Luận án tiến sĩ nghiên cứu điều trị ung thư biểu mô tế bào gan còn tồn dư sau tắc mạch hóa chất bằng phương pháp xạ trị lập thể định vị thân

Chuyên khảo điều trị ung thư gan còn tồn dư sau tắc mạch hóa chất bằng xạ trị lập phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực

Trường đại học

Viện Nghiên Cứu Khoa Học Y Dược Lâm Sàng 108

Chuyên ngành

Nội khoa/Nội tiêu hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2022

182
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về ung thư gan và phương pháp điều trị

Ung thư gan là một trong những bệnh ác tính phổ biến và có tỷ lệ tử vong cao trên toàn cầu. Ung thư biểu mô tế bào gan (UTBG) chiếm 75-85% các trường hợp ung thư gan nguyên phát. Tắc mạch hóa chất (TACE) là phương pháp điều trị phổ biến cho bệnh nhân UTBG giai đoạn trung gian. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân vẫn còn tồn dư tổn thương sau TACE, dẫn đến nhu cầu tìm kiếm các phương pháp điều trị bổ sung. Xạ trị lập thể định vị thân (SBRT) là một kỹ thuật tiên tiến, cho phép tập trung liều xạ cao vào khối u mà ít ảnh hưởng đến mô lành xung quanh. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá hiệu quả và độ an toàn của SBRT trong điều trị UTBG còn tồn dư sau TACE.

1.1. Dịch tễ và yếu tố nguy cơ của UTBG

Ung thư gan có tỷ lệ mắc cao nhất ở châu Á và châu Phi, với viêm gan B (HBV)viêm gan C (HCV) là các yếu tố nguy cơ chính. Ngoài ra, nghiện rượu, bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD), và nhiễm độc Aflatoxin cũng góp phần làm tăng nguy cơ UTBG. Tại Việt Nam, UTBG là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư ở nam giới. Các phương pháp sàng lọc như siêu âmxét nghiệm AFP được khuyến cáo để phát hiện sớm UTBG ở nhóm nguy cơ cao.

1.2. Phương pháp điều trị UTBG hiện tại

Tắc mạch hóa chất (TACE) là phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho UTBG giai đoạn trung gian. Tuy nhiên, tỷ lệ tồn dư tổn thương sau TACE lên đến 60%, đòi hỏi các phương pháp điều trị bổ sung. Xạ trị lập thể định vị thân (SBRT) là một lựa chọn tiềm năng, đặc biệt cho các khối u không thể phẫu thuật hoặc đốt nhiệt. SBRT sử dụng liều xạ cao trong ít phân liều, giảm thiểu tác dụng phụ lên mô lành xung quanh.

II. Nghiên cứu điều trị UTBG còn tồn dư bằng SBRT

Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả và độ an toàn của xạ trị lập thể định vị thân (SBRT) trong điều trị ung thư gan còn tồn dư sau tắc mạch hóa chất (TACE). Kết quả nghiên cứu cho thấy SBRT có khả năng kiểm soát khối u tốt hơn so với TACE nhắc lại, đồng thời giảm thiểu tác dụng phụ lên gan lành. Phương pháp này đặc biệt hiệu quả với các khối u nằm ở vị trí khó tiếp cận như rốn gan hoặc gần mạch máu lớn.

2.1. Kết quả sớm và lâu dài của SBRT

Kết quả sớm sau SBRT cho thấy tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn (CR) và đáp ứng một phần (PR) cao hơn so với TACE nhắc lại. Các chỉ số như AFP và kích thước khối u cũng giảm đáng kể. Về lâu dài, SBRT giúp kéo dài thời gian sống thêm không tiến triển (PFS) và tỷ lệ sống thêm toàn bộ (OS) cao hơn so với TACE nhắc lại.

2.2. Độ an toàn và tác dụng phụ của SBRT

SBRT được đánh giá là an toàn với tỷ lệ tác dụng phụ thấp. Các tác dụng phụ thường gặp bao gồm viêm damệt mỏi, nhưng không nghiêm trọng. So với TACE nhắc lại, SBRT ít gây tổn thương gan lành và không làm suy giảm chức năng gan đáng kể.

