Tổng quan luận án

Bệnh lao tiếp tục là một trong những nguyên nhân gây bệnh tật và tử vong hàng đầu trên thế giới. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 2020 toàn cầu có khoảng 10 triệu người mắc lao. Việt Nam nằm trong nhóm 30 quốc gia có gánh nặng bệnh lao cao nhất thế giới với ước tính khoảng 172.000 ca mắc và tỷ lệ 176 ca trên 100.000 dân. Trong đó, lao khí phế quản (KPQ) là một thể bệnh đặc biệt của lao phổi, xuất hiện ở khoảng 10% đến 40% bệnh nhân lao phổi hoạt động, tập trung ở độ tuổi dưới 35 và có tỷ lệ nữ giới mắc cao hơn nam giới.

Tổn thương viêm và loét do lao KPQ thường dẫn tới sẹo xơ, gây biến chứng hẹp khí phế quản nặng và xẹp phổi từ 60% đến 95% trường hợp dù đã được điều trị đủ phác đồ kháng lao. Tình trạng hẹp KPQ kéo dài dẫn đến phá hủy nhu mô phổi phía hạ lưu, giãn phế quản, suy hô hấp và khiến bệnh nhân trở thành nguồn lây vi khuẩn lao mạn tính. Mặc dù các can thiệp nội soi phế quản (NSPQ) như nong bóng, đốt điện, laser hay đặt stent đã phát triển, tỷ lệ tái hẹp và biến chứng mô hạt vẫn rất cao. Phẫu thuật tạo hình khí phế quản được xem là giải pháp triệt để nhằm phục hồi lưu thông đường thở và bảo tồn tối đa nhu mô phổi. Tuy nhiên, các nghiên cứu chuyên sâu về phẫu thuật tạo hình hẹp KPQ do lao trên thế giới và tại Việt Nam còn rất hạn chế do tính chất phức tạp của bệnh lý và yêu cầu kỹ thuật phẫu thuật lồng ngực - gây mê hồi sức chuyên sâu.

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Trương Thanh Thiết với đề tài "Nghiên cứu điều trị phẫu thuật hẹp khí phế quản do lao" được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống này, tập trung vào hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Nhận xét đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính (CLVT) lồng ngực, nội soi phế quản và mô bệnh học của bệnh hẹp khí phế quản do lao.
  2. Đánh giá kết quả sớm và trung hạn điều trị phẫu thuật tạo hình hẹp khí phế quản do lao.

Nghiên cứu được triển khai trên đối tượng bệnh nhân hẹp khí phế quản do lao được điều trị bằng phẫu thuật tạo hình tại Khoa Phẫu thuật Lồng ngực, Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 5 năm, từ ngày 01/01/2015 đến ngày 31/12/2019.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Phẫu thuật tạo hình khí phế quản được ghi nhận lần đầu bởi Bigger (1932), tiếp nối bởi Griffith (1947) với ca tạo hình phế quản gốc trái do chấn thương, và sau đó được Price-Thomas, Mathey, Paulson và Shaw (1955) chuẩn hóa trong điều trị u và tổn thương viêm. Các nghiên cứu kinh điển của Mulliken và Grillo (1968) cùng Grillo (2004) đã xác lập các giới hạn giải phẫu, kỹ thuật di động đường thở và các thao tác giảm sức căng miệng nối.

