Chương 1. - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CÁC CHỈ SỐ HÌNH THÁI Thể chất là một chỉ tiêu dùng để đánh giá sức khoẻ, tầm vóc, sự tăng trưởng, phát triển và khả năng học tập, lao động của con người. Để đánh giá sự phát triển thể chất, người ta thường dùng các chỉ số về hình thái như chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu.
Trong đó, ba chỉ số cơ bản là chiều cao đứng, cân nặng và vòng ngực đóng vai trò quan trọng nhất. Từ các chỉ số này, người ta có thể suy ra các chỉ số tổng hợp khác như chỉ số pignet, BMI. Chiều cao đứng Chiều cao thể hiện trung thành tình trạng dinh dưỡng của trẻ, tuy biến đổi chậm nhưng chắc chắn và không bao giờ giảm đi như cân nặng. Chiều cao của cơ thể là dấu hiệu được nhận xét sớm nhất trong hầu hết các lĩnh vực ứng dụng của nhân trắc học.
Chiều cao của mỗi người được quyết định bởi đặc điểm di truyền, giới tính và chịu ảnh hưởng nhất định của điều kiện sống. Ở trẻ em lứa tuổi mầm non, chiều cao phát triển rất nhanh, nhất là trong những năm đầu. Từ lúc mới sinh cho tới 6 tuổi, chiều cao trung bình mỗi năm tăng 9,53cm, trong năm đầu tiên chiều cao của trẻ tăng nhanh nhất khoảng 23 -25cm, từ 1 đến 3 tuổi, tăng trung bình 7cm/năm, từ 3 đến 6 tuổi tăng trung bình 6 cm/năm [32]. Để theo dõi sự tăng trưởng về chiều cao ở trẻ em, có thể áp dụng công thức tính gần đúng chiều cao trung bình cho trẻ em trên một tuổi.
75: Chiều cao trung bình của trẻ 1 tuổi. 5: Chiều cao tăng trung bình/năm. 5 Chiều cao theo tháng tuổi (được theo dõi bằng biểu đồ chiều cao hoặc đánh giá theo bảng chiều cao) – Chiều cao nằm trong khoảng trung bình trở lên là phát triển bình thường – Chiều cao nằm trong khoảng trung bình trở xuống là do trẻ bị suy dinh dưỡng kéo dài. Cân nặng So với chiều cao, cân nặng của cơ thể ít phụ thuộc vào yếu tố di truyền hơn mà có liên quan chủ yếu tới điều kiện dinh dưỡng.
Thông thường ở cùng một lứa tuổi, những trẻ em cao hơn thường nặng cân hơn. Trong vòng ba năm đầu, khối lượng cơ thể của các em tăng rất nhanh. Từ 3 đến 5 tuổi, khối lượng cơ thể của các em tăng chậm hơn, tăng trung bình 1,5 kg/năm, nhưng tốc độ tăng tương đối đồng đều [32]. Cân nặng của trẻ em trên một tuổi có thể tính gần đúng như sau: X (kg) = 9 + 1,5 (n - 1) hay X = 9,5 + 2(n -1) Trong đó: X: Cân nặng của trẻ trên một tuổi (kg).
9: Cân nặng của trẻ lúc một tuổi (kg) n: Số tuối của trẻ (năm). Cân nặng theo tháng tuổi (được theo dõi bằng biểu đồ tăng trưởng),sau mỗi lần cân, biểu diễn kết quả lên biểu đồ một điểm tương ứng với số cân và số tháng tuổi của trẻ, nối các điểm biểu diễn đó với nhau, ta sẽ được đường biểu diễn về sự phát triển cân nặng. Dựa vào vị trí, chiều hướng của điểm và đường biểu diễn trên biểu đồ (nằm trong kênh nào) để đưa ra nhận xét, đánh giá về tình trạng dinh dưỡng và phát triển của trẻ. - Dựa vào vị trí điểm và đường biểu dưỡng trên các kênh ta có: Nằm ở kênh màu xanh (từ -2SD đến +2SD) là bình thường.
