Luận án tiến sĩ nghiên cứu điều trị phẫu thuật máu tụ dưới màng cứng cấp tính do chấn thương sọ não nặng tại bệnh viện thanh nhàn

Luận án tiến sĩ nghiên cứu phương pháp phẫu thuật điều trị máu tụ dưới màng cứng cấp do chấn thương sọ não nặng tại Bệnh viện Thanh Nhàn.

Trường đại học

Học viện Quân Y

Chuyên ngành

Ngoại Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học
146
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÀI LIỆU

1.1. Cấu trúc màng não cứng

1.2. Các tổ chức liên quan của màng não cứng

1.3. Động mạch, tĩnh mạch của màng não cứng và nguồn chảy máu trong máu tụ dưới màng cứng cấp tính

1.4. Nguyên nhân, cơ chế chấn thương, cơ chế bệnh sinh, tổn thương giải phẫu máu tụ dưới màng cứng cấp tính do chấn thương

1.4.1. Nguyên nhân, cơ chế chấn thương

1.4.2. Cơ chế bệnh sinh

1.4.3. Tổn thương giải phẫu

1.5. Lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh máu tụ dưới màng cứng cấp tính do chấn thương

1.5.1. Chẩn đoán hình ảnh

1.6. Điều trị máu tụ dưới màng cứng cấp tính do chấn thương

1.6.1. Cấp cứu bệnh nhân máu tụ dưới màng cứng cấp tính do chấn thương

1.6.2. Điều trị bảo tồn

1.6.3. Điều trị phẫu thuật máu tụ dưới màng cứng do chấn thương

1.7. Áp lực nội sọ

1.7.1. Tăng áp lực nội sọ

1.7.2. Đánh giá và ứng dụng áp lực nội sọ

1.8. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước

1.8.1. Trên thế giới

1.8.2. Tại Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.4. Các chỉ tiêu nghiên cứu

2.5. Thông tin chung: độ tuổi, giới tính, nguyên nhân tai nạn

2.6. Đặc điểm lâm sàng và hình ảnh cắt lớp vi tính

2.7. Đặt máy đo áp lực nội sọ

2.8. Điều trị hồi sức bệnh nhân sau mổ

2.9. Kết quả gần

2.10. Kết quả xa

2.11. Một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị

2.12. Thu thập và xử lý số liệu

2.13. Sai số và khống chế sai số

2.14. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.2. Đặc điểm lâm sàng và hình ảnh cắt lớp vi tính

3.3. Đặc điểm tổn thương trên phim chụp cắt lớp vi tính

3.4. Đánh giá kết quả phẫu thuật mở sọ giải áp, lấy máu tụ và một số yếu tố liên quan đến điều trị

3.4.1. Đường mổ, xử lý màng cứng và nắp sọ

3.4.2. Thời điểm và vị trí đặt máy đo áp lực nội sọ

3.5. Kết quả đo áp lực nội sọ

3.6. Đánh giá kết quả gần

3.7. Đánh giá kết quả phẫu thuật sau 6 tháng

3.8. Kết quả phẫu thuật sau 12 tháng và so sánh với thời điểm 6 tháng

3.9. Liên quan của áp lực nội sọ đến kết quả điều trị phẫu thuật

3.10. Liên quan của một số yếu tố khác đến kết quả điều trị phẫu thuật

3.11. Các yếu tố liên quan đến nguy cơ tử vong sau mổ

4. CHƯƠNG 4: ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA BỆNH NHÂN

4.1. Đặc điểm lâm sàng và hình ảnh cắt lớp vi tính

4.1.1. Đặc điểm lâm sàng

4.1.2. Hình ảnh tổn thương trên cắt lớp vi tính

4.2. Đánh giá kết quả phẫu thuật mở sọ giải áp, lấy máu tụ và một số yếu tố liên quan đến điều trị

