mở đầu TERT cũng thường gặp tương tự như trong các biến thể tiến triển nhanh khác. Biến thể nang Loại biến thể này chỉ gồm hay hầu như chỉ gồm cấu trúc dạng nang [124]. Có hai dưới nhóm chính là thâm nhiễm và có vỏ bao với hình ảnh xâm nhập. Trong loại thâm nhiễm, biến thể này có các đặc điểm nhân của PTC, phát triển dạng xâm nhiễm lan rộng vào nhu mô xung quanh, hầu hết u xơ hoá.
Loại u này có khả năng di căn và nguy cơ tái phát cao hơn loại không thâm nhiễm, và tiến triển tương tự như PTC quy ước. Nhìn chung, loại thâm nhiễm có tần suất ETE, di căn hạch cao hơn và thường có đột biến BRAF hơn là đột biến RAS. Trong loại có vỏ bao, u có xâm nhập vào nhu mô xung quanh, có thể có vỏ bao hoàn toàn hay một phần với hình thái tế bào học tương tự nhưng tiến triển sinh học lại hoàn toàn khác so với loại thâm nhiễm. Loại này có tiên lượng tốt hơn so với loại thâm nhiễm.
Biến thể hobnail Đây là biến thể hiếm gặp được định nghĩa chứa > 30% tế bào có đặc điểm hobnail[124]. U biểu hiện các cấu trúc nhú và vi nhú phức tạp được phủ bởi tế bào nang tuyến bào tương ưa eosin và nhân nằm ở cực đỉnh với hạt nhân rõ, tỉ lệ nhân trên bào tương giảm và mất kết dính tế bào. Thể cát có thể thấy nhưng không nhiều. Hoại tử, phân bào (gồm cả phân bào bất thường), xâm nhập mạch lympho, lan rộng ngoài tuyến giáp thường gặp.
Tái phát, di căn hạch và di căn xa cũng thường gặp. Tế bào u có biểu hiện hoá mô miễn dịch giống với PTC quy ước: dương tính với TTF1 và dương tính thay đổi với thyroglobulin, > 25% tế bào u dương tính với p53. Tế bào u có chỉ số phát triển Ki67 khoảng 10%. Đột biến BRAF V600E là thay đổi về gen thường gặp nhất của biến thể này, kế tiếp là các đột biến mất TP53.
Các biến thể khác Biến thể có vỏ bao có cấu trúc và biến đổi nhân của PTC điển hình và được bao hoàn toàn bởi bao sợi hoặc có thâm nhiễm ra ngoài vỏ bao một phần[124]. Biến thể có vỏ bao chiếm khoảng 10% các ca PTC. PTC có vỏ bao có tiên lượng rất tốt, tuy có thể di căn hạch vùng nhưng hiếm khi di căn máu và tỉ lệ sống gần 100%. Chẩn đoán phân biệt chính là u túi tuyến giáp với tăng sản dạng nhú và không có biến đổi nhân của PTC.
Biến thể xơ hoá lan toả ít gặp, xuất hiện thường hơn ở phụ nữ, hầu hết trong độ tuổi 20-30 [124]. Toàn bộ tuyến giáp hay một thuỳ giáp có đặc điểm xơ hoá lan toả, nhiều thể cát, và nền viêm giáp lympho bào. Các ổ tế bào u dạng đặc, thường có chuyển sản gai. Các tế bào u có xu hướng xâm nhập mạch lympho trong tuyến giáp và xâm nhập ra ngoài tuyến giáp.
Tái sắp xếp RET/PTC cũng thường gặp, nhưng đột biến BRAF lại hiếm gặp. So với PTC quy ước, biến thể xơ hoá lan toả liên quan với tỉ lệ lan rộng ngoài tuyến giáp cao hơn; di căn hạch cổ (một bên hay hai bên) nhiều hơn và di căn xa nhiều hơn (khoảng 10-15% các ca) và thường đến phổi. Biến thể này liên quan với thời gian sống không bệnh ngắn hơn. Tuy nhiên, tỉ lệ tử vong tương đương so với PTC quy ước với tỉ lệ sống không bệnh 10 năm là 93%, có thể là do biến thể này thường xảy ra ở người trẻ.
