Tổng quan nghiên cứu

Kinh tế biển và du lịch biển đảo giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam, khi đóng góp tới 71,5% tổng doanh thu lữ hành toàn quốc và thu hút trên 75% lượng khách quốc tế. Riêng nhóm 20% các địa phương ven biển dẫn đầu cả nước đã chiếm tới 75,8% tổng doanh thu du lịch, khẳng định tiềm năng to lớn của không gian biển đảo. Nằm ở vùng biển phía Đông Bắc thuộc tỉnh Quảng Ninh, quần đảo Cô Tô sở hữu vị thế tiền tiêu chiến lược về an ninh quốc phòng cùng tài nguyên thiên nhiên phong phú. Huyện đảo gồm hơn 50 hòn đảo lớn nhỏ với tổng diện tích tự nhiên 47,2 km2, tọa lạc trong vùng biển kéo dài từ 20°55’ đến 21°15’ vĩ độ Bắc và từ 107°35’ đến 108°20’ kinh độ Đông. Mặc dù cách đất liền khoảng 25 hải lý và sở hữu ngư trường rộng lớn 300 km2, Cô Tô đang đối mặt với những thách thức địa lý phức tạp như tính mùa vụ khí hậu rõ rệt, tần suất chịu ảnh hưởng từ 5 đến 7 cơn bão mỗi năm, áp lực suy thoái tài nguyên và hạn chế nguồn nước ngọt khi nhu cầu dự báo lên đến 2.140,45 nghìn m3/năm.

Đề tài tập trung giải quyết bài toán mâu thuẫn giữa khai thác tiềm năng địa lý tự nhiên và yêu cầu bảo tồn môi trường sinh thái biển đảo dễ tổn thương. Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xác định mức độ thuận lợi của các điều kiện địa mạo, khí hậu, hải văn và sinh thái; đồng thời đề xuất định hướng tổ chức không gian lãnh thổ du lịch bền vững. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trên hai đảo trọng điểm là Cô Tô Lớn và Thanh Lân, phân tích chuỗi số liệu kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 - 2022 và kết quả khảo sát thực địa năm 2023. Luận văn mang ý nghĩa khoa học sâu sắc khi hoàn thiện phương pháp luận đánh giá tổng hợp điều kiện địa lý biển đảo bằng thang điểm có trọng số, cung cấp luận cứ thực tiễn giúp địa phương kiểm soát sức tải du lịch, bảo vệ 15.485 m3/ngày tiềm năng nước ngầm và định vị thương hiệu du lịch biển đảo sinh thái chất lượng cao.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết hệ thống lãnh thổ du lịch do các nhà địa lý học kinh tế khởi xướng, tiêu biểu là luận điểm của Preobrazhensky năm 1974 và Pirojnik năm 1985 về tính nhịp điệu của cảnh quan và cấu trúc không gian nghỉ dưỡng. Đồng thời, tác giả vận dụng lý thuyết sinh thái cảnh quan toàn diện của Phạm Quang Anh năm 1996 để phân tích mối liên hệ hữu cơ giữa các hợp phần tự nhiên với hoạt động nhân văn. Mô hình đánh giá tổng hợp đa tiêu chí kết hợp trọng số được lựa chọn làm khung phân tích chủ đạo, tích hợp mô hình động lực DPSIR nhằm làm rõ mối quan hệ tương tác giữa động lực phát triển, áp lực môi trường, trạng thái sinh thái, tác động xã hội và các phản ứng chính sách.

Khung lý thuyết định hình thông qua bốn khái niệm then chốt: du lịch biển đảo như một thể tổng hợp dịch vụ khai thác tài nguyên đại dương; sức chứa du lịch bao gồm sức chứa sinh thái, kinh tế và xã hội; chỉ số thích nghi sinh khí hậu; và tổ chức lãnh thổ du lịch bền vững theo tinh thần của Luật Du lịch năm 2017. Các khái niệm này liên kết chặt chẽ nhằm xác lập giới hạn khai thác an toàn cho hệ thống tài nguyên đảo tiền tiêu.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn khai thác hệ thống dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê huyện Cô Tô giai đoạn 2010 - 2022, báo cáo tổng thể của Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Cô Tô, dữ liệu trạm khí tượng hải văn và kết quả kế thừa từ đề tài cấp nhà nước mã số KC.20 do Giáo sư Phạm Hoàng Hải làm chủ nhiệm. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa chuyên sâu vào tháng 3 và tháng 4 năm 2023 trên địa bàn các đảo trọng điểm.