4.2.1. Thái độ xử lý và phẫu thuật

4.2.2. So sánh ALNS trước và sau phẫu thuật

4.2.3. Tỷ lệ tử vong sau mổ và các biến chứng

4.2.4. Tri giác của bệnh nhân khi ra viện

4.2.5. Kết quả theo dõi bệnh nhân tại các thời điểm ra viện, khám lại

4.2.6. Một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị phẫu thuật

KẾT LUẬN

KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về máu tụ dưới màng cứng cấp tính

Máu tụ dưới màng cứng cấp tính là một trong những tổn thương thường gặp trong chấn thương sọ não nặng. Tổn thương này xảy ra khi có sự chảy máu giữa màng cứng và màng nhện, thường do các nguyên nhân như tai nạn giao thông, tai nạn lao động hoặc các hành vi bạo lực. Theo Tổ chức Y tế thế giới, chấn thương sọ não là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và thương tật, đặc biệt là ở lứa tuổi lao động. Việc điều trị máu tụ dưới màng cứng cấp tính thường phụ thuộc vào mức độ tổn thương và tình trạng của bệnh nhân. Phẫu thuật mở sọ giải áp và lấy máu tụ được coi là phương pháp điều trị hiệu quả cho những trường hợp nặng, tuy nhiên, tỷ lệ tử vong và di chứng sau phẫu thuật vẫn còn cao.

1.1. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

Nguyên nhân chính gây ra máu tụ dưới màng cứng cấp tính thường liên quan đến chấn thương mạnh, dẫn đến tổn thương các tĩnh mạch cầu nối và các xoang tĩnh mạch sọ. Cơ chế bệnh sinh bao gồm sự tăng áp lực nội sọ do khối máu tụ gây ra, dẫn đến chèn ép não và các rối loạn sinh lý khác. Các yếu tố như tuổi tác, tình trạng sức khỏe tổng quát của bệnh nhân cũng ảnh hưởng đến mức độ nghiêm trọng của tổn thương và khả năng hồi phục sau điều trị.

1.2. Chẩn đoán và điều trị

Chẩn đoán máu tụ dưới màng cứng cấp tính thường dựa vào lâm sàng và hình ảnh cắt lớp vi tính. Hình ảnh cắt lớp vi tính cho thấy khối máu tụ rõ ràng, giúp xác định vị trí và kích thước của tổn thương. Điều trị có thể bao gồm cả phương pháp bảo tồn và phẫu thuật, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tình trạng bệnh nhân. Phẫu thuật mở sọ giải áp và lấy máu tụ là phương pháp phổ biến, tuy nhiên, cần phải đánh giá kỹ lưỡng các yếu tố liên quan để nâng cao tỷ lệ sống sót và giảm thiểu di chứng.

II. Đặc điểm lâm sàng và hình ảnh cắt lớp vi tính

Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân bị máu tụ dưới màng cứng cấp tính thường bao gồm các triệu chứng như hôn mê, rối loạn tri giác, và các dấu hiệu thần kinh khu trú. Hình ảnh cắt lớp vi tính cho thấy khối máu tụ có thể nằm ở một hoặc cả hai bên bán cầu, với kích thước và vị trí khác nhau. Việc phân tích hình ảnh cắt lớp vi tính giúp bác sĩ đánh giá mức độ nghiêm trọng của tổn thương và quyết định phương pháp điều trị phù hợp. Các yếu tố như thời gian từ khi chấn thương đến khi nhập viện cũng ảnh hưởng đến kết quả điều trị.

2.1. Đặc điểm lâm sàng

Bệnh nhân thường có triệu chứng rõ rệt như đau đầu, nôn mửa, và mất ý thức. Các triệu chứng này có thể xuất hiện ngay sau chấn thương hoặc sau một khoảng thời gian ngắn. Việc theo dõi các dấu hiệu thần kinh là rất quan trọng để đánh giá tình trạng bệnh nhân và đưa ra quyết định điều trị kịp thời.

