Luận án tiến sĩ nghiên cứu điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn iiib iv bằng hóa trị phác đồ cisplatin kết hợp với paclitaxel hoặc etoposide

Chuyên khảo điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn iiib-iv bằng hóa trị phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Ung thư

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2018

193
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tình hình mắc bệnh và tử vong của ung thư phổi

1.2. Trên thế giới

1.3. Tại Việt Nam

1.4. Chẩn đoán ung thư phổi

1.5. Các phương pháp cận lâm sàng

1.6. Chẩn đoán xác định ung thư phổi

1.7. Chẩn đoán giai đoạn ung thư phổi

1.8. Điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ

1.9. Các phương pháp điều trị

1.10. Điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ theo giai đoạn

1.11. Điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IV

1.12. Có đột biến gen

1.13. Không có đột biến gen nhưng có receceptor PD - 1 và PD - L1 dương tính

1.14. Không có đột biến gen

1.15. Điều trị duy trì và bước 2, 3

1.16. Lịch sử hóa trị ung thư phổi giai đoạn IIIB, IV trên thế giới

1.17. Hóa trị ung thư phổi giai đoạn IIIB, IV tại Việt Nam

1.18. Thuốc sử dụng trong nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.5. Thiết kế nghiên cứu: Sử dụng mô hình nghiên cứu hồi cứu và tiến cứu, can thiệp mô tả có đối chứng, theo dõi dọc

2.6. Phương tiện nghiên cứu

2.7. Các tiêu chí đánh giá cho các mục tiêu nghiên cứu

2.8. Phân tích và xử lý số liệu

2.9. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm bệnh nhân hai nhóm nghiên cứu

3.2. Tiền sử hút thuốc lá, thuốc lào

3.3. Tiền sử mắc các bệnh nội khoa

3.4. Tiền sử gia đình

3.5. Thời gian khởi phát bệnh

3.6. Triệu chứng khởi phát

3.7. Triệu chứng, hội chứng lâm sàng

3.8. Chỉ số toàn trạng và chỉ số khối cơ thể

3.9. Vị trí tổn thương phổi

3.10. Vị trí di căn

3.11. Mô bệnh học

3.12. Kết quả điều trị

3.13. Đặc điểm phương pháp điều trị

3.14. Đáp ứng điều trị

3.15. Sống thêm không tiến triển

3.16. Sống thêm toàn bộ

3.17. Tác dụng phụ không mong muốn

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm bệnh nhân hai nhóm nghiên cứu

4.2. Tuổi và giới

4.3. Tình trạng hút thuốc lá

4.4. Tiền sử mắc các bệnh lý nội khoa

4.5. Tiền sử gia đình

4.6. Thời gian khởi phát bệnh

4.7. Triệu chứng khởi phát

4.8. Triệu chứng lâm sàng

4.9. Tổn thương di căn

4.10. Giai đoạn và mô bệnh học

4.11. Kết quả đáp ứng điều trị

4.12. Thời gian sống thêm không tiến triển bệnh

4.13. Thời gian sống thêm toàn bộ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IIIB IV

Ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) là loại ung thư phổi phổ biến nhất, chiếm khoảng 85% các trường hợp. Giai đoạn IIIB-IV là giai đoạn muộn, khi bệnh đã di căn xa, tiên lượng sống thường kém. Hóa trị kết hợp cisplatin là phương pháp điều trị chính, đặc biệt khi không có chỉ định phẫu thuật hoặc xạ trị triệt căn. Phác đồ hóa trị sử dụng cisplatin kết hợp với các thuốc như paclitaxel hoặc etoposide đã được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới và tại Việt Nam. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả và tác dụng phụ của các phác đồ này trên bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn IIIB-IV.

1.1. Tình hình mắc bệnh và tử vong

Ung thư phổi là nguyên nhân tử vong hàng đầu do ung thư trên toàn cầu. Theo thống kê năm 2012, có 1,8 triệu ca mắc mới và 1,6 triệu ca tử vong. Tại Việt Nam, UTPKTBN chiếm tỷ lệ cao, đặc biệt ở nam giới, với tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 41,1/100.000. Giai đoạn muộn của bệnh thường có tiên lượng xấu, tỷ lệ sống thêm 5 năm chỉ khoảng 18%. Hóa trị là phương pháp điều trị chính, đặc biệt khi bệnh đã di căn xa.