Trong bệnh lý hẹp KPQ do lao, y văn quốc tế ghi nhận một số công trình tiêu biểu:

Tác giả Năm công bố Số ca (N) Đặc điểm can thiệp chính Kết quả và biến chứng chính
Kato 1993 36 Cắt nối phế quản gốc (12 ca), cắt thùy trên trái + nối PQ (13 ca), cắt thùy trên phải + nối PQ (5 ca), tạo hình carina (1 ca)... Tử vong: 5,6% (2 ca); tái hẹp: 19,4% (7 ca); mô hạt: 13,8% (5 ca).
Kikuchi 1997 39 Cắt thùy trên trái + nối PQ (13 ca), cắt nối PQ gốc trái (9 ca), cắt thùy trên phải + nối PQ (5 ca)... Tử vong: 2,6% (1 ca do phù phổi); hẹp miệng nối: 10,3% (4 ca).
Kawamura 1999 39 Cắt thùy trên trái + nối PQ (13 ca), cắt nối PQ gốc trái (11 ca), cắt thùy trên phải + nối PQ (6 ca)... Tử vong: 5,1% (2 ca); đặt stent chữ T: 7,7% (3 ca).
Nakajima 1999 10 Cắt nối và tạo hình khí phế quản Kết quả tốt ở 8 ca; tái hẹp ở 2 ca (20%), 1 ca tử vong do đứt miệng nối.
Tsukioka 2015 12 Cắt thùy + nối PQ (5 ca), cắt nối PQ (4 ca), cắt nối khí quản (3 ca) Tử vong: 0%; tái hẹp: 8,3% (1 ca cần nong ống cứng sau 2 tháng).
Li 2018 8 Cắt nối PQ gốc trái (3 ca), cắt thùy trên trái + nối PQ (3 ca), cắt thùy trên - giữa phải + nối PQ (2 ca) Miệng nối tốt ở tất cả các ca; 1 ca khàn tiếng hồi phục sau 2 tháng.
Pulle 2021 20 Tạo hình PQ gốc trái (12 ca), cắt phổi trái (4 ca), cắt nối khí quản (2 ca), cắt thùy phải (2 ca) Biến chứng sau mổ chiếm 25%, rò khí kéo dài thường gặp nhất.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về phẫu thuật đường thở trước đây chủ yếu tập trung vào chấn thương và hẹp khí quản sau đặt nội khí quản:

  • Trần Quyết Tiến (2004) báo cáo 14 trường hợp vỡ KPQ do chấn thương (2 ca tử vong, 1 ca tái hẹp).
  • Nguyễn Duy Tân (2013) tổng kết 132 trường hợp chấn thương KPQ (tử vong 2,2%, sẹo hẹp 3%).
  • Vũ Hữu Vĩnh (2019, 2020) nghiên cứu 49 ca hẹp khí quản bẩm sinh, 75 ca tổn thương KPQ (trong đó có 3 ca do lao), và loạt 7 ca tạo hình hẹp KPQ sau lao (1 ca tử vong).
  • Nguyễn Đức Thắng và cộng sự (2021) báo cáo 72 trường hợp hẹp khí quản sau đặt nội khí quản và mở khí quản.

Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là chưa có công trình nào trong nước lẫn khu vực khảo sát toàn diện trên một cỡ mẫu đủ lớn về đặc điểm đa phương tiện (CLVT dựng hình 3D, NSPQ, mô bệnh học) kết hợp đánh giá chi tiết kỹ thuật phẫu thuật và kết quả theo dõi sớm lẫn trung hạn chuyên biệt cho nhóm bệnh nhân hẹp KPQ do lao. Luận án của Trương Thanh Thiết được thực hiện tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch nhằm giải quyết toàn diện khoảng trống thực tiễn này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các thang đo chuẩn

Luận án ứng dụng các hệ thống phân loại và tiêu chuẩn đánh giá y học đã được chuẩn hóa:

  • Phân loại hẹp đường thở theo Freitag (2007): Phân định tổn thương theo 5 vị trí giải phẫu (I: 1/3 trên KQ, II: 1/3 giữa KQ, III: 1/3 dưới KQ, IV: PQ gốc phải, V: PQ gốc trái); phân loại kiểu hẹp thành hẹp cấu trúc (u, mô hạt, vặn xoắn, chèn ép ngoài, sẹo hẹp) và hẹp chức năng (mềm sụn, mềm thành màng); phân độ hẹp theo 6 mức độ từ 0 (không hẹp) đến 5 (tắc hoàn toàn 91-100%).
  • Phân loại mức độ hẹp theo Myer-Cotton (1994): 4 mức độ hẹp dựa trên tỷ lệ phần trăm tắc nghẽn chu vi lòng khí quản (Độ I: ≤50%; Độ II: 51-70%; Độ III: 71-99%; Độ IV: 100%).
  • Phân loại tổn thương lao nội phế quản qua nội soi theo Lee và Chung (2000): Gồm 7 dạng tổn thương đại thể (hoại tử bã đậu, phù nề sung huyết, xơ hóa sẹo hẹp, khối u, mô hạt, loét, viêm phế quản không đặc hiệu).
  • Phân loại thể bệnh lao KPQ theo Moon: Lao hoạt động (tổn thương viêm hoạt động qua nội soi hoặc mô bệnh học bã đậu/AFB (+)) và lao xơ sẹo hẹp.
  • Thang điểm thể trạng Karnofsky và thang điểm khó thở mMRC (Modified Medical Research Council).
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán mô bệnh học tổn thương lao: Nhuộm Ziehl-Neelsen tìm AFB, đánh giá phản ứng viêm mô hạt, hoại tử bã đậu, tế bào biểu mô và đại bào Langhans.

Thiết kế nghiên cứu và đối tượng

  • Thiết kế: Nghiên cứu tiến cứu mô tả hàng loạt trường hợp (prospective case series). Tác giả đề tài trực tiếp thực hiện phẫu thuật, theo dõi và chăm sóc hậu phẫu cho toàn bộ nhóm bệnh nhân.
  • Thời gian và địa điểm: Từ ngày 01/01/2015 đến ngày 31/12/2019 tại Khoa Phẫu thuật Lồng ngực, Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Cỡ mẫu: Cỡ mẫu thuận tiện gồm toàn bộ 48 bệnh nhân thỏa mãn các tiêu chuẩn chọn bệnh trong khoảng thời gian nghiên cứu.
  • Tiêu chuẩn chọn bệnh:
    • Bệnh nhân có tiền căn lao phổi hoặc lao KPQ đã được điều trị thuốc kháng lao ít nhất 3 tháng và có kết quả xét nghiệm đàm tìm vi trùng lao (AFB) âm tính.
    • Bệnh nhân được chẩn đoán hẹp KPQ do lao mức độ nặng trên CLVT lồng ngực và NSPQ ống mềm (tỷ lệ hẹp đường kính > 50% hoặc khẩu kính lòng đoạn hẹp ≤ 6mm), có biến chứng tại nhu mô phổi phía hạ lưu (xẹp phổi, ứ đọng, nhiễm trùng tái diễn).
    • Được chỉ định và thực hiện phẫu thuật tạo hình khí phế quản.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân chỉ phẫu thuật đặt stent đơn thuần; bệnh nhân hoặc người giám hộ không đồng ý tham gia nghiên cứu; bệnh nhân không tái khám theo dõi định kỳ sau mổ.

Công cụ đo lường và kỹ thuật thu thập dữ liệu

  • Chụp cắt lớp vi tính phân giải cao (HRCT) dựng hình 3D: Khảo sát cây KPQ, nội soi phế quản ảo, xác định vị trí, kiểu hẹp, đo chiều dài và đường kính lòng đoạn hẹp, đánh giá tổn thương nhu mô phổi và hệ thống hạch phì đại.
  • Nội soi phế quản ống mềm (Olympus CV-170): Đánh giá tổn thương niêm mạc, kiểu hẹp, đo đường kính hẹp (ước lượng bằng đầu ống soi 6mm hoặc phần mềm SENSA), sinh thiết mô học, chải rửa làm AFB, PCR lao.
  • Đo đạc trong phẫu thuật: Đo trực tiếp chiều dài đoạn hẹp sau khi cắt bỏ bằng thước đo chuyên dụng có độ chính xác 0,5 mm.
  • Thăm dò chức năng hô hấp (CNHH): Đo FVC, FEV1, PEF, FEF25-75 trước mổ và định kỳ sau mổ.