III. Ý nghĩa và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng về hiệu quả và độ an toàn của xạ trị lập thể định vị thân (SBRT) trong điều trị ung thư gan còn tồn dư sau tắc mạch hóa chất (TACE). Kết quả nghiên cứu có thể hỗ trợ việc đưa SBRT vào các phác đồ điều trị tiêu chuẩn cho UTBG, đặc biệt ở những bệnh nhân không đáp ứng hoàn toàn với TACE. Phương pháp này cũng mở ra hướng điều trị mới cho các khối u khó tiếp cận hoặc không thể phẫu thuật.

3.1. Ứng dụng trong lâm sàng

SBRT có thể được sử dụng như một phương pháp điều trị bổ sung hoặc thay thế cho TACE nhắc lại, đặc biệt ở những bệnh nhân có chức năng gan kém hoặc khối u nằm ở vị trí khó tiếp cận. Phương pháp này cũng giúp giảm thiểu tác dụng phụ và cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân.

3.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần thêm các nghiên cứu quy mô lớn và dài hạn để xác nhận hiệu quả của SBRT trong điều trị UTBG. Ngoài ra, việc kết hợp SBRT với các phương pháp điều trị khác như liệu pháp nhắm trúng đích hoặc miễn dịch trị liệu cũng là hướng nghiên cứu tiềm năng trong tương lai.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu điều trị ung thư biểu mô tế bào gan còn tồn dư sau tắc mạch hóa chất bằng phương pháp xạ trị lập thể định vị thân

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Dịch tễ ung thư biểu mô tế bào gan 1. Tình hình dịch tễ trên thế giới Ung thư gan là loại bệnh ác tính phổ biến thứ sáu và là nguyên nhân thứ ba gây tử vong trên toàn thế giới vào năm 2020. Tỷ lệ mắc ung thư gan cao nhất thế giới là ở châu Á và châu Phi.

Khoảng 75% ung thư gan gặp ở châu Á, mà Trung Quốc chiếm hơn 50% tỷ lệ của thế giới. Quốc gia có tỷ lệ mới mắc cao nhất là Mông Cổ, với tỷ lệ chuẩn hóa theo độ tuổi trên 100.000 người là 78,1. Ngược lại, tỷ lệ mới mắc thấp nhất trên thế giới gặp ở các quốc gia Bắc Âu, Trung Đông, Châu Đại Dương, Bắc Mỹ và Nam Mỹ, trong khi các quốc gia ở Trung Âu có tỷ lệ trung bình. Theo số liệu của American Cancer Society năm 2017, tại Mỹ có 40.710 trường hợp ung thư gan mới mắc, khoảng ba phần tư trong số đó là UTBG.

Ung thư gan gặp ở nam nhiều gấp 3 lần so với nữ.920 trường hợp tử vong do ung thư gan vào năm 2017 [11]. Độ tuổi mắc UTBG thay đổi theo vùng, giới tính, và nguyên nhân. Trên toàn cầu, tỷ lệ nam giới mắc UTBG cao hơn nữ giới, với tỷ lệ nam/nữ từ khoảng 2/1 đến 4/1 ở những khu vực có nguy cơ cao. Ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tỷ lệ UTBG ở nam giới lớn hơn 4 lần so với nữ giới [12].

Tình hình dịch tễ tại Việt Nam Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới năm 2020, tại Việt Nam có 74.481 nam giới chết vì ung thư thì UTBG là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong với tỷ lệ 20,5%; có 48.209 nữ giới chết vì ung thư thì UTBG chiếm tỷ lệ cao thứ năm với 7,4%. Tỷ lệ tử vong chuẩn hóa theo độ tuổi ở nam giới là 144,5, ở nữ giới là 74,8. Số trường hợp mắc ung thư gan mới là 26.418, số tử vong là 25.272 trường hợp [1]. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ ung thư biểu mô tế bào gan 1.