1.2. Phương pháp điều trị UTPKTBN giai đoạn IIIB IV

Điều trị ung thư phổi giai đoạn muộn bao gồm hóa trị, điều trị đích, và liệu pháp miễn dịch. Cisplatin là thuốc hóa trị phổ biến, thường kết hợp với các thuốc như paclitaxel hoặc etoposide. Phác đồ hóa trị này được sử dụng rộng rãi do hiệu quả kéo dài thời gian sống thêm và tỷ lệ đáp ứng cao. Tuy nhiên, tác dụng phụ của cisplatin như độc tính thận và giảm bạch cầu cần được theo dõi chặt chẽ.

II. Nghiên cứu lâm sàng về hóa trị kết hợp cisplatin

Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá hiệu quả điều trịtác dụng phụ của hai phác đồ hóa trị: cisplatin kết hợp paclitaxelcisplatin kết hợp etoposide trên bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn IIIB-IV. Kết quả cho thấy cả hai phác đồ đều có hiệu quả trong việc kéo dài thời gian sống thêm không tiến triển (PFS)thời gian sống thêm toàn bộ (OS). Tuy nhiên, phác đồ cisplatin-paclitaxel có tỷ lệ đáp ứng cao hơn và ít tác dụng phụ hơn so với phác đồ cisplatin-etoposide.

2.1. Đặc điểm bệnh nhân và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên 120 bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn IIIB-IV tại Bệnh viện K từ năm 2009 đến 2013. Bệnh nhân được chia thành hai nhóm: nhóm 1 điều trị bằng phác đồ cisplatin-paclitaxel và nhóm 2 điều trị bằng phác đồ cisplatin-etoposide. Các tiêu chí đánh giá bao gồm tỷ lệ đáp ứng, thời gian sống thêm không tiến triển, và tác dụng phụ của hai phác đồ.

2.2. Kết quả điều trị

Kết quả cho thấy tỷ lệ đáp ứng của nhóm cisplatin-paclitaxel là 45%, cao hơn so với nhóm cisplatin-etoposide (35%). Thời gian sống thêm không tiến triển trung bình của nhóm cisplatin-paclitaxel là 6,5 tháng, trong khi nhóm cisplatin-etoposide là 5,8 tháng. Thời gian sống thêm toàn bộ của nhóm cisplatin-paclitaxel là 12,3 tháng, so với 10,7 tháng của nhóm cisplatin-etoposide. Tác dụng phụ như giảm bạch cầu và độc tính thận cũng ít hơn ở nhóm cisplatin-paclitaxel.

III. Bàn luận và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu này khẳng định hiệu quả điều trị của phác đồ cisplatin-paclitaxel trong việc kéo dài thời gian sống thêm và giảm tác dụng phụ so với phác đồ cisplatin-etoposide. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn phác đồ hóa trị phù hợp cho bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn IIIB-IV tại Việt Nam. Phác đồ hóa trị này cũng phù hợp với điều kiện kinh tế và khả năng tiếp cận điều trị của bệnh nhân.

3.1. Ý nghĩa lâm sàng

Kết quả nghiên cứu cho thấy phác đồ cisplatin-paclitaxel là lựa chọn tối ưu cho bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn IIIB-IV, đặc biệt ở những bệnh nhân có thể trạng yếu hoặc không thể tiếp cận các phương pháp điều trị đắt tiền như liệu pháp đích hoặc liệu pháp miễn dịch. Hiệu quả điều trịgiảm tác dụng phụ của phác đồ này giúp cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân.

3.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần có thêm các nghiên cứu so sánh phác đồ cisplatin-paclitaxel với các phác đồ hóa trị khác, cũng như nghiên cứu về liệu pháp đíchliệu pháp miễn dịch trong điều trị UTPKTBN giai đoạn muộn. Điều này sẽ giúp tối ưu hóa phác đồ điều trị và nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn iiib iv bằng hóa trị phác đồ cisplatin kết hợp với paclitaxel hoặc etoposide

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Tình hình mắc bệnh và tử vong của ung thư phổi 1. Trên thế giới Ung thư phổi là ung thư phổ biến nhất trên thế giới trong các thập niên vừa qua. Theo ghi nhận của Globocan, năm 2012, ước đoán số ca mới mắc trên toàn thế giới là 1,8 triệu ca chiếm 12,9% tổng số ca mắc do ung thư, 58% bệnh xuất hiện tại những nước kém phát triển [2],[13],[14].