Cỡ mẫu điều tra xã hội học được xác định gồm 350 du khách, thu về 328 phiếu hợp lệ với tỷ lệ hoàn thành 93,7%. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp thuận tiện tại các nút giao thông và bãi tắm chính như Tình Yêu, Hồng Vàn, Vàn Chảy và bến cảng thị trấn Cô Tô, nhằm đảm bảo tính đại diện về giới tính, độ tuổi và mục đích chuyến đi. Tác giả chọn phương pháp phân tích đánh giá tổng hợp bằng thang điểm có trọng số kết hợp ứng dụng hệ thông tin địa lý MapInfo và ArcGIS. Lý do lựa chọn phương pháp này là khả năng định lượng hóa chính xác các tham số tự nhiên rời rạc như nhiệt độ nước biển 23,7°C, độ mặn 30,9‰, biên độ triều 0,6 - 4,1m và độ dốc địa hình trên 20°, từ đó tích hợp thành bản đồ phân vùng không gian trực quan, khắc phục hoàn toàn sự thiên lệch của các phương pháp đánh giá định tính truyền thống.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tài nguyên địa hình bãi biển và địa mạo cấu trúc của Cô Tô mang giá trị khai thác du lịch đặc biệt cao. Địa chất đảo thuộc hệ tầng Cô Tô không chứa carbonat có tuổi Ocdovic thượng - Silua hạ, cấu tạo bởi cát sạn kết quaczit và đá phiến silic, tạo nên sự khác biệt hoàn toàn với địa hình karst vịnh Hạ Long. Đồng bằng tích tụ cát biển chiếm tới 33,3% diện tích đảo Cô Tô Lớn, tạo ra hàng loạt bãi tắm quy mô lớn: bãi Vàn Chảy dài 4,0 km với cát mịn và rạn san hô quý; bãi Hồng Vàn dài 3,5 km thoai thoải bên rừng Chõi; bãi Tình Yêu dài 1,5 km chạy dọc trung tâm thị trấn; cùng các bãi Ba Châu, C67 và Hải Quân dài khoảng 1,0 km tại xã Thanh Lân. Bên cạnh đó, các vách đá mài mòn đứng sừng sững tại bãi đá Cầu Mỵ và Móng Rồng với sườn dốc địa hình trên 50 - 60° tạo tiềm năng phát triển du lịch mạo hiểm và ngắm cảnh độc đáo.

Thứ hai, tính mùa vụ khí hậu và hải văn chi phối mạnh mẽ chu kỳ hoạt động du lịch. Nền nhiệt trung bình năm đạt 22 - 23°C, tổng nhiệt lượng năm 8000 - 8400°C và số giờ nắng đạt 1800 - 1820 giờ/năm. Giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 10 là thời kỳ vàng cho du lịch tắm biển khi nhiệt độ nước biển duy trì trên 20°C, sóng biển mùa hè êm ái với độ cao trung bình khoảng 0,9m, độ mặn tối ưu từ 32 - 33‰ và vận tốc dòng chảy ổn định 0,15 - 0,3 m/s. Ngược lại, mùa đông kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau có nền nhiệt giảm xuống 15 - 20°C, độ ẩm không khí lên tới 90% kèm mưa phùn, gió mùa Đông Bắc gây sóng cao 0,7 - 1,3m, khiến lượng khách tắm biển sụt giảm trên 85% so với mùa hè.

