó nuốt, nuốt đau. Nghiên cứu cho thấy triệu chứng do khối u chèn ép trong lồng ngực gặp khoảng 2,9 - 11,3% ,. * Nhóm triệu chứng hệ thống: Bao gồm các triệu chứng toàn thân và hội chứng cận u.

+ Triệu chứng toàn thân: biểu hiện gầy sút cân, chán ăn, sốt, thiếu máu đây là biểu hiện thường thấy của ung thư phổi với tỷ lệ 38,3 - 69,1% ,. + Hội chứng cận u: gồm những biểu hiện toàn thân không do di căn, xuất hiện ở các bệnh ác tính. Một số biểu hiện: phì đại xương khớp với viêm một hoặc nhiều khớp ngoại vi, ngón tay dùi trống, gặp khoảng 10% ung thư phổi biểu mô tuyến. * Nhóm triệu chứng di căn Ung thư phổi biểu mô tuyến là typ di căn và sớm vì thường u vùng ngoại vi, nằm trên nền mạch phổi, tỷ lệ di căn gặp từ 50 - 82%.

Ung thư có 8 thể di căn đến tất cả các cơ quan tổ chức của cơ thể. Có 5 cơ quan hay gặp di căn nhất là não, gan, phổi đối diện, xương và hạch bạch huyết .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu đột biến gen EGFR và mối liên quan lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân ung thư phổi biểu mô tuyến là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích đột biến gen EGFR, một yếu tố quan trọng trong chẩn đoán và điều trị ung thư phổi. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ mối liên hệ giữa đột biến gen với các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng mà còn cung cấp cái nhìn toàn diện về cách thức gen này ảnh hưởng đến tiến triển bệnh và hiệu quả điều trị. Đây là nguồn thông tin quý giá cho các bác sĩ, nhà nghiên cứu và bệnh nhân quan tâm đến ung thư phổi, giúp tối ưu hóa các phương pháp điều trị cá thể hóa.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến gen và bệnh lý, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối liên quan giữa resistin visfatin với một số nguy cơ tim mạch chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2, khám phá mối liên hệ giữa các yếu tố gen và bệnh chuyển hóa. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu điều trị ung thư vú giai đoạn di căn bằng hóa trị phối hợp anthracycline và taxane watermark cung cấp thêm góc nhìn về điều trị ung thư dựa trên cơ chế phân tử. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ công nghệ sinh học xác định genotype HPV ở phụ nữ là tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về ứng dụng công nghệ gen trong chẩn đoán bệnh. Mỗi liên kết là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các chủ đề liên quan, từ đó nâng cao hiểu biết và ứng dụng trong thực tiễn.