Tỷ lệ mới mắc chuẩn theo tuổi cao nhất ở Trung và Đông Âu 53,5/100.000 và Đông Á là 50,4/100. Tỷ lệ thấp được ghi nhận ở Trung và Tây Phi (2,0 và 1,7/100. Đây cũng là bệnh phổ biến nhất ở nam giới (1,2 triệu ca, chiếm 16,7% tổng số các ca ung thư). Ở phụ nữ, tỷ lệ mắc nhìn chung thấp hơn nam giới và có sự khác biệt ít về vùng địa lý, chủ yếu do yếu tố phơi nhiễm với khói thuốc lá.

Tuy vậy, tỷ lệ mới mắc cao nhất ở Bắc Mỹ 33,8/100.000 và Bắc Âu 23,7/100. Tỷ lệ tương đối cao gặp ở Đông Á (19,2/100.000) và tỷ lệ thấp nhất gặp Tây và Trung Phi (1,1/100. Ung thư phổi là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do các bệnh ung thư trên thế giới [16]. Cũng theo báo cáo Globocan, năm 2012 có 1,59 triệu ca tử vong do ung thư phổi trên toàn cầu chiếm 19,4% tổng số ca tử vong do ung thư [2].

Ở Mỹ, năm 2017, ước tính có 225,500 ca mới mắc (116,990 nam giới và 105,510 nữ giới) và 155.870 ca tử vong (84.590 nam giới và 71. Theo thống kê của SEER (Chương trình theo dõi, dịch tễ và kết quả của Viện Ung thư Quốc gia Hoa kỳ) thì chỉ 18% bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phổi sống quá 5 năm [3]. Tại Việt Nam Tại Việt Nam theo ghi nhận ung thư giai đoạn 2001 - 2004, tỷ lệ mới mắc chuẩn theo tuổi ở nam giới tại Hà Nội là 40,2/100.000 và ở nữ giới là 10,6/100. Giai đoạn 2004 - 2008, tỷ lệ này ở nam là 39,9/100.000 và nữ là 13,2/100.

Ung thư phổi ngày càng tăng, năm 2012, theo ghi nhận của Globocan, ở Việt Nam, ung thư phổi là bệnh đứng đầu cho cả hai giới. Tổng số bệnh nhân mắc mới 125.000 ca (nam giới chiếm 70.6000 ca và nữ giới chiếm 54.500 ca), tử vong 97. Ung thư phổi mắc hàng thứ nhất đối với nam giới, tỷ lệ mới mắc chuẩn theo tuổi là 41,1/100.000 và xếp thứ hai đối với nữ giới sau ung thư vú với tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 12,2/100. Tỷ lệ mới mắc ung thư phổi tăng dần theo tuổi.

Tuổi thường gặp từ 40 - 79 tuổi, nhóm tuổi mắc cao nhất 50 - 69 tuổi chiếm tỷ lệ hơn 50% [17],[18],[19]. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ 1. Hút thuốc lá Là nguyên nhân quan trọng nhất gây ung thư phổi, ước đoán 90% bệnh nhân bị ung thư phổi nguyên nhân do hút thuốc lá. Nguy cơ phát triển thành ung thư phổi ở người hút thuốc lá 1 bao/ ngày trong 40 năm cao gấp 20 lần người không hút thuốc lá.

Yếu tố này làm tăng nguy cơ ung thư phổi nếu kéo dài thời gian hút thuốc và kết hợp với những yếu tố nguy cơ khác như yếu tố gen sinh ung thư, asbetose [21]. Các yếu tố nguy cơ khác Điều trị tia xạ Xạ trị có thể làm tăng nguy cơ ung thư phổi thứ phát trên bệnh nhân đã được điều trị bệnh ung thư khác. Nguy cơ tăng này gặp trong một số bệnh như u lympho ác tính Hodgkin và ung thư vú. 5 Lorigan P và cộng sự đã có một báo cáo hệ thống về các nghiên cứu biến chứng kéo dài sau điều trị của u lympho ác tính Hodgkin xuất bản tại Anh từ năm 1985.

Những nghiên cứu này đã chỉ ra tăng nguy cơ ung thư phổi có ý nghĩa ở những bệnh nhân được điều trị bệnh u lympho ác tính Hodgkin với chỉ số nguy cơ tương đối 2,6 - 7.0 và nguy cơ này có thể tăng chậm sau 20-25 năm. Cả hóa trị và xạ trị đều góp phần làm tăng nguy cơ, không những thế còn cộng hưởng khi phối hợp hai phương pháp điều trị này với nhau. Trong một nghiên cứu thuần tập quan sát trên 7408 bệnh nhân ung thư vú trong đó 5695 bệnh nhân xạ trị và 1713 bệnh nhân không xạ trị. Nhóm bệnh nhân xạ trị có 2,25% bệnh nhân có ung thư phổi và nhóm không xạ trị có 0,23% phát triển ung thư phổi.

Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê [22]. Các chất độc từ môi trường Các yếu tố từ môi trường bao gồm phơi nhiễm với hút thuốc lá thụ động, asbestos, radon, kim loại (arsenic, chromium, nickel), phóng xạ ion hóa, hydrocarbon thơm đa vòng làm tăng nguy cơ phát triển ung thư phổi. Xơ phổi Xơ phổi không rõ căn nguyên được coi là nguyên nhân gây tăng ung thư phổi gấp bảy lần so với bệnh nhân không có bệnh này. Điều này được chỉ ra trong nghiên cứu của tác giả Hubbarb R (2000) khi tiến hành nghiên cứu thuần tập trên 890 bệnh nhân có bệnh xơ phổi không rõ căn nguyên so sánh với 5884 bệnh nhân nhóm chứng được rút hồ sơ từ Cơ quan lưu trữ dữ liệu thực hành nghiên cứu Anh quốc (United Kingdom General Practice Research Database).

Thấy rằng tăng ung thư phổi ở những bệnh nhân xơ phổi viêm phế nang không rõ căn nguyên. Và cũng qua nghiên cứu này thấy rằng 2 yếu tố hút thuốc lá và xơ phổi viêm phế nang không rõ nguyên phát là 2 yếu tố nguy cơ độc lập nhau trong mối liên quan với ung thư phổi [23]. 6 Nhiễm HIV Tỷ lệ mắc ung thư phổi ở những người mắc HIV cao hơn nhóm chứng không mắc HIV. Theo một nghiên cứu hồi cứu ca bệnh trên 75 bệnh nhân nhiễm HIV mắc ung thư phổi cho thấy bệnh nhân trẻ mắc cao hơn so với bệnh nhân mắc ung thư phổi không có HIV.

Ngoài ra, các đặc điểm khác như giai đoạn và phân loại mô bệnh học không có sự khác biệt [24]. Các yếu tố về gia đình, gen Cho đến nay yếu tố về gen di truyền vẫn chưa được tìm hiểu hết trong ung thư phổi. Tuy nhiên, qua một phân tích tổng hợp 28 nghiên cứu bệnh chứng và 17 nghiên cứu thuần tập quan sát người ta đã nhận thấy có sự liên quan giữa yếu tố gia đình và ung thư phổi. Yếu tố nguy cơ này được cho là lớn nhất ở những bệnh nhân trẻ mắc ung thư phổi có tiền sử gia đình bị ung thư [25], [26].

Nghiện rượu Các dữ kiện liên quan đến rượu làm tăng nguy cơ ung thư phổi hiện vẫn chưa rõ ràng. Kể từ khi người ta thấy tác hại của sự kết hợp của rượu và thuốc lá trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết trên toàn cầu, các nghiên cứu đã lưu ý hơn việc nghiên cứu tác động của rượu lên ung thư phổi chứ không chỉ có riêng thuốc lá. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng với những người chỉ uống lượng nhỏ hàng ngày (dưới 1 cốc) thì không làm tăng nguy cơ ung thư phổi. Ngược lại những người uống lượng rượu lớn trong một ngày (> 2000 gram/ tháng tương đương một lượng năm hoặc sáu thậm chí hơn bảy cốc/ ngày) thì sẽ tăng nguy cơ ung thư phổi.

Rượu cũng có liên quan đến các thể mô bệnh học ung thư phổi, hay gặp ung thư biểu mô tuyến hơn ung thư biểu mô vảy ở bệnh nhân nghiện rượu [27],[28]. 7 Chế độ ăn Chế độ ăn khác nhau cũng là một trong những lý do lý giải cho tính đa dạng của ung thư phổi ngoài những yếu tố phơi nhiễm chung giống nhau như hút thuốc lá hoặc các nguyên nhân khác. Beta- caroten là thực phẩm bổ sung được cho là có tác dụng phòng ngừa chất hóa học, tăng cường thị lực, tuy nhiên, với liều cao thì làm tăng nguy cơ ung thư phổi ở những người nghiện thuốc lá. Điều này được rút ra từ một nghiên cứu tổng hợp 109.394 bệnh nhân sử dụng 20-30 mg beta- carotene / ngày [29].