Thứ ba, giới hạn sức tải tài nguyên nước ngọt là rào cản sinh thái lớn nhất. Mạng lưới thủy văn bề mặt rất hạn chế, mật độ suối trên đảo Thanh Lân chỉ đạt 0,23 km/km2 và tổng chiều dài dòng chảy toàn quần đảo vỏn vẹn 4,0 km. Dù sở hữu 22 hồ chứa nhỏ và trữ lượng nước ngầm tiềm năng 15.485 m3/ngày (hiện khai thác 660 m3/ngày tại Cô Tô và 330 m3/ngày tại Thanh Lân), mức tiêu thụ nước ngọt mùa cao điểm dự báo sẽ tăng gấp 3,5 lần hiện tại, đạt 2.140,45 nghìn m3/năm, đe dọa trực tiếp đến tính bền vững của các túi nước ngầm ven biển.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của sự phân hóa mùa vụ du lịch bắt nguồn từ vị trí biệt lập ngoài khơi vịnh Bắc Bộ cách đất liền 25 hải lý, trực tiếp đón nhận các khối khí cực đới lạnh vào mùa đông và chịu từ 5 đến 7 cơn bão mỗi năm trong giai đoạn tháng 6 đến tháng 9 với sức gió giật 40 - 50 m/s. Sự thiếu hụt nước mặt phát sinh do cấu tạo địa chất đá phiến ít nứt nẻ và lớp phủ thổ nhưỡng mỏng, khiến dòng chảy mặt bị bóc mòn và thất thoát nhanh ra biển.

So sánh với các nghiên cứu trước đây, điển hình là công trình nghiên cứu chỉ số sinh khí hậu của Nguyễn Thu Nhung và đề tài cơ sở của Nguyễn Trọng Tiến năm 2006, các nhận định về tính nhạy cảm cảnh quan hoàn toàn tương đồng. Tuy nhiên, luận văn này chỉ ra rằng năng lực thích ứng của hạ tầng đảo đã cải thiện đáng kể khi kết nối thành công mạng lưới điện lưới quốc gia và hệ thống vận tải đường biển qua cảng Ao Tiên. Các dữ liệu này được trực quan hóa xuất sắc thông qua đồ thị biến trình nhiệt ẩm, bản đồ địa mạo tỷ lệ 1:25.000 và bảng ma trận đánh giá thích nghi hải văn, làm nổi bật biên độ triều cực đại 4,1m và vận tốc dòng chảy 0,25 - 0,4 m/s. Kết quả khảo sát xã hội học cho thấy 72,4% du khách đến Cô Tô vì mục đích nghỉ dưỡng tắm biển và trên 65% thuộc nhóm tuổi thanh niên 18 - 35, mở ra cơ hội cơ cấu lại sản phẩm du lịch khám phá đảo.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cấp hệ thống trữ nước ngọt và hạ tầng xử lý nước thải sinh thái. Ủy ban nhân dân huyện Cô Tô cần phối hợp cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn triển khai nạo vét, nâng dung tích trữ nước của 22 hồ hiện hữu và xây dựng hồ chứa mới tại xã Đồng Tiến, nâng công suất cấp nước sạch từ 1.500 m3/ngày đêm lên 3.500 m3/ngày đêm trước năm 2026. Giải pháp này nhằm đáp ứng chỉ tiêu tiêu thụ nước dự báo 2.140,45 nghìn m3/năm mà không làm suy thoái trữ lượng nước dưới đất 15.485 m3/ngày.

Thứ hai, đa dạng hóa chuỗi sản phẩm du lịch chuyên đề nhằm khắc phục tính mùa vụ. Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Cô Tô chủ trì liên kết với các doanh nghiệp lữ hành phát triển các tour du lịch sinh thái rừng Chõi, khám phá địa chất bãi đá Móng Rồng, trải nghiệm một ngày làm ngư dân tại ngư trường 300 km2 và tổ chức hội nghị kết hợp nghỉ dưỡng trong mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ trọng lượt khách mùa đông từ mức dưới 15% hiện nay lên đạt mốc 28% tổng lượng khách toàn huyện vào năm 2027.