Nội dung chính theo từng chương

Mở đầu

Trình bày cơ sở khoa học, tính cấp thiết và gánh nặng dịch tễ của bệnh lao tại Việt Nam. Phân tích thực trạng lao KPQ gây biến chứng sẹo hẹp lòng đường thở nặng, dẫn đến phá hủy phổi và suy hô hấp. Nêu rõ sự cần thiết phải phẫu thuật tạo hình bảo tồn phổi tại bệnh viện tuyến cuối (Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch) và xác định 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận án.

Chương 1: Tổng quan tài liệu

  • Giải phẫu phẫu thuật khí phế quản: Mô tả chi tiết kích thước, cấu trúc vòng sụn - màng cơ, hình thái thiết diện ngang (chữ C, chữ U, elip), liên quan giải phẫu quan trọng (động mạch vô danh, quai tĩnh mạch đơn, cung động mạch chủ, thực quản, thần kinh quặt ngược thanh quản). Phân tích đặc điểm tưới máu vi tuần hoàn từ các động mạch giáp dưới, động mạch phế quản và nhánh thực quản nhằm nhấn mạnh nguyên tắc bảo tồn máu nuôi khi phẫu tích. Mô tả các biến thể giải phẫu như phế quản khí quản, phế quản tim phụ và cầu nối phế quản.
  • Bệnh sinh và lâm sàng lao KPQ: Trình bày 5 giả thuyết bệnh sinh (xâm lấn trực tiếp từ nhu mô, lan tràn qua đờm, đường máu, rò hạch lao vào lòng KPQ, dẫn truyền bạch huyết quanh phế quản); vai trò của các cytokine (TGF-beta, IFN-gamma) kích thích tăng sinh xơ hóa; các thể lâm sàng và hình ảnh nội soi theo Lee - Chung.
  • Chẩn đoán hẹp KPQ do lao: Giá trị của xét nghiệm AFB đàm, PCR; vai trò của HRCT dựng hình 3D đa bình diện, NSPQ ống mềm và tiêu chuẩn chẩn đoán giải phẫu bệnh (nhuộm ZN, viêm hạt, hoại tử bã đậu, đại bào Langhans).
  • Các phương pháp điều trị: Tổng quan các phác đồ thuốc kháng lao chuẩn (A1: 2RHZE/4RHE; A2: 2RHZE/4RH); các kỹ thuật nội soi phế quản can thiệp (nong que, nong bóng, đốt điện, laser, áp lạnh, đặt stent kim loại/silicone Dumon) và những hạn chế như biến chứng mô hạt, di lệch stent.
  • Kỹ thuật phẫu thuật tạo hình KPQ: Phân tích kỹ thuật kiểm soát đường thở và gây mê thông khí một phổi (qua ống nội khí quản vô trùng tại phẫu trường hoặc nội khí quản hai nòng); các đường mổ tiếp cận (đường cổ, đường cổ - trung thất trên, mở ngực sau bên); các thao tác giải phóng giảm sức căng miệng nối (gập cổ, giải phóng xương móng, cắt dây chằng tam giác phổi, bóc tách rốn phổi, mở màng tim quanh tĩnh mạch phổi theo Grillo); kỹ thuật khâu nối tận - tận bằng chỉ tan chậm (Vicryl, PDS) mũi rời hoặc mũi liên tục (Kutlu); kỹ thuật tạo hình khí quản trượt (sliding tracheoplasty); các biến chứng sau mổ (bục miệng nối, hẹp tái phát, mô hạt, rò khí, tổn thương thần kinh quặt ngược).
  • Tổng quan tình hình nghiên cứu: Điểm lại các công trình của Kato, Kikuchi, Kawamura, Tsukioka, Li, Pulle trên thế giới và Trần Quyết Tiến, Nguyễn Duy Tân, Vũ Hữu Vĩnh, Nguyễn Đức Thắng tại Việt Nam.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu tiến cứu mô tả hàng loạt ca trên 48 bệnh nhân tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch từ 2015 đến 2019. Định nghĩa rõ ràng các biến số nghiên cứu: thời gian chẩn đoán lao trước mổ, chiều dài và đường kính đoạn hẹp (đo qua CLVT, NSPQ và đo trực tiếp trong mổ), các chỉ số CNHH (FVC, FEV1, PEF, FEF25-75), thang điểm khó thở mMRC, điểm Karnofsky, đặc điểm mô bệnh học đoạn hẹp, phương pháp phẫu thuật và kiểu khâu nối, các biến chứng phẫu thuật và quy trình theo dõi định kỳ sau xuất viện. Quy định chặt chẽ các vấn đề đạo đức nghiên cứu y sinh học.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trình bày hệ thống số liệu thu thập được từ 48 bệnh nhân nghiên cứu, phân tách theo hai nhóm: nhóm bệnh nhân hẹp khí quản và nhóm bệnh nhân hẹp phế quản gốc. Số liệu mô tả chi tiết:

  • Phân bố tuổi, giới tính (nữ giới chiếm ưu thế), lý do nhập viện và tiền sử bệnh.
  • Phân bố điểm Karnofsky và mức độ khó thở mMRC trước phẫu thuật.
  • Đặc điểm X-quang phổi và hình thái tổn thương trên CLVT ngực (vị trí hẹp, chiều dài, đường kính, hình thái dày thành, hẹp hình phễu, tổn thương nhu mô hạ lưu).
  • Đặc điểm hình ảnh qua NSPQ: phân độ theo Freitag và Myer-Cotton, tình trạng niêm mạc (xơ sẹo, hoại tử, mô hạt).
  • Kết quả mô bệnh học đoạn phế quản cắt bỏ: tỷ lệ viêm mô hạt, hoại tử bã đậu, xơ hóa và tỷ lệ AFB mô học.
  • Kỹ thuật phẫu thuật: thời gian phẫu thuật, lượng máu mất, phương pháp phẫu thuật tạo hình (cắt nối tận - tận, cắt thùy kèm tạo hình phế quản, tạo hình trượt), các thao tác giải phóng giảm căng được áp dụng, loại chỉ và kỹ thuật khâu (mũi rời, mũi vắt).
  • Biến chứng chu phẫu và tỷ lệ tử vong.
  • Kết quả sớm khi xuất viện và theo dõi trung hạn: thay đổi đường kính miệng nối qua NSPQ và CLVT, cải thiện triệu chứng lâm sàng, thay đổi các chỉ số CNHH (FVC, FEV1) sau mổ so với trước mổ, tỷ lệ hẹp miệng nối tái phát và các can thiệp bổ sung qua nội soi.

Chương 4: Bàn luận

  • Phân tích đối chiếu đặc điểm lâm sàng và dịch tễ học hẹp KPQ do lao với y văn thế giới, lý giải nguyên nhân bệnh nhân thường được chẩn đoán muộn hoặc nhầm lẫn với hen phế quản, giãn phế quản.
  • Đánh giá sự tương đồng và khác biệt giữa kích thước đoạn hẹp đo trên CLVT, NSPQ và đo đạc trực tiếp trong mổ; phân tích độ tin cậy của chụp cắt lớp vi tính dựng hình 3D trong lập kế hoạch phẫu thuật.
  • Bàn luận về đặc điểm mô bệnh học và tính chất lao hoạt động tại đoạn hẹp xơ hóa, từ đó xác lập sự cần thiết của phác đồ điều trị kháng lao tiếp tục sau mổ.
  • Đánh giá kết quả kỹ thuật tạo hình, so sánh phương pháp khâu nối mũi rời và mũi liên tục, vai trò của các thao tác giải phóng giảm sức căng (hạ xương móng, bóc tách màng ngoài tim, cắt dây chằng phổi) nhằm ngăn ngừa biến chứng bục miệng nối.
  • So sánh tỷ lệ biến chứng (hẹp miệng nối sớm/muộn, mô hạt, rò khí) và tỷ lệ tử vong của nghiên cứu với các công trình quốc tế của Kato, Kikuchi, Kawamura, Tsukioka, Li và Pulle.
  • Phân tích các yếu tố liên quan đến kết quả miệng nối sau phẫu thuật.