Virus sinh ung thư Virus sinh ung thư không phải chắc chắn đóng vai trò là yếu tố bệnh sinh ung thư phổi. Tuy vậy, virus gây u nhú ở người (HPV- human papillomavirus) lại là nguyên nhân gây bệnh tiềm tàng cho nhiều ung thư biểu mô vảy của cổ tử cung, hậu môn trực tràng, da, thực quản và đường hô hấp trên. Do vậy mà giả thuyết gây ung thư phổi tế bào vẩy luôn là sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Báo cáo tổng hợp dựa trên 53 nghiên cứu đã được công bố với 4058 bệnh nhân, cho thấy tỷ lệ mắc HPVchung trong ung thư phổi là 24,5%.

Một số vùng như Okinawa (Nhật bản), Taichung (Đài Loan) tỷ lệ mắc rất cao lên đến 80%. Các phân nhóm mô bệnh học đặc biệt là ung thư biểu mô vảy đều có liên quan tới HPV cả những chủng nguy cơ cao như 16, 18, 31và 33 cũng như những chủng nguy cơ thấp như 6,11. Với các dữ liệu trên HPV hiện được xem như là nguyên nhân gây ung thư phổi quan trọng thứ hai sau hút thuốc lá [30]. Yếu tố nội tiết Tác động của nội tiết tố estrogen và progesteron lên nguy cơ và lịch sử tự nhiên của ung thư phổi hiện có nhiều ý kiến trái chiều.

Một số nghiên cứu ban đầu cho rằng các hormon không ảnh hưởng đến nguy cơ UTP, nhưng 8 những nghiên cứu ngẫu nhiên lớn gần đây chỉ ra điều trị estrogen và progestin lại phối hợp cùng nguy cơ UTP [31]. Chẩn đoán ung thư phổi 1. Triệu chứng cơ năng Các triệu chứng chính hay gặp bao gồm [1],[17],[20]: Ho: Là triệu chứng hay gặp ở bệnh nhân UTP. Khoảng trên 50% bệnh nhân vào thời điểm ban đầu có triệu chứng ho, về sau ho gặp ở hầu hết các bệnh nhân.

Ho trong UTP có thể do: khối u trung tâm, viêm phổi tắc nghẽn, di căn đa ổ hoặc tràn dịch màng phổi. Nhiều bệnh nhân có bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD - Chronic Obtructive Pulmonary Disease) nên có thể có ho mãn tính từ trước. Một số trường hợp hút thuốc lá trước đó cũng có ho kéo dài. Với những trường hợp này nếu thấy thay đổi về tình trạng ho kéo dài hoặc nặng lên, không đáp ứng với điều trị cần được chụp phim X quang lồng ngực hay chụp CT lồng ngực để chẩn đoán.

Điều trị đặc hiệu khối u sẽ có thể giảm được ho. Ở bệnh nhân đường thở bị khối u xâm lấn, có thể dùng thêm thuốc đồng vận Beta2 như Albuterol. Các thuốc chứa thuốc phiện (opioid) sử dụng có hiệu quả trong trường hợp ho do UTP. Ho máu: Chiếm khoảng 25- 50% các trường hợp.

Ho ra máu trong ung thư phổi có nhiều mức độ khác nhau nhưng thường bao gồm đờm có vệt máu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IIIB-IV bằng hóa trị kết hợp cisplatin là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của phương pháp hóa trị kết hợp cisplatin trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ ở giai đoạn tiến triển. Nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết sâu sắc về cơ chế tác động của cisplatin, cũng như các kết quả lâm sàng đáng khích lệ trong việc kéo dài thời gian sống và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các chuyên gia y tế và những ai quan tâm đến lĩnh vực điều trị ung thư.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp điều trị ung thư liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu tính an toàn và tác dụng hỗ trợ điều trị của cao up1 trên bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn iiibiv, nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá tính an toàn và hiệu quả của các phương pháp hỗ trợ điều trị. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ nghiên cứu cải thiện khả năng mang thuốc chống ung thư cisplatin của chất mang nano dendrimer cung cấp thông tin về việc tối ưu hóa hiệu quả của cisplatin thông qua công nghệ nano. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu điều trị ung thư vú giai đoạn di căn bằng hóa trị phối hợp anthracycline và taxane là một tài liệu tham khảo tuyệt vời để hiểu rõ hơn về các phương pháp hóa trị kết hợp trong điều trị ung thư.