Thứ ba, thiết lập hành lang bảo vệ nghiêm ngặt các hệ sinh thái nhạy cảm. Ban Quản lý Khu bảo tồn biển Cô Tô - Đảo Trần phối hợp Hạt Kiểm lâm địa phương cắm mốc ranh giới bảo tồn 100% diện tích rừng nguyên sinh thường xanh và dải rừng Chõi bãi Bắc Vàn trước quý 4 năm 2025. Ban hành quy chế khống chế sức chứa sinh thái tức thời, giới hạn mật độ khách tối đa không quá 2.500 người/ngày tại đảo Thanh Lân và Cô Tô Con để bảo vệ rạn san hô và nguồn nước mặt ngầm.

Thứ tư, hoàn thiện mạng lưới giao thông đường biển và chuyển đổi số quản lý du khách. Sở Giao thông Vận tải tỉnh Quảng Ninh phối hợp Cảng vụ đường thủy nội địa tăng cường đội tàu cao tốc đạt chuẩn hoạt động với tần suất 20 đến 25 chuyến/ngày từ cảng Ao Tiên, rút ngắn hành trình vượt 25 hải lý xuống dưới 55 phút giai đoạn 2024 - 2028. Lắp đặt hệ thống cảm biến phao tiêu giám sát sóng biển trên 0,9m và dòng triều, đồng thời ứng dụng vé điện tử kiểm soát sức tải để tối ưu hóa an toàn giao thông đường biển.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý nhà nước tại Ủy ban nhân dân huyện Cô Tô, Sở Du lịch và Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Quảng Ninh. Luận văn cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng về điều kiện tự nhiên, giúp xây dựng Đề án quy hoạch tổng thể không gian du lịch biển đảo đến năm 2030, cấp phép dự án đầu tư phù hợp sức chứa môi trường và kiểm soát khai thác nguồn nước ngầm 15.485 m3/ngày.

Nhóm thứ hai là các nhà đầu tư hạ tầng nghỉ dưỡng và các công ty kinh doanh dịch vụ lữ hành. Doanh nghiệp có thể khai thác các thông số thực chứng về chiều dài bãi biển như Vàn Chảy dài 4,0 km hay Hồng Vàn dài 3,5 km, kết hợp cùng kết quả khảo sát 328 du khách để thiết kế sản phẩm nghỉ dưỡng cao cấp, mở rộng tuyến du lịch trải nghiệm đảo Thanh Lân và đón đầu phân khúc khách hàng trẻ độ tuổi 18 - 35.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên sau đại học và sinh viên các chuyên ngành Địa lý tự nhiên, Du lịch học và Quản lý môi trường. Công trình là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình ứng dụng công nghệ GIS, phương pháp tính toán chỉ số sinh khí hậu và ma trận đánh giá trọng số đa tiêu chí cho một vùng lãnh thổ hải đảo biệt lập.

Nhóm thứ tư là các tổ chức bảo tồn thiên nhiên và các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực kinh tế biển xanh. Báo cáo cung cấp dữ liệu nền tảng về hệ sinh thái rừng Chõi nguyên sinh và đa dạng sinh vật ven bờ để xây dựng các dự án bảo tồn rạn san hô, phục hồi thảm cỏ biển và phát triển sinh kế cộng đồng bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Địa hình và cấu trúc địa chất quần đảo Cô Tô có điểm gì khác biệt so với khu vực vịnh Hạ Long lân cận? Quần đảo Cô Tô được cấu tạo từ các lớp đá trầm tích không carbonat thuộc hệ tầng Cô Tô cổ, bao gồm cát sạn kết dạng quaczit, filit và đá phiến sét. Khác hoàn toàn với địa hình hang động karst đá vôi của vịnh Hạ Long, Cô Tô nổi bật với các vách đá mài mòn đứng tại Cầu Mỵ có độ dốc trên 50° và các thềm tích tụ cát dài tới 4,0 km.

Thời điểm nào trong năm thích hợp nhất cho các hoạt động tắm biển và nghỉ dưỡng tại Cô Tô? Khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 10 là thời điểm lý tưởng nhất cho du lịch tắm biển. Lúc này nhiệt độ nước biển duy trì trên 20°C, nhiệt độ không khí trung bình 28 - 29°C, độ mặn đạt mức tối ưu 32 - 33‰ và độ cao sóng biển mùa hè tương đối êm ả, chỉ xấp xỉ 0,9m, rất an toàn cho các hoạt động thể thao mặt nước.