2.2. Hình ảnh cắt lớp vi tính

Hình ảnh cắt lớp vi tính cho thấy khối máu tụ dưới màng cứng có thể có hình dạng và kích thước khác nhau. Việc phân tích hình ảnh này không chỉ giúp xác định vị trí của máu tụ mà còn giúp đánh giá mức độ chèn ép não. Các dấu hiệu như phù não và tổn thương phối hợp cũng cần được xem xét để có kế hoạch điều trị hợp lý.

III. Kết quả điều trị phẫu thuật

Kết quả điều trị phẫu thuật máu tụ dưới màng cứng cấp tính tại Bệnh viện Thanh Nhàn cho thấy tỷ lệ sống sót và hồi phục chức năng của bệnh nhân có sự cải thiện đáng kể. Các yếu tố như áp lực nội sọ trước và sau phẫu thuật, thời gian phẫu thuật, và tình trạng lâm sàng của bệnh nhân trước mổ đều có ảnh hưởng lớn đến kết quả điều trị. Việc theo dõi và đánh giá kết quả sau phẫu thuật là cần thiết để cải thiện quy trình điều trị và nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân.

3.1. Đánh giá kết quả gần

Kết quả gần sau phẫu thuật cho thấy nhiều bệnh nhân hồi phục tốt, với tỷ lệ tử vong giảm đáng kể. Việc theo dõi áp lực nội sọ và các dấu hiệu lâm sàng là rất quan trọng trong giai đoạn này để phát hiện sớm các biến chứng có thể xảy ra.

3.2. Đánh giá kết quả xa

Kết quả xa sau 6 tháng và 12 tháng cho thấy nhiều bệnh nhân có thể trở lại cuộc sống bình thường, tuy nhiên vẫn còn một số bệnh nhân gặp phải di chứng. Việc đánh giá các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị như tuổi tác, tình trạng sức khỏe trước mổ, và mức độ tổn thương là cần thiết để cải thiện kết quả điều trị trong tương lai.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu điều trị phẫu thuật máu tụ dưới màng cứng cấp tính do chấn thương sọ não nặng tại bệnh viện thanh nhàn

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cấu trúc màng não cứng 1. Đại thể màng não cứng Màng não cứng là màng xơ dày, đặc, lót mặt trong hộp sọ. Màng não cứng gồm 3 lớp: lớp ngoài, lớp màng não và lớp các tế bào viền.

Màng não cứng nhìn sau * Nguồn: theo Adeeb N. và cộng sự (2012) [13] Lớp ngoài, tức là lớp nằm ngoài nhất, là cốt mạc nội sọ, tạo thành mặt trong của các xương vòm sọ, gắn chắc nhất tại nền não [14]. Cùng với sự tăng lên của tuổi, lớp ngoài màng cứng trở nên dày, thô và dính chặt hơn vào mặt trong của xương sọ. Các mạch máu, lympho, và thần kinh nằm giữa lớp này và xương vòm sọ [15].

Lớp màng não của màng cứng, là lớp màng não cứng thực sự, gắn chắc vào lớp ngoài ngoại trừ tại các xoang tĩnh mạch (TM) và tại các mặt của các vách màng cứng. Lớp này liên tiếp với màng cứng của tủy sống ở lỗ lớn [15]. Lớp các tế bào viền màng cứng là lớp ở trong nhất, được gọi bởi nhiều tên gọi như trung mô dưới màng cứng, trung mô thần kinh, vùng bề mặt, lớp 4 tế bào màng cứng bên trong, lớp tế bào dưới màng cứng và lớp màng cứng giới hạn. Vi thể màng não cứng Hình 1.

Các lớp màng cứng * Nguồn: theo Mack J. và cộng sự (2009) [16] Màng não cứng là một màng được tạo nên từ các bó sợi collagen ken chặt, được sắp xếp thành các lá. Màng cứng gồm nhiều lớp tạo keo, ít sợi chun nên có tính chất dai và không đàn hồi [17]. Các xoang tĩnh mạch màng não cứng Các xoang TM sọ là các kênh TM chạy giữa lớp ngoài và lớp màng não của màng não cứng, được lót bởi các tế bào nội mạc và lớp mỏng, đàn hồi bên trong, nhưng không có lớp cơ và lớp ngoại mạc như các TM khác và không có van [13], [18].