Nằm ở kênh màu cam (từ -2SD đến -3SD) là SDD vừa (SDD độ I). Nằm ở kênh màu đỏ (< -3SD) là SDD nặng (SDD độ II). 6 Nếu nằm ở kênh màu vàng: từ +2SD đến +3SD là thừa cân, > +3SD là béo phì. - Dựa vào chiều hướng của đường biểu diễn: Đường biểu diễn có hướng đi lên là phát triển bình thường.
Đường biểu diễn nằm ngang là đe dọa, nghĩa là không phát triển. Đường biểu diễn đi xuống là nguy hiểm. Khi đường biểu diễn nằm ngang hoặc đi xuống liên tục 2 tháng trở lên thì cần tìm nguyên nhân và phối hợp với gia đình để có biện pháp can thiệp sớm, kịp thời nhằm chăm sóc, phòng chống suy dinh dưỡng. Khi cân nặng của trẻ nằm ở kênh màu vàng và tốc độ tăng cân nhanh, cần theo dõi và có chế độ ăn uống hợp lí kết hợp với vận động phù hợp để tránh thừa cân, béo phì.
Các nghiên cứu về chỉ số hình thái của trẻ em 1. Các nghiên cứu về chỉ số hình thái của trẻ em trên thế giới Từ thế kỷ thứ XIII, Tenon đã coi cân nặng là một chỉ số quan trọng để đánh giá thể lực. Mối quan hệ giữa hình thái với môi trường sống cũng đã được nghiên cứu tương đối sớm mà đại diện là các nhà nhân trắc học Ludman, Nold và Volanski. Rudolf Martin là người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại qua hai tài liệu “Giáo trình nhân trắc học” và “Kim chỉ nam đo đạc cơ thể và xử lí thống kê”.
Trong các công trình này ông đã đưa đề xuất một số phương pháp và dụng cụ đo đạc các kích thước của cơ thể cho đến nay vẫn được sử dụng. Sau Rudolf Martin đã có nhiều công trình bổ sung và hoàn thiện thêm các đề xuất của ông cho phù hợp với từng nước. Vấn đề nhân trắc học còn được thể hiện qua công trình của P.Baskirov - “Nhân trắc học”, Evan Dervael - “Nhân trắc học” công trình của Burak, A. Song với sự phát triển của bộ môn di truyền sinh lí 7 học, toán học,.
việc nghiên cứu nhân trắc học ngày càng hoàn chỉnh và đa dạng hơn. Nghiên cứu cắt ngang là một phương pháp cứu sự tăng trưởng về hình thái, sự tăng trưởng của cơ thể và các đại lượng có thể đo lường được bằng kĩ thuật nhân trắc tại một thời điểm. Công trình đầu tiên trên thế giới áp dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang là luận án tiến sĩ của Christian Fridrich Jumpert người Đức vào năm 1754. Nghiên cứu dọc cũng là một phương pháp được sử dụng để nghiên cứu sự tăng trưởng các chỉ số hình thái của cơ thể, người đầu tiên sử dụng phương pháp nghiên cứu dọc là Philitbert Gueneaude Montbeilard thực hiện trên con trai mình từ năm 1959 - 1977.
Đây là 2 phương pháp nghiên cứu sự phát triển hình thái cơ thể được ứng dụng cho đến ngày nay. Năm 1977, hiệp hội các nhà tăng trưởng học đã được thành lập đánh dấu một bước phát triển mới của việc nghiên cứu vấn đề này trên thế giới. Các nghiên cứu về chỉ số hình thái của trẻ em ở Việt Nam Ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu đầu tiên về thể lực con người là của Mondiere (1875), Huard, Bogot (1938) và Đỗ Xuân Hợp (1943) [30]. Sau năm 1954, đã có nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu các đặc điểm hình thái, giải phẫu, sinh lý của người Việt Nam.
