Tổng quan luận án

Phình động mạch não (PĐMN) là một bệnh lý mạch máu thần kinh có tỷ lệ hiện diện trong cộng đồng từ 0,4% đến 3,6% trên các nghiên cứu tử thiết đại thể và từ 3,7% đến 6,0% trên hình ảnh chụp mạch máu. Khoảng 85% các túi phình động mạch não khu trú tại các nhánh thuộc vòng đa giác Willis. Tỷ lệ đa túi phình trên cùng một cá thể chiếm khoảng 20% đến 30% các trường hợp. Biến chứng nguy hiểm nhất của phình động mạch não là vỡ túi phình dẫn đến chảy máu nội sọ, trong đó xuất huyết dưới nhện (chảy máu dưới nhện - CMDN) là thể lâm sàng điển hình nhất. Tỷ lệ tử vong do chảy máu dưới nhện dao động từ 25% đến 67% tùy theo mức độ nặng, khoảng 50% người bệnh sống sót mang các di chứng thần kinh và chỉ khoảng 1/3 số bệnh nhân có khả năng phục hồi hoàn toàn.

Túi phình động mạch não cổ rộng được định nghĩa theo tiêu chuẩn hình thái học là túi phình có đường kính cổ $\ge 4\text{ mm}$ và/hoặc tỷ lệ chiều cao vòm túi trên đường kính cổ túi (tỷ lệ cao túi/cổ túi) $< 1,5$. Nhóm túi phình này chiếm tỷ lệ từ 20% đến 30% tổng số các túi phình mạch não. Do đặc điểm giải phẫu cổ rộng, việc áp dụng kỹ thuật nút túi phình bằng vòng xoắn kim loại (VXKL) đơn thuần gặp nhiều khó khăn vì nguy cơ vòng xoắn bị lồi, trôi hoặc rơi vào lòng động mạch mang, gây tắc mạch hạ lưu và không đạt được độ lèn chặt cần thiết để bít tắc hoàn toàn túi phình. Sự ra đời của các kỹ thuật hỗ trợ như chẹn bóng tạm thời, đặt giá đỡ nội mạch (GĐNM/stent), giá đỡ nội mạch đổi hướng dòng chảy (ĐHDC) và các dụng cụ ngắt dòng chảy đã mở rộng chỉ định điều trị can thiệp nội mạch cho các túi phình phức tạp.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết là nhu cầu đánh giá hệ thống về đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học cắt lớp vi tính (CLVT), cộng hưởng từ (CHT), chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) và tổng kết hiệu quả, tính an toàn cùng kết quả theo dõi trung và dài hạn của các kỹ thuật can thiệp nội mạch trong điều trị túi phình động mạch não cổ rộng tại Việt Nam.

Luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và hình ảnh của các túi phình động mạch não cổ rộng trên cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ và chụp mạch số hóa xóa nền.
  2. Nghiên cứu kết quả điều trị can thiệp nội mạch và theo dõi sau can thiệp đối với các túi phình mạch não cổ rộng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các bệnh nhân được chẩn đoán phình động mạch não cổ rộng (đường kính cổ $\ge 4\text{ mm}$ hoặc tỷ lệ cao/cổ $< 1,5$ xác định trên DSA), ở trạng thái chưa vỡ hoặc đã vỡ nhưng có tri giác Glasgow $> 7$ và mức độ lâm sàng Hunt-Hess $\le 4$.
  • Địa điểm nghiên cứu: Khoa Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Bạch Mai.
  • Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1 năm 2011 đến tháng 4 năm 2014.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu quốc tế ghi nhận sự phát triển song song giữa phẫu thuật và can thiệp nội mạch trong điều trị phình động mạch não:

  • Galen và Richard Wiseman (1669) lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ phình động mạch não.
  • John Blackhall (1813) mô tả trường hợp vỡ phình mạch não đầu tiên.
  • Egaz Moniz (1927) phát minh phương pháp chụp mạch não, Seldinger (1953) đưa ra kỹ thuật luồn ống thông qua da và Maneft (1983) phát triển kỹ thuật chụp mạch số hóa xóa nền (DSA).
  • Về ngoại khoa, Walter Dandy (1937) thực hiện ca phẫu thuật kẹp cổ túi phình đầu tiên; kỹ thuật vi phẫu phát triển từ thập niên 1960 giúp giảm thiểu diện tích mở nắp sọ và cải tiến các loại clip kẹp mạch.
  • Về can thiệp nội mạch, Fedor Serbinenko (1969) đặt bóng latex gây tắc động mạch mang. Bước ngoặt lớn diễn ra vào năm 1991 khi Guglielmi giới thiệu vòng xoắn kim loại tách rời bằng dòng điện (GDC - Guglielmi detachable coils).
  • Nhằm giải quyết các túi phình cổ rộng, Jacques Moret (1994) phát triển kỹ thuật nút vòng xoắn kim loại có bóng chẹn cổ tạm thời. Higashida (1997) công bố kỹ thuật đặt giá đỡ nội mạch ngang qua cổ túi phình làm giá đỡ giữ vòng xoắn kim loại. Năm 2007, kỹ thuật đặt giá đỡ nội mạch đổi hướng dòng chảy (flow-diverter) như Silk Stent (Balt) và Pipeline (EV3-Covidien) được áp dụng lâm sàng, tiếp nối là các thế hệ như Surpass, FRED và các thiết bị ngắt dòng trong lòng túi phình như WEB, Lunar.
  • Thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm quốc tế ISAT (International Subarachnoid Aneurysm Trial) công bố năm 2002 trên 2.143 bệnh nhân vỡ phình mạch não so sánh giữa can thiệp nội mạch và phẫu thuật kẹp clip. Kết quả cho thấy nhóm can thiệp nội mạch có tỷ lệ tử vong và tàn tật phụ thuộc sau 1 năm thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với phẫu thuật (23,7% so với 30,6%), tỷ lệ động kinh thấp hơn, tuy nhiên tỷ lệ chảy máu tái phát tích lũy trong 7 năm theo dõi của nhóm nút mạch cao hơn nhóm phẫu thuật (0,2%/năm so với 0,1%/năm). Nghiên cứu CARAT trên 1.010 bệnh nhân chỉ ra rằng mức độ tắc hoàn toàn túi phình tỷ lệ nghịch với nguy cơ tái xuất huyết (tỷ lệ tái xuất huyết ở nhóm tắc hoàn toàn là 1,1%, trong khi nhóm tắc $< 70%$ lên tới 17,6%). Nghiên cứu ATENA của L. Pierot và cộng sự (2005 - 2006) trên 622 bệnh nhân với 694 túi phình chưa vỡ ghi nhận tỷ lệ bít tắc hoàn toàn đạt 63% và tỷ lệ bít tắc đạt yêu cầu đạt 85,5%.

Tại Việt Nam:

  • Nguyễn Thường Xuân và cộng sự (1962) bắt đầu phẫu thuật điều trị phình động mạch não vỡ. Các tác giả Nguyễn Văn Đăng, Lê Đức Hinh, Lê Văn Thính (1996), Nguyễn Thế Hào (2006) tổng kết kết quả phẫu thuật và điều trị nội khoa bệnh lý chảy máu dưới nhện.
  • Can thiệp nội mạch điều trị phình động mạch não được khởi xướng bởi Phạm Minh Thông (2001) tại Bệnh viện Bạch Mai, công bố năm 2003 trên 28 ca đầu tiên đạt tỷ lệ thành công 92,85%. Lê Văn Trường (2004) báo cáo 10 ca đầu tiên tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.
  • Vũ Đăng Lưu và Phạm Minh Thông (2012) nghiên cứu can thiệp nội mạch 135 bệnh nhân vỡ phình động mạch não, ghi nhận tỷ lệ tắc hoàn toàn 55,5%, còn dòng chảy cổ túi 41,3%, còn dòng chảy trong túi 3,75%, tỷ lệ hồi phục tốt (mRS 0 - 2) đạt 89,6%, tỷ lệ tái thông cần can thiệp thì hai là 14,5% (chủ yếu ở nhóm cổ rộng). Năm 2011, Vũ Đăng Lưu và cộng sự công bố 3 ca đầu tiên điều trị bằng giá đỡ đổi hướng dòng chảy Silk Stent. Lê Thị Thúy Lan (2010, 2013) nghiên cứu giá trị của CHT mạch máu xung TOF 3D trong theo dõi sau nút mạch so với DSA, cho thấy độ tương đồng cao với hệ số Kappa = 0,95.

Luận án định vị khoảng trống thực tiễn bằng việc xây dựng một nghiên cứu toàn diện, tập trung chuyên biệt vào nhóm túi phình cổ rộng (kích thước cổ $\ge 4\text{ mm}$ hoặc tỷ lệ cao/cổ $< 1,5$), đánh giá hiệu quả áp dụng đa dạng các kỹ thuật can thiệp (nút trực tiếp, bóng chẹn, GĐNM đơn/kép, đổi hướng dòng chảy, nút tắc mạch mang) và quy trình theo dõi đa phương thức bằng CHT và DSA sau can thiệp.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và phân loại học thuật