Thách thức lớn nhất đối với phát triển du lịch bền vững trên quần đảo Cô Tô hiện nay là gì? Thách thức lớn nhất là nguy cơ cạn kiệt và ô nhiễm nguồn nước ngọt cục bộ trong mùa cao điểm. Với mật độ suối chỉ 0,23 km/km2 và khả năng cung cấp nước ngầm khoảng 15.485 m3/ngày, nhu cầu nước sinh hoạt dự kiến vượt mốc 2.140,45 nghìn m3/năm sẽ gây áp lực cực lớn lên 22 hồ chứa nhỏ trên đảo nếu không có giải pháp trữ nước bổ sung.

Luận văn đã áp dụng phương pháp luận nào để giải quyết bài toán đánh giá tài nguyên đa mục tiêu? Tác giả đã kết hợp phương pháp đánh giá tổng hợp bằng thang điểm có trọng số với công nghệ viễn thám và GIS. Phương pháp này lượng hóa toàn bộ các yếu tố khí hậu, hải văn và địa mạo thành các lớp dữ liệu không gian, từ đó chồng xếp bản đồ để xác định chính xác các khu vực có mức độ thích nghi du lịch tối ưu.

Giải pháp nào khả thi nhất để giảm thiểu tác động tiêu cực của tính mùa vụ du lịch mùa đông tại Cô Tô? Giải pháp then chốt là chuyển dịch trọng tâm sản phẩm từ du lịch tắm biển mùa hè sang du lịch sinh thái khám phá rừng Chõi, du lịch văn hóa tâm linh và du lịch hội nghị MICE mùa đông. Mục tiêu đặt ra là gia tăng tỷ trọng khách mùa đông lên 28% bằng cách khai thác giá trị khí hậu se lạnh và cảnh quan đá trầm tích nguyên sơ.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập hệ thống dữ liệu toàn diện về 47,2 km2 diện tích tự nhiên của quần đảo Cô Tô, làm nổi bật giá trị đặc sắc của các bãi tắm quy mô lớn như bãi Vàn Chảy dài 4,0 km và bãi Hồng Vàn dài 3,5 km.
  • Nghiên cứu đã làm rõ tính nhịp điệu mùa vụ của khí hậu và hải văn, khẳng định chu kỳ 7 tháng du lịch tắm biển thuận lợi và cảnh báo nguy cơ gió giật 40 - 50 m/s trong mùa mưa bão.
  • Công trình đã lượng hóa chính xác giới hạn sức tải tài nguyên nước ngọt, chỉ ra khoảng cách giữa trữ lượng khai thác nước ngầm 15.485 m3/ngày với nhu cầu tương lai 2.140,45 nghìn m3/năm.
  • Luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá, trong đó ưu tiên nâng công suất cấp nước ngọt lên 3.500 m3/ngày đêm và thiết lập hành lang bảo vệ 100% diện tích rừng nguyên sinh.
  • Kết quả nghiên cứu là đóng góp khoa học quan trọng cho chuyên ngành Địa lý tự nhiên, cung cấp bộ công cụ đánh giá trọng số đa chỉ tiêu có thể nhân rộng cho các huyện đảo tiền tiêu trên cả nước.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã chuyển hóa các dữ liệu địa lý tự nhiên trừu tượng thành các luận cứ khoa học thực tiễn, phục vụ đắc lực cho công tác quy hoạch phát triển kinh tế biển đảo giai đoạn 2024 - 2030. Các cấp chính quyền địa phương, nhà đầu tư và cộng đồng khoa học hãy cùng chung tay ứng dụng kết quả nghiên cứu này vào thực tiễn, nhằm xây dựng Cô Tô trở thành trung tâm du lịch sinh thái biển đảo đẳng cấp, thịnh vượng và kiên cường nơi tuyến đầu Tổ quốc.