Các virus viêm gan Các quốc gia có tỷ lệ nhiễm HBV mạn tính cao thường gia tăng tỷ lệ mắc và tử vong do UTBG [13]. Nguy cơ dẫn đến UTBG ở những bệnh nhân nhiễm HBV mạn tính được ước tính là khoảng 10 đến 25%. Một số yếu tố làm tăng nguy cơ UTBG ở những người mang HBV bao gồm nhân khẩu học, đặc điểm virus, xơ gan, và lối sống [14]. Bệnh nhân nhiễm HBV mạn tính có nguy cơ cao phát triển thành xơ gan rồi ung thư biểu mô tế bào gan, hoặc có những bệnh nhân tiến triển thành ung thư mà không xơ gan [15].

HCV dường như làm tăng nguy cơ UTBG bằng cách không chỉ gây viêm gan và xơ hóa, mà còn thúc đẩy sự biến đổi ác tính của các tế bào bị nhiễm bệnh [16]. Nghiện rượu Nghiện rượu là một trong những yếu tố nguy cơ chính của xơ gan và có thể dẫn đến UTBG. Một nghiên cứu từ Đại học Michigan đã xác nhận rằng những người nghiện rượu nặng với lượng 1500g mỗi năm (uống khoảng 60g mỗi ngày liên tục trong ít nhất 25 năm) thì có nguy cơ UTBG gấp 6 lần (OR 5. Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu Dữ liệu hiện có cho thấy rằng béo phì làm tăng nguy cơ UTBG từ 1,5 đến 4 lần.

Một phân tích tổng hợp lớn bao gồm 7 nghiên cứu đoàn hệ của 5037 đối tượng thừa cân (chỉ số khối cơ thể từ 25-30 kg/m2) và 10 nghiên cứu về 6042 đối tượng béo phì (chỉ số khối cơ thể > 30 kg/m2); so với người có cân nặng bình thường, nguy cơ UTBG tăng 17% ở những người thừa cân và 89% ở những người béo phì [18]. Các yếu tố nguy cơ khác Ngoài ra còn các yếu tố khác như: hội chứng Budd-Chiari, nhiễm độc Aflatoxin, hút thuốc, thiếu hụt Alpha1-Antitrypsin, thiểu dưỡng kéo dài. Chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan 1. Sàng lọc phát hiện sớm Sàng lọc nhằm mục đích xác định ung thư ở giai đoạn sớm để đưa ra phương pháp điều trị hiệu quả và cải thiện khả năng sống thêm.

Về phương pháp để sàng lọc phát hiện sớm UTBG, Hướng dẫn của các Tổ chức bệnh Gan lớn trên thế giới đều thống nhất sử dụng siêu âm có hoặc không kết hợp với xét nghiệm AFP định kỳ 3-6 tháng cho các đối tượng có nguy cơ cao (xơ gan, viêm gan B, C mạn tính). Siêu âm có độ nhạy hơn so với xét nghiệm AFP, tuy nhiên siêu âm phối hợp với xét nghiệm AFP và desgamma carboxy prothrombin sẽ làm tăng độ nhạy chẩn đoán [20]. Đây là phương pháp đơn giản, rẻ tiền và có thể áp dụng được rộng rãi. Siêu âm phát hiện được 81,3% các trường hợp UTBG, 36% các trường hợp UTBG được phát hiện bằng AFP huyết thanh.

Tỷ lệ phát hiện tăng lên 96,7% khi kết hợp xét nghiệm AFP với siêu âm [21]. Mặc dù có độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn, song siêu âm cản âm, chụp CT hay chụp MRI đều chưa được chấp nhận và khuyến cáo áp dụng cho khám sàng lọc [22]. Triệu chứng lâm sàng UTBG giai đoạn sớm thường phát sinh và tiến triển trong im lặng. Những bệnh nhân UTBG mà không có biểu hiện xơ gan, các triệu chứng thường thấy là: khó chịu, chán ăn, đau tức hạ sườn phải [23].