Kết quả và những đóng góp mới

Kết quả chính của luận án

  1. Đặc điểm chẩn đoán đa phương tiện:

    • Xác lập bức tranh lâm sàng đặc thù của hẹp KPQ do lao: gặp chủ yếu ở người trẻ, ưu thế ở nữ giới, triệu chứng ho kéo dài kháng trị (ho cơn, ho tiếng sủa) và khó thở tiến triển.
    • Chứng minh sự phối hợp giữa HRCT dựng hình 3D và NSPQ ống mềm là phương pháp chẩn đoán toàn diện, cho phép đánh giá chính xác vị trí, hình thái, chiều dài đoạn hẹp, mức độ hẹp và tình trạng nhu mô phổi phía hạ lưu để lập kế hoạch mổ.
    • Kết quả mô bệnh học xác nhận tổn thương viêm hạt lao đặc hiệu, hoại tử bã đậu và xơ hóa thành phế quản, cung cấp bằng chứng cho việc kiểm soát vi khuẩn lao kết hợp can thiệp ngoại khoa.
  2. Hiệu quả điều trị phẫu thuật:

    • Thực hiện thành công phẫu thuật tạo hình phế quản gốc và khí quản trên loạt 48 bệnh nhân với tỷ lệ an toàn cao, tỷ lệ tử vong và biến chứng nặng ở mức thấp, tương đương với các trung tâm phẫu thuật lồng ngực lớn trên thế giới.
    • Phẫu thuật phục hồi lưu thông đường thở rõ rệt: gia tăng có ý nghĩa thống kê khẩu kính đường thở tại vị trí hẹp, giúp cải thiện rõ rệt chức năng thông khí phổi (FVC, FEV1), giảm mức độ khó thở mMRC và nâng cao chỉ số thể trạng Karnofsky sau mổ.
    • Bảo tồn tối đa nhu mô phổi còn chức năng, hạn chế chỉ định cắt toàn bộ một bên phổi ở người bệnh trẻ tuổi.

