Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kỹ thuật chuyên ngành Kỹ thuật Xây dựng Công trình ngầm (mã số: 62.04) của nghiên cứu sinh Nguyễn Trường Huy, do TS. Trịnh Việt Cường và PGS. TS. Đoàn Thế Tường hướng dẫn tại Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng (2015), tập trung giải quyết bài toán xác định điều kiện địa kỹ thuật phục vụ tính toán thiết kế và thi công hố đào sâu trong đô thị.
Về tính cấp thiết, nhu cầu khai thác không gian ngầm tại các đô thị lớn tại Việt Nam ngày càng gia tăng với nhiều công trình quy mô lớn như Pacific Place 83 Lý Thường Kiệt, Royal City, Trung tâm thương mại Chợ Mơ, Lotte Center Hanoi (5 tầng hầm), Tân Hoàng Minh D’.Palais de Louis (4 tầng hầm), cùng các tuyến đường sắt đô thị Nhổn - Ga Hà Nội và Bến Thành - Suối Tiên. Quá trình thi công hố đào sâu đã ghi nhận nhiều sự cố gây tổn thất vật chất nghiêm trọng, tiêu biểu là sự cố thi công tầng hầm Cao ốc Pacific trên đường Nguyễn Thị Minh Khai (2007) làm sập đổ tòa nhà Viện Khoa học Xã hội miền Nam, hay sự cố Cao ốc Saigon Residences (2007) làm nghiêng chung cư Cosaco 5 Nguyễn Siêu.
Số liệu quan trắc địa kỹ thuật tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng chỉ ra một sai số hệ thống: chuyển vị ngang và độ lún bề mặt dự báo theo thiết kế thường lớn hơn đáng kể so với kết quả đo đạc thực tế tại hiện trường. Khoảng trống nghiên cứu cốt lõi mà luận án chỉ ra là sự không tương thích giữa điều kiện làm việc thực tế của khối đất bên thành hố đào với các phương pháp khảo sát, thí nghiệm và mô hình hóa tính toán hiện hành. Cụ thể, các thí nghiệm nén ba trục thông thường gia tải tăng ứng suất đứng ($\sigma_1$) trong khi giữ nguyên áp lực buồng ($\sigma_3$), hoàn toàn trái ngược với bản chất dỡ tải cơ học sau lưng tường chắn (ứng suất đứng $\sigma_1$ hầu như không đổi trong khi ứng suất ngang $\sigma_3$ suy giảm liên tục).
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 3 nội dung:
- Xây dựng phương pháp dự báo chuyển vị ngang của đất thành hố đào theo hướng mô hình hóa điều kiện làm việc thực tế của đất khi thi công đào hố;
- Xây dựng chương trình dự báo ứng xử của đất nền đã đề xuất theo phương pháp phần tử hữu hạn;
- Xây dựng quy trình thiết kế thi công hố đào sâu đồng bộ từ khâu khảo sát đến mô hình hóa tính toán.
Luận án đưa ra 2 luận điểm bảo vệ:
- Thí nghiệm nén ba trục giảm ứng suất ngang mô phỏng đúng trạng thái ứng suất - biến dạng của khối đất bên thành hố đào và cho các kết quả khác với thí nghiệm nén ba trục truyền thống tăng ứng suất thẳng đứng; có thể cải tiến các thiết bị nén ba trục truyền thống hiện dùng phục vụ thí nghiệm giảm ứng suất ngang;
- Sử dụng kết hợp mô hình đất nền Lade cải tiến và mô hình thí nghiệm địa kỹ thuật sử dụng máy ba trục giảm ứng suất ngang cho kết quả tương đối phù hợp với đo đạc thực tế.
Đối tượng nghiên cứu là các ứng xử cơ học của đất xung quanh hố đào khi thi công đào hố. Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Phạm vi không gian: Môi trường địa chất lân cận thành hố đào trong phạm vi ảnh hưởng của tác động đào, quy ước đến khoảng cách bằng 4 lần chiều sâu hố đào ($4H$).
- Điều kiện biên và thời gian: Các hố đào thi công trong khu vực đô thị đông dân cư, mật độ xây dựng cao, vách thẳng đứng, thời gian thi công tương đối nhanh, mức độ ảnh hưởng đến áp lực nước lỗ rỗng và độ ẩm của đất dính không nhiều.
- Loại đất: Tập trung vào các loại đất dính có khả năng lấy mẫu nguyên dạng để thí nghiệm ba trục.