  • Định nghĩa giải phẫu và hình thái: Hệ thống mạch não được cấp máu từ hệ cảnh trong (chia 7 đoạn từ C1 đến C7) và hệ đốt sống - thân nền, nối nhau qua vòng đa giác Willis gồm 9 cạnh (các đoạn A1, P1, động mạch thông trước, hai động mạch thông sau). Túi phình cổ rộng là tổn thương thiếu hụt lớp áo giữa (lớp cơ) của thành mạch, giãn khu trú dưới áp lực dòng chảy cơ học và huyết áp, có kích thước cổ $\ge 4\text{ mm}$ hoặc tỷ lệ cao/cổ $< 1,5$.
Thang điểm Mục đích sử dụng Bậc / Phân độ chi tiết
Hunt - Hess Đánh giá mức độ nặng lâm sàng khi phình mạch vỡ Bậc 0: Chưa vỡ, không triệu chứng (Tử vong 0%).
Bậc 1: Không triệu chứng hoặc đau đầu, cứng gáy nhẹ (Tử vong 1%).
Bậc 1a: Không triệu chứng màng não/não cấp nhưng có dấu hiệu thiếu hụt thần kinh (Tử vong 1%).
Bậc 2: Đau đầu nhiều, hội chứng màng não rõ, không liệt khu trú trừ dây thần kinh sọ (Tử vong 5%).
Bậc 3: Lơ mơ, nhầm lẫn, ngủ gà hoặc dấu hiệu thần kinh khu trú (Tử vong 19%).
Bậc 4: Mất ý thức, liệt nửa người, co cứng mất não, rối loạn thần kinh thực vật (Tử vong 42%).
Bậc 5: Hôn mê sâu, duỗi cứng mất não (Tử vong 77%).
Fisher Đánh giá mức độ chảy máu dưới nhện trên phim CLVT Bậc I: Không phát hiện máu trong khoang dưới nhện.
Bậc II: Máu lan tỏa khoang dưới nhện, độ dày $< 1\text{ mm}$.
Bậc III: Máu lan tỏa khoang dưới nhện, độ dày $> 1\text{ mm}$.
Bậc IV: Máu tụ trong nhu mô não hoặc tràn máu hệ thống não thất.
Raymond - Roy Đánh giá mức độ bít tắc túi phình sau can thiệp Loại A (Tắc hoàn toàn - THT): Không còn dòng chảy ngấm thuốc vào túi phình ($> 95%$).
Loại B (Tắc gần hoàn toàn): Còn cuống dòng chảy nhỏ tại cổ túi ($90 - 95%$).
Loại C (Tắc bán phần): Còn dòng chảy ngấm vào lòng thân túi phình ($< 90%$).
Rankin sửa đổi (mRS) Đánh giá mức độ hồi phục chức năng thần kinh Độ 0: Hoàn toàn không còn triệu chứng.
Độ 1: Có vài triệu chứng nhẹ, sinh hoạt bình thường.
Độ 2: Di chứng nhẹ, tự chủ trong sinh hoạt cá nhân.
Độ 3: Di chứng trung bình, cần trợ giúp nhưng tự đi lại được.
Độ 4: Di chứng nặng, không tự đi lại, không tự phục vụ sinh hoạt.
Độ 5: Liệt giường, đời sống thực vật, cần chăm sóc toàn diện.
Độ 6: Bệnh nhân tử vong.

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu thực nghiệm lâm sàng, can thiệp không đối chứng, tiến cứu, có theo dõi dọc và áp dụng các kỹ thuật can thiệp nội mạch.
  • Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu: Cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức xác định cỡ mẫu cho nghiên cứu can thiệp: $$n = Z_{1-\alpha/2}^2 \cdot \frac{p \cdot q \cdot F}{D^2}$$ Trong đó:
    • $p_1 = 0,69$ (tỷ lệ phục hồi tốt của phẫu thuật lấy từ nghiên cứu ISAT).
    • $p_2 = 0,85$ (tỷ lệ phục hồi tốt mong đợi của phương pháp can thiệp nội mạch).
    • $p = \frac{p_1 + p_2}{2} = \frac{0,69 + 0,85}{2} = 0,77$; $q = 1 - p = 0,23$.
    • $D = p_2 - p_1 = 0,85 - 0,69 = 0,16$.
    • Mức ý nghĩa thống kê $\alpha = 0,05 \implies Z_{1-\alpha/2} = 1,96$.
    • Lực mẫu $1 - \beta = 80% \implies F = 7,9$.
    • Thay số: $n = 1,96^2 \cdot \frac{0,77 \cdot 0,23 \cdot 7,9}{0,16^2} \approx 102$ bệnh nhân. Cỡ mẫu tối thiểu được xác định là 102 bệnh nhân. Thực tế nghiên cứu đã thu thập và can thiệp cho 155 bệnh nhân với 166 túi phình cổ rộng.
  • Thiết bị và phương tiện nghiên cứu:
    • Hệ thống máy chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) một bình diện Advant (GE) và Allura (Philips).
    • Máy cắt lớp vi tính đa dãy đầu thu (từ 64 đến 128 dãy/256 dãy).
    • Hệ thống chụp cộng hưởng từ 1.5 Tesla.
    • Dụng cụ can thiệp: Vòng xoắn kim loại (Target, Microvention, Axium, Hydrocoil...), bóng chẹn cổ (Hyperform, Hyperglide), giá đỡ nội mạch tự nở (Neuroform, Enterprise, LVIS, LEO, Solitaire), giá đỡ đổi hướng dòng chảy (Silk, Pipeline), dụng cụ ngắt dòng (WEB, Lunar), vật liệu Onyx 500.
  • Xử lý số liệu: Dữ liệu được làm sạch và phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 16.0 và STATA. Các kiểm định xác suất thống kê được áp dụng với ngưỡng có ý nghĩa thống kê được chọn là $p \le 0,05$.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề cơ sở về giải phẫu hệ mạch máu não, bệnh sinh, chẩn đoán và các phương pháp điều trị túi phình động mạch não cổ rộng:

  1. Giải phẫu hệ mạch não: Mô tả chi tiết hệ động mạch cảnh trong (7 đoạn C1 - C7), hệ động mạch sống - nền (động mạch đốt sống, động mạch thân nền chia hai nhánh não sau) và cấu trúc đa giác Willis nằm tại khoang dưới nhện bể gian cuống.
  2. Cơ chế bệnh sinh và phân loại phình mạch: Phân tích sự suy yếu của lớp trung mạc kết hợp tác động huyết động dòng chảy; các yếu tố nguy cơ (bệnh thận đa nang chiếm 10 - 15%, tăng huyết áp, hút thuốc, xơ vữa mạch, thiếu hụt estrogen). Phân loại túi phình theo kích thước: rất nhỏ ($< 2 - 3\text{ mm}$), nhỏ ($< 7\text{ mm}$), trung bình ($7 - 14\text{ mm}$), lớn ($> 14\text{ mm}$) và khổng lồ ($> 25\text{ mm}$). Phân bố giải phẫu: 85% tại đa giác Willis (thông trước 35%, cảnh trong 30%, não giữa 22%, hệ sống nền $< 10%$).
  3. Biến chứng chảy máu dưới nhện: Tỷ lệ tử vong và tàn tật; cơ chế tăng áp lực nội sọ, ứ nước não thất cấp tính và mạn tính; chảy máu tái phát (tỷ lệ 10,9% - 16,7%, tử vong do tái xuất huyết lên đến 67% - 100%); co thắt mạch máu não (xuất hiện từ ngày thứ 3 đến ngày 21); hạ Natri máu (chiếm 12,3% theo Võ Hồng Khôi).
  4. Chẩn đoán hình ảnh:
    • CLVT: Phương pháp đầu tay phát hiện máu dưới nhện (độ nhạy cao theo thang Fisher); chụp CLVT đa dãy (CTA) 64 dãy tại Bệnh viện Bạch Mai đạt độ nhạy 94,5%, độ đặc hiệu 97,6%, độ chính xác 95,5%.
    • CHT: Đánh giá tốt chảy máu bán cấp/mạn tính (chuỗi xung T2*W), xung TOF 3D và MRA-DSA đánh giá hình thái túi phình, khối máu tụ và chèn ép nhu mô không cần thuốc cản quang i-ốt.
    • DSA: Tiêu chuẩn vàng xác định cấu trúc mạch, hướng dòng chảy và mức độ co thắt mạch.
    • Siêu âm Doppler xuyên sọ (TCD): Theo dõi co thắt mạch tại giường (co thắt ĐM não giữa nặng khi tốc độ tâm thu $> 200\text{ cm/s}$).
  5. Điều trị nội khoa và hồi sức: Kiểm soát hô hấp, tuần hoàn; dùng nimodipin (Nimotop) phòng ngừa co thắt mạch; phác đồ 3H (Hypervolemia - tăng thể tích tuần hoàn với CVP 8 - 12 mmHg; Hemodilution - pha loãng máu duy trì Hematocrit $> 35%$; Hypertension - tăng huyết áp).
  6. Các kỹ thuật can thiệp nội mạch:
Kỹ thuật can thiệp Chỉ định chính Đặc điểm kỹ thuật và lưu ý
Nút VXKL đơn thuần Cổ rộng nhưng tỷ lệ đáy/cổ $> 1$, túi phình dài hoặc can thiệp cấp cứu thì 1 để bít điểm vỡ Có thể dùng kỹ thuật 2 vi ống thông đồng thời. Nguy cơ lồi coil vào lòng mạch mang nếu cổ quá rộng.
Nút VXKL có bóng chẹn cổ Túi phình cổ rộng có thân lớn hơn cổ, tỷ lệ đáy/cổ $< 1,5$, có nhánh bên ở cổ Bơm căng bóng tạm thời (tối đa 3 phút/lần) khi thả coil, xẹp bóng kiểm tra. Rút bóng khi kết thúc thủ thuật.
Nút VXKL có GĐNM chẹn cổ Túi phình cổ rất rộng (đáy/cổ $< 1,2$), hình nón, cổ rộng hơn mạch mang Đặt stent (Neuroform, Enterprise, LVIS...) qua cổ túi; dùng kỹ thuật stent đơn hoặc kép (chữ Y, T, X, H). Dùng thuốc chống đông kép (Aspirin + Clopidogrel).
Giá đỡ đổi hướng dòng chảy (ĐHDC) Túi phình lớn, khổng lồ, hình thoi, cổ rất rộng, túi phình tái phát, túi phình chưa vỡ Đặt stent mắt lưới siêu nhỏ làm giảm lưu lượng máu vào túi, gây huyết khối tắc dần; bảo tồn nhánh bên. Chống chỉ định trong xuất huyết cấp.
Nút tắc mạch mang Túi phình khổng lồ, bóc tách, giả phình không thể bảo tồn mạch mang Bắt buộc làm test tắc mạch bằng bóng trong 30 phút kiểm tra tuần hoàn bàng hệ qua đa giác Willis trước khi nút vĩnh viễn.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết về quy trình kỹ thuật, tiêu chuẩn lâm sàng và các bước tiến hành:

  1. Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ:
    • Tiêu chuẩn chọn: Có PĐMN cổ rộng ($\text{cổ} \ge 4\text{ mm}$ hoặc $\text{cao/cổ} < 1,5$), đã vỡ hoặc chưa vỡ; Glasgow $> 7$, Hunt-Hess $\le 4$; điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai; có đầy đủ hồ sơ bệnh án.
    • Tiêu chuẩn loại trừ: Túi phình cổ hẹp ($\text{cao/cổ} \ge 1,5$); kèm dị dạng thông động tĩnh mạch (AVM), dò màng cứng; suy gan, suy thận, dị ứng thuốc cản quang nặng; tình trạng hôn mê sâu (Hunt-Hess bậc 5, Glasgow $< 7$).
  2. Quy trình chẩn đoán:
    • Chụp CLVT không tiêm và có tiêm thuốc (CTA) trên máy 64 - 256 dãy: Lát cắt $1,25\text{ mm}$, bước nhảy $0,75\text{ mm}$, tiêm $50\text{ ml}$ cản quang tốc độ $5\text{ ml/s}$ kèm $40\text{ ml}$ nước muối; tái tạo ảnh MIP, MPR, VRT.
    • Chụp CHT 1.5 Tesla: Xung T1W, T2W, FLAIR, T2*W và xung mạch TOF 3D, MRA-DSA.
    • Chụp DSA: Mở đường vào động mạch đùi chung, dùng Heparin 2.500 đơn vị tiêm lòng mạch, chụp chọn lọc hệ cảnh và hệ sống nền, chụp 3D bộc lộ cổ túi.
  3. Quy trình kỹ thuật can thiệp chi tiết:
    • Đặt ống thông dẫn đường (Guiding catheter 6F - 8F) vào động mạch cảnh trong hoặc động mạch đốt sống.
    • Luồn vi ống thông (microcatheter) và vi dây dẫn (microwire) vào trong lòng túi phình.
    • Áp dụng các kỹ thuật phù hợp: Nút coil đơn thuần; nút coil phối hợp bóng chẹn (Hyperform/Hyperglide); nút coil hỗ trợ bởi stent (kỹ thuật luồn vi ống thông ngoài stent hoặc xuyên mắt lưới stent); hoặc đặt stent đổi hướng dòng chảy (Silk, Pipeline).
    • Phác đồ chống đông: Với can thiệp đặt stent theo chương trình, dùng Clopidogrel $75\text{ mg/ngày}$ và Aspirin $100\text{ mg/ngày}$ trước 3 - 5 ngày. Trong cấp cứu, dùng liều nạp bolus tĩnh mạch $300\text{ mg}$ Clopidogrel và $500\text{ mg}$ Aspirin, duy trì Heparin trong can thiệp giữ thời gian đông máu hoạt hóa (ACT) từ 220 đến 250 giây. Sau can thiệp đặt stent, duy trì Aspirin $100\text{ mg/ngày}$ trong 1 năm và Clopidogrel $75\text{ mg/ngày}$ trong 3 đến 6 tháng.
  4. Quy trình theo dõi sau can thiệp:
    • Đánh giá lâm sàng tại thời điểm xuất viện theo thang điểm Rankin sửa đổi (mRS).
    • Kiểm tra định kỳ bằng CHT (các xung T1, T2, FLAIR, T2*, TOF 3D, MRA) tại thời điểm 3 - 6 tháng, 1 năm, 2 năm và 3 năm.
    • Chỉ định chụp lại DSA khi CHT nghi ngờ có tái thông lớn cần can thiệp bổ sung thì hai.
    • Đánh giá biến đổi túi phình: Nhóm ổn định (không thay đổi mức tắc), nhóm tắc tiến triển (mức độ bít tắc tăng lên), nhóm tái thông (xuất hiện dòng chảy mới từ độ A sang B/C hoặc từ B sang C).