Khám thực thể có thể thấy một khối bất thường hoặc gan to với bờ cứng không đều [24]. Triệu chứng vàng da tắc nghẽn mà không kèm triệu chứng đau sốt cấp tính có thể chỉ ra tình trạng xâm lấn của khối u vào đường mật [25]. Vỡ u xảy ra khi mạch máu nuôi u ở vùng ngoại vi khối u vượt quá khả năng chịu đựng, sẽ có triệu chứng đau bụng dữ dội đột ngột, cảm ứng phúc mạc và hạ huyết áp. Các biểu hiện ngoài gan của UTBG cũng được mô tả trong y văn có thể liên quan đến di căn xa [26].

Xét nghiệm các dấu ấn ung thư Bảng 1. Các dấu ấn huyết thanh chẩn đoán UTBG Số thứ tự Dấu ấn huyết thanh 1 Alpha-fetoprotein (AFP) 2 Lens culinaris agglutinin-reactive AFP (AFP-L3) 3 Des-gamma carboxyprothrombin (DCP) còn gọi là PIVKA-II 4 α-L-Fucosidase 5 Glypican-3 6 Squamous cell carcinoma antigen (SCCA) 7 Golgi protein 73 (GP73) 8 Hepatocyte growth factor (HGF) 9 Transforming growth factor-β1 (TGF-β1) 10 Vascular endothelial growth factor (VEGF) 11 Serum proteomics * Nguồn: theo Gomaa A.I (2009) [27] ❖ Alpha-fetoprotein (AFP) AFP là một glycoprotein huyết thanh lần đầu tiên được mô tả bởi Abelev vào những năm 1960, sau đó lần đầu định lượng bởi Roushlati và Seppala vào năm 1971, kể từ đó được thực hiện để chẩn đoán UTBG. Túi noãn hoàng và gan của thai nhi tạo ra mức AFP cao, giảm xuống dưới 10 ng/ml trong vòng 300 ngày sau sinh [28]. Vẫn còn nhiều tranh luận trong việc xác định ngưỡng giá trị của AFP trong chẩn đoán UTBG.

Theo một đánh giá hệ thống, độ nhạy, độ đặc hiệu, tỷ số dương tính khả dĩ của AFP trong chẩn đoán UTBG có khối u đường kính nhỏ hơn 5cm dao động từ 0,49 đến 0,71, 0,49 đến 0,86 và 1,28 7 đến 4,03 với giá trị ngưỡng là 20 ng/ml và từ 0,04 đến 0,31, 0,76 đến 1,0 và 1,13 đến 54,25 với giá trị ngưỡng là 200 ng/ml. AFP với ngưỡng là 200 ng/ml cho thấy một tỷ số dương tính khả dĩ phối hợp tốt hơn so với ngưỡng là 20 ng/ml (5,85 so với 2,45) [29]. ❖ AFP có ái lực với lectin (AFP-L3) AFP-L3 là một biến thể fucosyl hóa của AFP phản ứng với lens culinaris agglutinin A [30]. Theo một đánh giá hệ thống, độ nhạy, độ đặc hiệu và tỷ số dương tính khả dĩ của AFP-L3 trong chẩn đoán UTBG có đường kính nhỏ hơn 5 cm dao động từ 0,22 đến 0,33; 0,93 đến 0,94; 4,63 đến 30,8 với giá trị ngưỡng là 10% và từ 0,21 đến 0,49; 0,94 đến 1,0; 8,06 đến 45,1 với giá trị ngưỡng là 15% [29].

AFP-L3 với giá trị ngưỡng 15% cho thấy tỷ số dương tính khả dĩ tốt hơn so với 10% (13,1 so với 4,89). Một trong những nhược điểm chính của AFP-L3 là không thể đo được khi giá trị AFP nhỏ hơn 10 ng/ml [31]. ❖ Des-gamma-carboxyprothrombin (DCP) Des-gamma-carboxyprothrombin là một protein bất thường do sự thiếu hụt vitamin K (prothrombin induced by vitamin K absence-II: PIVKA-II) ở bệnh nhân UTBG. Kể từ báo cáo của Liebman [32], DCP đã được công nhận không chỉ là một dấu ấn đặc hiệu cao trong chẩn đoán đối với UTBG mà còn là một yếu tố tiên lượng cho bệnh nhân UTBG [33,34].