Xoang TM màng não cứng nhận máu từ các TM não thông qua các TM cầu nối và nhận dịch não tủy từ các khoang dưới nhện thông qua các hạt màng nhện, chúng dẫn lưu tới các TM ngoài sọ thông qua các TM liên lạc và các TM tủy xương. Hầu hết các xoang TM màng não cứng liên quan tới mặt trong của xương sọ và tạo các ấn lên xương [19], [20], [21]. 5 Các xoang TM màng não cứng [22]: - Xoang dọc trên: chạy dọc theo đường bám của liềm não vào xương sọ và thường đổ vào các xoang ngang phải ở phía sau. - Xoang dọc dưới: nằm ở bờ tự do của liềm não và đổ vào xoang thẳng.

- Xoang thẳng: nằm dọc theo chỗ bám của liềm não vào lều tiểu não. - Xoang ngang: ở mỗi bên bắt đầu từ ụ chẩm trong và chạy ngang ra ngoài dọc theo chỗ bám của lều tiểu não vào xương chẩm, liên tiếp với xoang xích- ma. - Xoang xích-ma: đi tiếp xuống dưới, ra trước và vào trong tới lỗ TM cảnh thì tiếp với TM cảnh trong. Các xoang tĩnh mạch màng não cứng * Nguồn: theo Nguyễn Quang Quyền (1996) [23] - Xoang hang: nằm trên mặt bên thân xương bướm và cánh lớn xương bướm, ở bên ngoài thành xơ của hố yên.

- Các xoang đá: dẫn máu từ đầu sau xoang hang tới đổ vào xoang xích-ma và vào chỗ bắt đầu của TM cảnh trong. Các tổ chức liên quan của màng não cứng 6 1. Da đầu và tổ chức dưới da  Các lớp của da đầu Bao phủ cả vòm sọ là da và tổ chức dưới da. Da đầu gồm 6 lớp: biểu bì, bì, lớp mỡ dưới da, lớp Galea, lớp tổ chức nhú lỏng lẻo và lớp màng xương sọ.

Lớp bì ở da đầu là vùng duy nhất trong cơ thể có mật độ nang lông cao. Lớp mỡ dưới da rất dày và đóng vai trò như một lớp đệm khi có các sang chấn vào vùng đầu [24].  Cấp máu cho da đầu Da đầu được cấp máu bởi các cặp mạch máu cùng tên từ hai phía và một hệ thống rất dày đặc các mạch nối. Ở phía trước, động mạch trên ổ mắt và động mạch ròng rọc cấp máu cho phần trước da đầu; động mạch thái dương nông cấp máu cho phần da đầu vùng thái dương và đỉnh; ở phía sau da đầu được cấp máu bởi cặp động mạch chẩm [24].

 Chi phối thần kinh của da đầu Chi phối cảm giác của da đầu, ở phía trước chủ yếu từ thần kinh trên ổ mắt và thần kinh trên ròng rọc, ở phía sau từ nhánh trên của đám rối thần kinh cổ (C2 - C3). Sự phân nhánh của các thần kinh này giải thích vì sao bệnh nhân mất cảm giác ở phía sau đường rạch da theo đường chân tóc trán [24]. Hộp sọ Hộp sọ chia thành hai phần là vòm sọ và nền sọ: Vòm sọ do xương trán, xương đỉnh và xương chẩm tạo thành. Vòm sọ mỏng hơn nền sọ, nhất là vùng thái dương sát hố thái dương.