Chương 3: Kết quả nghiên cứu (Số liệu phân tích ban đầu)

Phần đầu của Chương 3 mô tả các đặc điểm nhân khẩu học và phân bố mẫu nghiên cứu:

  • Quy mô mẫu: 155 bệnh nhân mang 166 túi phình động mạch não cổ rộng được điều trị can thiệp nội mạch.
  • Phân bố số lượng túi phình trên bệnh nhân:
    • Bệnh nhân có 1 túi phình cổ rộng: 145 bệnh nhân (chiếm 93,6%).
    • Bệnh nhân có 2 túi phình cổ rộng: 9 bệnh nhân (chiếm 5,8%).
    • Bệnh nhân có 3 túi phình cổ rộng: 1 bệnh nhân (chiếm 0,6%).
  • Phân loại theo tình trạng vỡ: 3 bệnh nhân có tiền sử vỡ túi phình cũ nhưng tại thời điểm nghiên cứu đã ổn định được xếp vào nhóm điều trị như túi phình chưa vỡ.
  • Trường hợp lâm sàng điển hình: Bệnh nhân nam 51 tuổi (mã bệnh án I64/28) vào viện do chảy máu mũi tái diễn kéo dài sau tai nạn giao thông 1 tháng; hình ảnh CLVT và CHT phát hiện tụ máu xoang bướm, CTA xác định túi giả phình động mạch cảnh trong đoạn xoang hang vỡ vào xoang bướm, được chỉ định can thiệp nội mạch.

Kết quả và những đóng góp mới

Kết quả chính được ghi nhận trong nghiên cứu

  1. Đặc điểm hình thái và chẩn đoán:
    • Túi phình cổ rộng tập trung chủ yếu ở vòng đa giác Willis, bao gồm các vị trí động mạch thông trước, động mạch cảnh trong (đoạn thông sau, mạch mạc trước, mắt) và chẽ đôi động mạch não giữa.
    • Phương pháp chụp cắt lớp vi tính đa dãy (CTA) và cộng hưởng từ mạch máu (MRA) có giá trị cao trong sàng lọc, tầm soát và định hướng chẩn đoán ban đầu; trong đó DSA là phương pháp có giá trị tuyệt đối trong việc đo đạc kích thước cổ, chiều cao thân túi, tỷ lệ vòm/cổ và đánh giá huyết động học trong túi phình.
  2. Hiệu quả điều trị can thiệp nội mạch:
    • Việc lựa chọn linh hoạt giữa các kỹ thuật can thiệp (nút coil trực tiếp, nút coil có bóng chẹn cổ, nút coil có GĐNM hỗ trợ, GĐNM đổi hướng dòng chảy và nút tắc mạch mang) cho phép kiểm soát thành công các hình thái túi phình phức tạp mà phẫu thuật kẹp clip khó tiếp cận hoặc có nguy cơ tai biến cao.
    • Kỹ thuật đặt giá đỡ nội mạch (stent) và giá đỡ đổi hướng dòng chảy chứng minh khả năng tái tạo lòng mạch mang, bảo tồn các nhánh mạch bên quan trọng xuất phát từ cổ túi và kích thích quá trình biểu mô hóa lớp nội mạc, làm giảm nguy cơ tái thông lâu dài.
  3. Theo dõi sau điều trị:
    • Chụp cộng hưởng từ (CHT) với các chuỗi xung TOF 3D và MRA có tiêm thuốc đối quang từ là phương tiện không xâm lấn, an toàn, không nhiễm xạ, có độ nhạy và độ đặc hiệu cao trong việc theo dõi mức độ ổn định và phát hiện tái thông túi phình, giúp giảm thiểu số lần chụp DSA kiểm tra không cần thiết.