Biến thể tế bào cột hiếm gặp gồm các tế bào hình cột xếp dạng giả tầng[124]. Khác với biến thể tế bào cao, các tế bào u không có đặc điểm nhân của PTC quy ước. Biến thể này là tân sinh giàu tế bào với nhú mảnh hay tạo các cấu trúc giống tuyến lót bởi biểu mô giả tầng, cũng có thể thấy trên phết tế bào. Các tế bào u thỉnh thoảng có không bào dưới nhân hay thậm chí bào tương sáng giả giống như carcinôm tuyến của ruột hay dạng nội mạc.
Một số tác giả cho rằng nên xếp biến thể biến thể sàng – dâu thành một nhóm riêng biệt trong carcinôm tuyến giáp [124]. Nó có thể xảy ra tự phát hay liên quan với hội chứng đa polyp gia đình và hầu như chỉ xảy ra ở nữ. Các ca tự phát thường đặc, trong khi các ca liên quan đến hội chứng đa polyp gia đình thường nhiều ổ. U thường có vỏ bao, hỗn hợp cấu trúc sàng, nang, nhú, bè và đặc với các cấu trúc tròn.
dạng gai được gọi là quả dâu. Xâm nhập vỏ bao hay mạch máu thường thấy. Cấu trúc nhú được phủ bởi các tế bào cột, và không có keo giáp trong lòng. Nhân không sáng nhưng nhiều khía và giả thể vùi.
Các cấu trúc quả dâu có các nhân sáng thấu quang khác với PTC quy ước nhưng tương tự với các u có cấu trúc quả dâu ở các vị trí khác. Trong các trường hợp hiếm gặp, chất nền của PTC nhiều và giàu tế bào nhìn giống viêm gân dạng nốt, bệnh sợi hoặc các biến đổi nguyên bào sợi cơ khác [124]. PTC quy ước cũng thường hay có các ổ đặc hay dạng bè vì vậy thuật ngữ “biến thể đặc/bè” chỉ nên được dùng khi toàn bộ hoặc gần toàn bộ u có dạng đặc, bè hoặc ổ và không có đặc điểm xếp vào các biến thể khác [124]. Biến thể này hay gặp ở trẻ em, đặc biệt là những bệnh nhân trẻ có tiền căn tiếp xúc tia xạ, chỉ chiếm khoảng 1- 3% PTC ở người lớn.
U thường di căn phổi và có tỉ lệ tự vong cao hơn ở người lớn. Biến thể này thường liên quan với tổ hợp gen RET/PTC3 ở trẻ em và những ca liên quan tiếp xúc tia xạ, nhưng không thấy trong các trường hợp ở người lớn. Một vài nghiên cứu chỉ ra rằng PTC dạng đặc ở người lớn tiến triển hơi nhanh hơn so với PTC quy ước; tuy nhiên, các nghiên cứu khác lại không thấy được tiến triển nhanh của loại u này. Biến thể phồng bào nếu ở dạng đơn thuần cực kỳ hiếm gặp [124].
Biến thể này cần phải chẩn đoán phân biệt với biến thể tế bào cao. Thỉnh thoảng, PTC có những vùng chuyển sản tế bào hình thoi [124]. Các vùng này có thể chiếm từ < 5% đến > 95% u. Các tế bào hình thoi không đi kèm với xuất huyết hay hemosiderin, và những vùng này không có dạng bản đồ, giúp phân biệt biến thể này với các thay đổi phản ứng sau chọc hút bằng kim nhỏ.
Các đặc điểm phân biệt giữa biến thể tế bào hình thoi của PTC với carcinôm thoái sản gồm các tế bào hình thoi trong biến thể này khá hiền lành và không có hoại tử cũng như phân bào. Biến thể tế bào sáng cực kỳ hiếm gặp và thường kết hợp với biến đổi kiểu phồng bào của các tế bào u [124]. Biến thể này phải chẩn đoán phân biệt với carcinôm tuỷ dạng tế bào sáng, tăng sinh tuyến cận giáp trong tuyến giáp, và carcinôm tế bào thận di căn. Các dấu ấn hoá mô miễn dịch hữu ích gồm TTF1 và các dấu ấn thần kinh.
nội tiết như chromogranin and synaptophysin cũng như EMA và kháng nguyên carcinôm tế bào thận. Biến thể giống Warthin thường giới hạn rõ và hiếm khi nào có bỏ bao, có các đặc điểm mô học giống với u Warthin ở tuyến nước bọt [124]. Các tế bào u có bào tương nhiều, ưa eosin phủ trên cấu trúc nhú với lõi chứa chủ yếu lympho bào tương bào. Mô tuyến giáp còn lại thường có viêm giáp mạn lympho bào (viêm giáp Hashimoto); điều này có thể làm bỏ qua u khi quan sát trên vi thể.