Những đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn

  • Về mặt khoa học: Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên tại Việt Nam với cỡ mẫu lớn (48 ca) phân tích toàn diện về hình thái bệnh học, chẩn đoán hình ảnh và kết quả phẫu thuật tạo hình điều trị hẹp KPQ do lao.
  • Về mặt thực tiễn lâm sàng:
    • Xây dựng quy trình chẩn đoán và chỉ định phẫu thuật chuẩn hóa: phẫu thuật được chỉ định khi bệnh nhân đã điều trị thuốc kháng lao tối thiểu 3 tháng, AFB đàm âm tính, tổn thương hẹp nặng (>50% hoặc đường kính ≤ 6mm) có biến chứng cơ học tại phổi.
    • Chuẩn hóa các bước kỹ thuật phẫu thuật lồng ngực chuyên sâu: kỹ thuật kiểm soát đường thở và gây mê phối hợp; các thao tác phẫu tích bảo tồn nguồn máu nuôi phế quản; các nghiệm pháp giải phóng giảm sức căng miệng nối theo Grillo; kỹ thuật khâu nối tận - tận bằng chỉ tan chậm và bọc che phủ miệng nối bằng vạt mô tự thân (màng phổi trung thất, màng ngoài tim).
    • Đề xuất phác đồ theo dõi định kỳ bằng nội soi phế quản sau mổ để phát hiện sớm và xử trí kịp thời biến chứng mô hạt hoặc tái hẹp bằng can thiệp nội soi ít xâm lấn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Nghiên cứu được thực hiện đơn trung tâm tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch - bệnh viện chuyên khoa tuyến cuối về lao và bệnh phổi tại miền Nam, nơi tập trung nhiều ca bệnh nặng, nên có thể tồn tại sai số lựa chọn so với mặt bằng chung.
  • Cỡ mẫu (N = 48) được thu thập theo phương pháp thuận tiện trong 5 năm; mặc dù lớn hơn đa số các báo cáo đơn lẻ trên thế giới về phẫu thuật hẹp KPQ do lao, cỡ mẫu này vẫn cần mở rộng hơn để phân tích sâu các phân nhóm biến chứng hiếm gặp.
  • Toàn bộ các ca phẫu thuật trong loạt nghiên cứu được thực hiện qua đường mở ngực hở truyền thống hoặc đường mổ cổ, chưa áp dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực (VATS) hoặc phẫu thuật có robot hỗ trợ cho tạo hình KPQ do lao.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng nghiên cứu đa trung tâm và theo dõi dài hạn (trên 5-10 năm) để đánh giá độ bền vững của miệng nối và chất lượng cuộc sống lâu dài của người bệnh.
  • Nghiên cứu ứng dụng các kỹ thuật phẫu thuật ít xâm lấn (phẫu thuật nội soi lồng ngực có video hỗ trợ - VATS) trong tạo hình phế quản chọn lọc nhằm giảm đau đớn và rút ngắn thời gian hồi phục hậu phẫu.
  • Nghiên cứu ứng dụng các vật liệu sinh học mới, ống ghép khí quản tự thân/nhân tạo và liệu pháp hỗ trợ tại chỗ (như Mitomycin C) đối với các trường hợp hẹp khí phế quản đoạn rất dài không thể cắt nối tận - tận trực tiếp.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cao cho nhiều nhóm đối tượng chuyên môn:

  • Phẫu thuật viên ngoại lồng ngực và học viên sau đại học: Cung cấp tài liệu tham khảo chi tiết về giải phẫu ngoại khoa, các kỹ thuật di động giải phóng giảm căng đường thở, quy trình khâu miệng nối tận - tận, xử lý các tổn thương phức tạp vùng carina và khí phế quản.
  • Bác sĩ gây mê hồi sức: Cung cấp quy trình kiểm soát đường thở qua phẫu trường, kỹ thuật đặt ống nội khí quản chọn lọc hai nòng và chiến lược thông khí bảo vệ phổi trong phẫu thuật đường thở lớn.
  • Bác sĩ chuyên khoa lao và bệnh phổi (hô hấp): Nâng cao nhận thức chẩn đoán sớm lao KPQ, phối hợp hiệu quả giữa điều trị nội khoa kháng lao, can thiệp nội soi phế quản và lựa chọn đúng thời điểm chuyển phẫu thuật tạo hình bảo tồn phổi.
  • Phần đáng tham khảo nhất trong công trình:
    • Mô tả giải phẫu và hệ thống mạch máu nuôi dưỡng khí phế quản (Chương 1).
    • Quy trình và kỹ thuật thực hiện các thao tác giảm sức căng miệng nối khí quản - phế quản theo phân đoạn chiều dài đoạn hẹp (Bảng kỹ thuật theo Grillo, Chương 1).
    • Quy trình chẩn đoán đối chiếu hình ảnh CLVT dựng hình 3D và NSPQ ống mềm (Chương 2 và Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao bệnh nhân hẹp khí phế quản do lao cần được điều trị kháng lao ít nhất 3 tháng và có AFB đàm âm tính trước khi mổ?