Theo một đánh giá hệ thống, độ nhạy, độ đặc hiệu và tỷ số dương tính khả dĩ của DCP trong UTBG có đường kính nhỏ hơn 5 cm dao động từ 0,14 đến 0,54, 0,95 đến 0,99 và 6,86 đến 29,7, tương ứng với giá trị ngưỡng là 40 mAU/ml và từ 0,07 đến 0,56, 0,72 đến 1,0 và 3,56 đến 13,0, tương ứng, với giá trị ngưỡng là 100 mAU/ml [29]. DCP với giá trị ngưỡng 40 mAU/ml cho thấy tỷ số dương tính khả dĩ tốt hơn so với 100 mAU/ml (12,60 so với 4,91). Theo một nghiên cứu khác, DCP cho thấy hiệu suất chẩn đoán tốt hơn AFP trong chẩn đoán UTBG sớm khi so sánh về diện tích dưới các đường cong hoạt động (0,84 so với 0,68) [35]. 8 Đo lường đồng thời các dấu ấn khối u cho phép cải thiện độ nhạy mà không làm giảm tính đặc hiệu khi chúng có liên kết yếu.

Độ nhạy, độ đặc hiệu và tỷ số dương tính khả dĩ của AFP và DCP trong UTBG kích thước nhỏ được báo cáo là 0,48, 0,99 và 48 với giá trị cắt là 200 ng/ml đối với AFP và 40 mAU/ml đối với DCP [36]. Một đánh giá hệ thống gần đây đã báo cáo rằng diện tích dưới đường cong ROC không được cải thiện khi định lượng kết hợp giữa DCP và AFP (0.83) so với DCP (0. Phương pháp chẩn đoán hình ảnh 1. Siêu âm ❖ Siêu âm B-mode Những thay đổi chính trong hình thành tế bào ung thư gan bao gồm sự hình thành mạch máu, thay đổi cấu tạo tế bào, giảm số lượng và chức năng của tế bào Kupffer.

Trong số đó sự thay đổi huyết động của các nốt gồm có tăng lưu lượng động mạch và giảm lưu lượng tĩnh mạch là quan trọng nhất để chẩn đoán UTBG. Tuy nhiên phương pháp siêu âm B-mode không thể mô tả được tình trạng mạch máu trong khối u. Theo một nghiên cứu tổng hợp của Hanna, trong các phương pháp: siêu âm B-mode, chụp cắt lớp và chụp cộng hưởng từ thì siêu âm B-mode có độ nhạy và giá trị dự đoán dương tính thấp nhất (59,3; 77,4%) [37]. Do đó siêu âm B-mode không được coi như là phương pháp chẩn đoán xác định UTBG.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu điều trị ung thư gan còn tồn dư sau tắc mạch hóa chất bằng xạ trị lập thể định vị thân" tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của phương pháp xạ trị lập thể định vị thân (SBRT) trong điều trị ung thư gan còn tồn dư sau khi thực hiện tắc mạch hóa chất (TACE). Nghiên cứu này mang lại những thông tin quan trọng về việc tối ưu hóa liệu pháp điều trị, giúp cải thiện tỷ lệ kiểm soát khối u và kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân. Đây là một bước tiến đáng kể trong lĩnh vực ung thư gan, đặc biệt là với những trường hợp khó điều trị.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp điều trị ung thư tiên tiến, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu phác đồ hóa xạ trị đồng thời có hóa trị trước cho ung thư vòm mũi họng giai đoạn di căn hạch n2 3m0 tại bệnh viện k, nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc kết hợp hóa trị và xạ trị trong điều trị ung thư. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ đánh giá kết quả hóa xạ trị đồng thời sử dụng kỹ thuật điều biến liều và hóa chất bổ trợ trong ung thư vòm mũi họng giai đoạn iii ivb cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về các kỹ thuật hiện đại trong điều trị ung thư. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ đánh giá kết quả hoá xạ trị đồng thời ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn khu trú phác đồ cisplatin etoposide tại bệnh viện k sẽ giúp bạn khám phá thêm về hiệu quả của hóa xạ trị đồng thời trong các loại ung thư khác.