Những đóng góp mới của luận án

  • Về mặt lý luận và khoa học: Tổng kết có hệ thống cơ sở lý luận về huyết động học và giải phẫu bệnh học của túi phình động mạch não cổ rộng; xây dựng thuật toán lựa chọn kỹ thuật can thiệp nội mạch dựa trên kích thước cổ, tỷ lệ vòm/cổ, vị trí giải phẫu và tình trạng vỡ của túi phình.
  • Về mặt thực tiễn lâm sàng:
    • Chuẩn hóa quy trình kỹ thuật can thiệp nút túi phình cổ rộng bằng các dụng cụ hỗ trợ (bóng chẹn, stent đơn, stent kép, stent đổi hướng dòng chảy) tại cơ sở y tế chuyên sâu ở Việt Nam.
    • Thiết lập phác đồ sử dụng thuốc chống ngưng tập tiểu cầu kép (Aspirin và Clopidogrel) an toàn cho cả hai tình huống: can thiệp theo chương trình cho túi phình chưa vỡ và can thiệp cấp cứu cho túi phình vỡ có chỉ định đặt stent.
    • Đề xuất quy trình theo dõi định kỳ sau nút mạch bằng CHT phối hợp DSA, giúp phát hiện sớm các trường hợp tái thông để tiến hành can thiệp bổ sung kịp thời.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Nghiên cứu thực hiện tại một trung tâm duy nhất (Khoa Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Bạch Mai), mặc dù số lượng bệnh nhân đạt 155 ca (vượt cỡ mẫu tối thiểu 102), nhưng mang tính đại diện cho tuyến chuyên sâu cao nhất, chưa phản ánh đầy đủ thực trạng tại các cơ sở y tế tuyến dưới.
  • Thiết kế nghiên cứu là thực nghiệm lâm sàng can thiệp không đối chứng trực tiếp với nhóm phẫu thuật kẹp clip trong cùng thời gian và địa điểm.
  • Thời gian theo dõi dọc sau can thiệp của các bệnh nhân trong nghiên cứu dao động từ 3 tháng đến hơn 3 năm; cần khoảng thời gian theo dõi dài hơn (5 - 10 năm) để đánh giá toàn diện tỷ lệ tái thông muộn và độ bền vững cấu trúc của các loại giá đỡ đổi hướng dòng chảy.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng các nghiên cứu đa trung tâm, tiến cứu ngẫu nhiên có đối chứng nhằm so sánh trực tiếp hiệu quả và chi phí - lợi ích giữa can thiệp nội mạch sử dụng stent đổi hướng dòng chảy với phẫu thuật vi phẫu kẹp cổ túi phình trên nhóm túi phình phức tạp.
  • Đánh giá sâu hơn về kết quả lâm sàng của các thế hệ dụng cụ can thiệp mới như dụng cụ ngắt dòng chảy trong lòng túi phình (WEB, Lunar) khi được triển khai phổ biến tại Việt Nam.
  • Ứng dụng các phần mềm mô phỏng dòng chảy huyết động học (Computational Fluid Dynamics - CFD) kết hợp hình ảnh DSA 3D để tiên lượng nguy cơ tái thông trước khi thực hiện can thiệp.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị trong các lĩnh vực:

  1. Bác sĩ Chẩn đoán hình ảnh và Điện quang can thiệp thần kinh: Cung cấp chi tiết các bước kỹ thuật, cách lựa chọn kích cỡ coil, bóng chẹn, stent, xử trí các tai biến trong can thiệp (vỡ túi phình trong mổ, hình thành huyết khối cấp, co thắt mạch, trôi coil) và phác đồ sử dụng thuốc chống đông.
  2. Bác sĩ Phẫu thuật thần kinh và Hồi sức ngoại thần kinh: Hỗ trợ việc hội chẩn đa chuyên khoa để lựa chọn phương thức điều trị tối ưu (phẫu thuật kẹp clip hay can thiệp nội mạch) cho từng dạng giải phẫu túi phình; nắm bắt các biến chứng nội khoa (co thắt mạch, hạ Natri máu, tràn dịch não thất) và liệu pháp 3H trong hồi sức bệnh nhân chảy máu dưới nhện.
  3. Nghiên cứu sinh, học viên sau đại học chuyên ngành Thần kinh và Chẩn đoán hình ảnh: Cung cấp khung phương pháp nghiên cứu lâm sàng can thiệp, công thức tính cỡ mẫu, hệ thống các thang điểm đánh giá chuẩn mực quốc tế (Hunt-Hess, Fisher, Raymond-Roy, mRS) và tổng quan tài liệu lịch sử chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

1. Tiêu chuẩn xác định một túi phình động mạch não là "cổ rộng" trong luận án là gì?
Trả lời: Theo tiêu chuẩn của luận án, túi phình động mạch não cổ rộng là túi phình có đường kính cổ $\ge 4\text{ mm}$ và/hoặc tỷ lệ chiều cao vòm túi trên đường kính cổ túi (tỷ lệ cao túi/cổ túi hoặc đáy/cổ) $< 1,5$ (xác định chính xác trên hình ảnh chụp mạch số hóa xóa nền DSA).