Vùng ụ chẩm ngoài, xương chũm, đường giữa (trên xoang tĩnh mạch dọc trên) dày hơn. Các xương sọ khớp liền nhau. Xương vòm sọ gồm hai bản trong và ngoài, giữa là lớp xương xốp có nhiều hồ máu, khi xương vỡ máu chảy từ lớp này. Nền sọ không chắc, dễ vỡ vì có cấu trúc không đồng đều.

Nền sọ có ba tầng: 7 + Tầng trước: Trước bờ sau cánh nhỏ xương bướm 2 bên. Liên quan tới hốc mắt, nên khi vỡ gây dấu hiệu đeo kính râm hoặc chảy máu, dịch não tuỷ qua mũi [22]. + Tầng giữa: Từ bờ sau cánh nhỏ xương bướm đến bờ trên xương đá 2 bên. Giữa là hố yên phía trước có rãnh thị giác, hai bên có xoang hang, hai bên xoang hang là khe bướm và hố thái dương, có nhiều khe, lỗ cho mạch máu đi qua.

Khi vỡ tầng giữa dễ gây rách mạch máu tạo thành máu tụ dưới màng cứng (MTDMC) hoặc ngoài màng cứng, nếu tổn thương động mạch cảnh trong hay gây dò động mạch cảnh xoang hang [22]. + Tầng sau: Từ bờ trên cánh nhỏ xương bướm trở về sau. Có lỗ chẩm, mào chẩm, ụ chẩm trong liên quan hội lưu Herophile, hai bên là hố tiểu não. Khi vỡ xương dễ làm rách xoang tĩnh mạch gây chảy máu dữ dội [22].

Màng nhện Màng nhện là một màng có hai lá bao bọc não. Nằm phía trong màng cứng và ngoài màng mềm. Giữa hai lá của màng nhện có khoang nhện, là khoang ảo. Khoang giữa màng cứng và màng nhện là khoang dưới cứng.

Giữa màng nhện và màng mềm có khoang dưới nhện. Trong khoang dưới nhện chứa dịch não tủy. Ở phía trên của bán cầu đại não, màng mỏng và trong suốt. Ở nền não màng dày hơn, hơi đục hơn khi hướng về phần trung tâm, trải ra giữa các thùy thái dương và mặt trước cầu não [18].

Màng nhện dễ bị tách khỏi màng cứng. Ở những vị trí mà động mạch (ĐM) cảnh trong và các ĐM đốt sống đi vào khoang dưới nhện, màng nhện dính chặt vào lớp áo ngoài các mạch máu. Sau đó nó lật lên bề mặt các mạch máu và liên tiếp với màng mềm. Tổn thương những TM nhỏ đi qua khoang dưới cứng có thể dẫn đến MTDMC sau các chấn thương sọ não (CTSN) [18].

Màng mềm Màng mềm là lớp màng mỏng bao bọc sát bề mặt của não. Nó là màng mạch vì có nhiều đám rối mạch máu nhỏ. Nó đi sâu vào các khe, các rãnh ở 8 bán cầu đại não cũng như ở tiểu não. Cùng với các mạch máu màng mềm tạo nên các đám rối màng mạch não thất bên, não thất ba và đám rối màng mạch não thất bốn [18].

Động mạch, tĩnh mạch của màng não cứng và nguồn chảy máu trong máu tụ dưới màng cứng cấp tính Động mạch ĐM nuôi cho màng não cứng: Hố sọ trước được nuôi dưỡng bởi nhánh màng não trước tách từ nhánh sàng trước và nhánh sàng sau, ĐM mắt và một nhánh tách từ ĐM màng não giữa; hố sọ giữa được nuôi bởi nhánh màng não giữa và nhánh màng não phụ (là nhánh của ĐM hàm trên); hố sọ sau được nuôi bởi các nhánh tách ra từ ĐM đốt sống và ĐM hầu lên [19]. Tĩnh mạch Các TM màng não bắt đầu từ các TM dạng đám rối trong màng não cứng và dẫn về các TM trong lớp ngoài màng não cứng. Các TM trong lớp ngoài tiếp nối với các hồ của xoang TM dọc trên và với các xoang TM sọ khác, bao gồm cả những TM đi kèm với các ĐM màng não giữa và với các TM tủy xương. Nguồn chảy máu trong MTDMC cấp tính Nguồn chảy máu trong MTDMC cấp tính được đề cập là do tổn thương các TM cầu nối, các xoang TM hoặc các TM vỏ não [25].