Điều trị thuốc kháng lao ít nhất 3 tháng nhằm kiểm soát vi khuẩn lao hoạt động, chuyển quá trình viêm hoại tử bã đậu cấp tính sang giai đoạn xơ hóa ổn định và làm sạch vi khuẩn trong đường thở (AFB đàm âm tính). Điều này giúp giảm thiểu nguy cơ bùng phát nhiễm trùng lao lan tỏa sau mổ, giảm hiện tượng phù nề mô tại vị trí phẫu tích, đảm bảo điều kiện lành thương tối ưu và hạn chế nguy cơ bục miệng nối.

2. Hai hệ thống phân loại mức độ hẹp KPQ chính được luận án áp dụng là gì?

Luận án áp dụng hệ thống phân loại của Freitag (2007) (phân chia 5 vị trí giải phẫu, 2 nhóm kiểu hẹp cấu trúc/chức năng, và 6 mức độ từ 0 đến 5 tương ứng với tỷ lệ giảm khẩu kính 0%, ≤25%, 26-50%, 51-75%, 76-90% và 91-100%) và hệ thống phân loại Myer-Cotton (1994) (gồm 4 mức độ: Độ I ≤50%, Độ II 51-70%, Độ III 71-99%, Độ IV 100% bít tắc hoàn toàn).

3. Những kỹ thuật giải phóng nào được áp dụng để giảm sức căng miệng nối trong phẫu thuật khí phế quản?

Theo các nguyên lý của Grillo được luận án tổng kết:

  • Phẫu thuật đường cổ: Gập cổ và cố định cằm (giúp giảm căng cho đoạn cắt 4,5 cm); bổ sung giải phóng xương móng hoặc cắt cơ giáp móng (giúp cắt nối đoạn hẹp lên đến 6,5 cm).
  • Phẫu thuật đường ngực: Cắt dây chằng tam giác phổi dưới và di động rốn phổi phải (cho đoạn hẹp 3 cm); bóc tách giải phóng động - tĩnh mạch phổi phải trong bao màng ngoài tim (cho đoạn hẹp 4 cm); cắt và cấy lại phế quản gốc trái vào phế quản trung gian (cho đoạn hẹp lên tới 6,5 cm).

4. Ưu điểm nổi bật của phẫu thuật tạo hình so với cắt toàn bộ phổi trong hẹp phế quản do lao là gì?

Phẫu thuật tạo hình phế quản (cắt đoạn hẹp nối tận - tận hoặc cắt thùy kèm tạo hình phế quản) giúp loại bỏ triệt để đoạn phế quản sẹo xơ tắc nghẽn nhưng vẫn giữ lại các phân thùy hoặc thùy phổi lành phía hạ lưu. Điều này giúp bảo tồn tối đa thể tích và chức năng thông khí của phổi (FVC, FEV1), hạn chế biến chứng tâm phế mạn và suy hô hấp sau mổ, đặc biệt quan trọng đối với nhóm bệnh nhân lao KPQ vốn phần lớn là người trẻ tuổi.


Kết luận

Luận án tiến sĩ y học của Trương Thanh Thiết là công trình chuyên khảo sâu sắc về điều trị ngoại khoa sẹo hẹp khí phế quản do lao tại Việt Nam. Nghiên cứu đã chứng minh tính hiệu quả và độ an toàn của phẫu thuật tạo hình khí phế quản trên 48 bệnh nhân tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch giai đoạn 2015–2019, giúp khôi phục lưu thông đường thở và bảo tồn nhu mô phổi. Phối hợp chẩn đoán giữa chụp cắt lớp vi tính phân giải cao dựng hình 3D, nội soi phế quản ống mềm và kiểm soát chặt chẽ điều trị kháng lao trước mổ là nền tảng quyết định thành công của can thiệp phẫu thuật. Công trình cung cấp hệ thống dữ liệu lâm sàng, giải phẫu bệnh và quy trình kỹ thuật ngoại khoa có giá trị thực tiễn cao cho chuyên ngành Ngoại Lồng ngực và Hô hấp.