2. Tại sao việc can thiệp nút túi phình cổ rộng bằng vòng xoắn kim loại (VXKL) đơn thuần lại gặp nhiều khó khăn?
Trả lời: Do cổ túi phình quá rộng so với thân túi hoặc không có gờ giữ, các vòng xoắn kim loại khi thả vào lòng túi phình rất dễ bị lồi, trôi hoặc rơi ra ngoài lòng động mạch mang. Điều này gây nguy cơ hẹp hoặc tắc nghẽn động mạch mang nuôi não, đồng thời không thể thả đủ số lượng coil để đạt độ lèn chặt cao, dẫn đến nguy cơ túi phình tái thông dòng chảy sau điều trị.

3. Phác đồ sử dụng thuốc chống ngưng tập tiểu cầu cho bệnh nhân can thiệp đặt giá đỡ nội mạch (stent) được quy định như thế nào?
Trả lời: Đối với can thiệp theo chương trình (túi phình chưa vỡ), bệnh nhân được dùng thuốc chống ngưng tập tiểu cầu kép gồm Aspirin $100\text{ mg/ngày}$ và Clopidogrel (Plavix) $75\text{ mg/ngày}$ trước can thiệp 3 - 5 ngày. Trong trường hợp can thiệp cấp cứu, bệnh nhân được tiêm nạp tĩnh mạch $300\text{ mg}$ Clopidogrel và $500\text{ mg}$ Aspirin, duy trì Heparin trong thủ thuật để kiểm soát ACT từ 220 đến 250 giây. Sau can thiệp, bệnh nhân duy trì Aspirin $100\text{ mg/ngày}$ trong 1 năm và Clopidogrel $75\text{ mg/ngày}$ trong 3 đến 6 tháng.

4. Vai trò của chụp cộng hưởng từ (CHT) trong việc theo dõi sau can thiệp nút phình mạch não là gì?
Trả lời: Chụp CHT (đặc biệt là chuỗi xung mạch máu TOF 3D và MRA có tiêm thuốc đối quang) là phương pháp không xâm lấn và không nhiễm xạ, có khả năng đánh giá chính xác mức độ tắc túi phình theo thang Raymond-Roy (độ tương đồng cao với DSA, hệ số Kappa = 0,95). CHT đồng thời đánh giá được tình trạng tổn thương nhu mô não (ổ nhồi máu não vi thể, di tích chảy máu trên xung T2*) và mức độ lưu thông của hệ thống não thất.

5. Nghiên cứu ISAT đã so sánh hai phương pháp phẫu thuật kẹp clip và can thiệp nội mạch trên các khía cạnh nào?
Trả lời: Nghiên cứu ISAT tiến hành trên 2.143 bệnh nhân vỡ phình mạch não, chỉ ra rằng can thiệp nội mạch có tỷ lệ tử vong và tàn tật phụ thuộc sau 1 năm thấp hơn so với phẫu thuật (23,7% so với 30,6%) và tỷ lệ động kinh sau điều trị thấp hơn. Tuy nhiên, phẫu thuật kẹp clip có tỷ lệ tái thông thấp hơn, do đó tỷ lệ chảy máu dưới nhện tái phát của phẫu thuật trong 7 năm theo dõi thấp hơn can thiệp nội mạch (0,1%/năm so với 0,2%/năm).


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Nghiên cứu điều trị phình động mạch não cổ rộng bằng phương pháp can thiệp nội mạch" là một công trình nghiên cứu lâm sàng chuyên sâu, được thực hiện trên 155 bệnh nhân mang 166 túi phình cổ rộng tại Bệnh viện Bạch Mai. Luận án đã mô tả chi tiết đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ và chụp mạch số hóa xóa nền, đồng thời chuẩn hóa quy trình điều trị can thiệp nội mạch bằng các kỹ thuật hỗ trợ hiện đại như bóng chẹn cổ, giá đỡ nội mạch đơn/kép, giá đỡ đổi hướng dòng chảy và nút tắc mạch mang. Kết quả nghiên cứu khẳng định tính khả thi, hiệu quả bít tắc túi phình và mức độ an toàn cao của phương pháp can thiệp nội mạch, đồng thời thiết lập quy trình theo dõi định kỳ sau điều trị bằng cộng hưởng từ phối hợp chụp mạch số hóa xóa nền, đóng góp cơ sở khoa học và thực tiễn cho chuyên ngành Điện quang can thiệp thần kinh tại Việt Nam.