Năm 1975, cuốn “Hằng số sinh học của người Việt Nam” do Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ biên được xuất bản. Đây là một công trình khá hoàn chỉnh về các chỉ số sinh học, sinh lý, sinh hóa của người Việt Nam. Năm 1976 - 1989, Vũ Thị Chín nghiên cứu về các chỉ số phát triển sinh lý, tâm lý của trẻ em từ 0 đến 3 tuổi và đã xây dựng được biểu đồ phát triển về chiều cao, cân nặng của trẻ. Năm 1989, Thẩm Thị Hoàng Điệp và Cs đã nghiên cứu chiều cao, vòng đầu, vòng ngực, chỉ số dài chi dưới.
trên 8000 người Việt Nam từ 1 đến 55 8 tuổi ở ba miền Bắc - Trung – Nam. Các tác giả nhận thấy có quy luật gia tăng về chiều cao của người Việt Nam, tăng 4 cm/20 năm. Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng đã tiến hành nghiên cứu 17 chỉ số hình thái của người Việt Nam từ 1 - 25 tuổi ở Nghệ Tĩnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các chỉ số về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu.
của cư dân Nghệ Tĩnh phần lớn thấp hơn so với các chỉ số này của dân cư vùng đồng bằng Bắc Bộ. Tác giả còn nhận thấy, có sự khác biệt về các chỉ số hình thái thể lực theo giới tính. Theo tác giả, điều kiện sống đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển các chỉ số hình thái của con người. Trong hai năm 1995 - 1996, Hàn Nguyệt Kim Chi và Cs nghiên cứu trên 10339 trẻ em từ 1 - 36 tháng tuổi và 11985 trẻ em từ 37 - 72 tháng tuổi tại Hà Nội, Hà Tây, Hà Bắc, Ninh Bình, Nam Hà.
Kết quả cho thấy từ 5 đến 72 tháng tuổi, mức tăng chiều cao nhanh hơn so với mức tăng cân nặng [17]. Trần Văn Dần và cộng sự (1996), “Các chỉ tiêu hình thái ở trẻ em lứa tuổi học sinh”, kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam, NXB Y học, Hà Nội. Từ năm 1998 - 2002, Trần Thị Loan nghiên cứu trên trẻ em Hà Nội từ 6 - 17 tuổi cho thấy, các chỉ số chiều cao, cân nặng của trẻ em lớn hơn so với các kết quả nghiên cứu của các tác giả từ những thập kỷ 80 trở về trước và so với trẻ em Thái Bình, Hà Tây cùng thời điểm nghiên cứu [34]. Điều này chứng tỏ, điều kiện sống đã có ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển các chỉ số hình thái của trẻ em.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về các chỉ số thể lực trên người Việt Nam đã ít nhiều có sự khác nhau nhưng cùng xác định được hình thái của con người phụ thuộc vào điều kiện sống, địa bàn nghiên cứu, thời gian nghiên cứu,. và có sự biến đổi theo lứa tuổi, theo giới tính. TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA TRẺ EM 1. Suy dinh dưỡng 1.
Định nghĩa Suy dinh dưỡng là tình trạng thiếu hụt các chất dinh dưỡng cần thiết làm ảnh hưởng đến quá trình sống, hoạt động và tăng trưởng bình thường của cơ thể. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi Có rất nhiều yếu tố có liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi, trong đó lương thực, thực phẩm; sức khoẻ và chăm sóc là 3 thành tố thiết yếu trong chiến lược phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em. Từ nhiều yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ có thể chia thành 3 nhóm nguyên nhân sau. Nhóm nguyên nhân trực tiếp: Là nói đến nguồn cung cấp năng lượng và các vi chất dinh dưỡng thiết yếu cho cơ thể mà chủ yếu là nói đến chế độ ăn uống đầy đủ và hợp lý.
Các số liệu điều tra riêng về khẩu phần ăn của người lớn và trẻ em cho thấy chế độ ăn đóng vai trò quan trọng dẫn tới tình trạng suy dinh dưỡng ở Việt Nam.