Một vài u có thoái hoá bọc. Kiểu hình này cũng có thể thấy trên các hạch di căn. Tiên lượng của loại biến thể này tương tự với PTC quy ước có cùng kích thước và giai đoạn.1: (A) Mô bệnh học quy ước với cấu trúc nhú và nhân điển hình của PTC (B) Biến thể tế bào cao thường có cấu trúc dạng bè, tế bào u có chiều cao gấp 2-3 lần chiều rộng (Nguồn: “Head Iowa, Neck Protocols.2: (A) Biến thể nang, mô u gồm chủ yếu là cấu trúc dạng nang (B) Biến thể tế bào hobnail có nhân tế bào nằm ở cực đỉnh, dạng đầu đinh (Nguồn: “Head Iowa, Neck Protocols. Stapedectomy, 2020) [56], [56], (Nguồn:“Ambrosi F et al (2017), "Hobnail variant of papillary thyroid carcinoma: a literature review".
Endocrine pathology, 28 (4), pp.3: (A) Biến thể xơ hoá lan toả (B) Vùng chuyển sản tế bào hình thoi [27], (Nguồn: “Ma X et al.(2015), "Primary thyroid spindle cell tumors: spindle cell variant of papillary thyroid carcinoma?". International journal of clinical and experimental pathology, 8 (10)”) [104] A B C D Hình 1.4: Biến thể tế bào cột, tế bào u xếp dạng giả tầng, nhân tăng sắc (A), (B) bào tương ưa eosin hoặc (C) sáng, có không bào dưới nhân (D) có thể có cấu trúc dạng đặc (Nguồn: “Chen JH et al. (2011), "Clinicopathological and molecular characterization of nine cases of columnar cell variant of papillary thyroid carcinoma".5: (A) Biến thể tế bào sáng (B) Biến thể giống Warthin (Nguồn:“Arrangoiz R et al. (2021), "Current Understanding of Papillary Thyroid Carcinoma".
International Journal of Otolaryngology and Head & Neck Surgery, 10 (3)”) [16].6: Biến thể sàng – quả dâu gồm (A) cấu trúc sàng và (B) nhú, bè hay đặc, tạo nhiều cấu trúc quả dâu (Nguồn:“Cameselle-Teijeiro JM et al. (2018), "Cribriform-morular variant of thyroid carcinoma: a neoplasm with distinctive phenotype associated with the activation of the WNT/β-catenin pathway".7: Xâm nhập tuyến giáp trên vi thể, các tế bào u xen vào các bó cơ vân (Nguồn: “Mete O et al. (2010), "Controversies in thyroid pathology: thyroid capsule invasion and extrathyroidal extension". Annals of surgical oncology, 17 (2)”) [107].
Giá trị tiên lượng của mô bệnh học Một số biến thể mô học có tiên lượng xấu hơn trong khi số khác lại có tiên lượng tốt với khả năng tái phát thấp. Cụ thể là biến thể tế bào cao có khả năng tái phát cao hơn và tăng tử vong liên quan đến u [58]. Một số nghiên cứu cho thấy tiên lượng xấu của biến thể này liên quan với tuổi già hơn và giai đoạn u trễ hơn lúc chẩn đoán. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu khác cũng chỉ ra sự gia tăng đáng kể khả năng di căn hạch và di căn xa và giảm thời gian sống 5 năm của biến thể này.
Loại u này dễ xảy ra hồi biệt hoá. Biến thể tế bào cao thường là thành phần biệt hoá tốt trong các carcinôm không biệt hoá hay biệt hoá kém của tuyến giáp. Điều này cũng góp phân giải thích tại sao biến thể này lại có thời gian sống ngắn hơn.