- Các TM cầu nối đã được đề cập đến đầu tiên trong các tài liệu về việc liên quan với chảy máu dưới màng cứng. Trotter là người đầu tiên đã đưa ra quan điểm tổn thương TM cầu nối là một nguyên nhân gây nên MTDMC [26]. đã khẳng định rằng phần lớn các xuất huyết dưới màng cứng là do vỡ các TM cầu nối, bắc qua khoang dưới màng cứng, hoặc do vỡ các TM trên bề mặt của màng nhện [27]. Năm 1984, Miller và cộng sự cho rằng phần lớn MTDMC là do chảy máu từ các TM, trong đó chủ yếu là tổn thương TM cầu nối.

Đây là những TM ngắn đi thẳng từ vỏ não tới màng cứng [28]. 9 TM cầu nối tiểu não Trong các nghiên cứu gần đây, đã xác định chi tiết các TM cầu nối trong não. Vùng ở giữa mặt trên của tiểu não và lều tiểu não đã được chia thành 2 typ: nhóm thùy nhộng/đường giữa và nhóm bán cầu tiểu não/ngoài. Các TM cầu nối thùy nhộng đổ vào hội lưu của các xoang và đã được tìm thấy ở đường giữa.

Các TM cầu nối bán cầu tiểu não đổ vào các xoang thuộc lều tiểu não và đã được tìm thấy ở mặt bán cầu tiểu não (mặt dưới) của lều tiểu não [25]. TM cầu nối thái dương TM cầu nối thái dương phân thành các nhóm sau: nhóm xoang hang, nhóm lều, và nhóm đá. Các TM cầu nối đi qua mặt ngoài của thùy thái dương và các TM có thể được chia ra thành nhóm lưng trong, đi vào xoang dọc trên, và nhóm não sau dưới và nhóm não giữa mở vào xoang bên. TM Labbé là lớn nhất trong các TM não dưới và đi từ rãnh bên tới xoang ngang.

TM này được thấy ở mỗi tử thi và được tìm thấy chủ yếu đi phức tạp vào xoang ngang, và chỉ 19% TM Labbé của tử thi đi phức tạp vào TM thuộc lều [29]. TM thuộc TM Trolard đi vào vùng sau trung tâm của xoang TM dọc trên. TM não trên trải dài từ rãnh bên tới rãnh thái dương đỉnh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu điều trị phẫu thuật máu tụ dưới màng cứng cấp tính do chấn thương sọ não nặng tại Bệnh viện Thanh Nhàn là một tài liệu quan trọng tập trung vào phương pháp phẫu thuật điều trị máu tụ dưới màng cứng cấp tính, một biến chứng nguy hiểm của chấn thương sọ não nặng. Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn chi tiết về quy trình điều trị, hiệu quả lâm sàng và các yếu tố tiên lượng, giúp các bác sĩ và nhà nghiên cứu nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực chấn thương thần kinh và phẫu thuật thần kinh.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp điều trị hiện đại, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả chống kết tập tiểu cầu của clopidohrel trong điều trị hội chứng mạch vành cấp, hoặc tìm hiểu sâu hơn về các nghiên cứu liên quan đến điều trị bệnh lý cấp tính qua Luận văn tốt nghiệp đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nhân suy gan cấp tại trung tâm chống độc bệnh viện bạch mai năm 2020 2021. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ đánh giá kết quả điều trị u lympho ác tính không hodgkin tế bào b tái phát bằng phác đồ gdp và ghép tế bào gốc tạo máu tự thân cũng là một tài liệu đáng chú ý để khám phá các phương pháp điều trị tiên tiến khác.