- Hướng ứng xử: Trọng tâm phân tích là chuyển vị ngang của đất từ thành vào trong lòng hố đào.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Về phân loại hố đào, luận án điểm lại các tiêu chí lịch sử: Terzaghi (1943) phân định theo tỷ lệ hình học (hố nông có chiều sâu nhỏ hơn chiều rộng; hố sâu có chiều sâu lớn hơn chiều rộng); Terzaghi và Peck (1967), Peck và cộng sự (1977) đề xuất tiêu chí định lượng chiều sâu ranh giới là 6m. Trong cơ học đất hiện đại, các tác giả quan niệm với hố đào đô thị, mục tiêu khống chế ảnh hưởng tới công trình lân cận là trọng tâm, quy về khái niệm chung là thi công hố đào.
Về nghiên cứu địa kỹ thuật hố đào sâu, tác giả hệ thống hóa các công trình quốc tế tiêu biểu: Bjerrum và Eide (1956), Peck (1969), Mana (1978), Clough và Hansen (1981), Mana và Clough (1981), Hashash (1992), Bentler (1998), Ou và Shiau (1998), Ou (2006), Wong (2009). Ở trong nước, các nghiên cứu của Đỗ Đình Đức (2002), Chu Tuấn Hạ (2011) đã khảo sát đặc trưng địa kỹ thuật từng khu vực, quan hệ ứng suất - biến dạng và mô hình nền.
Về trạng thái ứng suất, Hans-Georg Kempfert và Berhane Geobreselassie (2006) phân tích các đường ứng suất trong mặt phẳng $p-q$: đoạn $OA$ đặc trưng cho nền đắp/móng, $OD$ dưới đáy hố đào, $OB$ bên cạnh kết cấu chắn giữ, $OE$ phía trước kết cấu chắn và đáy hố đào (bị động), $OF$ thể hiện sự giảm ứng suất đứng và tăng ứng suất ngang do chuyển vị tường. Stroh (1974) chia không gian quanh hố đào thành 3 vùng: Vùng 1 (ứng suất đứng giữ nguyên, ứng suất ngang giảm dần do đào), Vùng 2 (ứng suất đứng giảm do đào, ứng suất ngang tăng do dịch chuyển tường), Vùng 3 (ứng suất đứng giảm do đào, ứng suất ngang giữ nguyên). Wong (2009) phân loại các vùng trạng thái ứng suất từ A đến F, trong đó vùng E (tương ứng đoạn $OB$ sau lưng tường) được xác định là vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của quá trình đào dỡ tải nhưng chưa được nghiên cứu đầy đủ, dẫn đến việc thực tế thiết kế phải dùng số liệu gia tải từ vùng C và D để thay thế.
| Vùng ứng suất theo Stroh (1974) |
Trạng thái ứng suất thẳng đứng |
Trạng thái ứng suất nằm ngang |
Cơ chế làm việc thực tế |
| Vùng 1 (Sau lưng tường chắn) |
$\sigma'_1 = \text{const}$ (giữ nguyên) |
$\sigma'_3$ giảm dần |
Dỡ tải ngang do quá trình đào đất |
| Vùng 2 (Phía trước chân tường chắn) |
$\sigma'_1$ giảm do đào đất |
$\sigma'_3$ tăng |
Tăng áp lực ngang do tường dịch chuyển |
| Vùng 3 (Dưới đáy hố đào) |
$\sigma'_1$ giảm do bốc dỡ đất |
$\sigma'_3 = \text{const}$ (giữ nguyên) |
Dỡ tải đứng thuần túy |
Về thực trạng tính toán và khảo sát, thống kê hơn 160 sự cố hố đào tại Trung Quốc cho thấy nguyên nhân do thiết kế chiếm 46%, do thi công chiếm 41,5%, trong đó việc thiếu hoặc sai lệch thông tin địa kỹ thuật chiếm đa số. Nghiên cứu của Pearlman và cộng sự (2004) khi đối chiếu giữa mô hình phần tử hữu hạn (Plaxis), phương pháp dầm trên nền đàn hồi (Wallap) với số liệu hiện trường đưa ra kết luận: trong hầu hết các trường hợp, chuyển vị thực tế của tường chắn đều nhỏ hơn dự báo tính toán. Tại Việt Nam, kết quả phân tích hố đào sâu dự án Nhiêu Lộc - Thị Nghè (kích thước $25 \times 54\text{ m}$, tường vây dày 1,2m sâu 40m, 7 tầng thanh chống) cho thấy mô hình Mohr-Coulomb dự báo chuyển vị ngang lớn hơn thực tế từ 15% đến 27%, mô hình Hardening Soil dự báo lớn hơn từ 8% đến 15%.
Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là thiết lập quy trình thực nghiệm trên máy ba trục dỡ tải ngang (giảm $\sigma_3$, giữ nguyên $\sigma_1$) có xét đến trạng thái ứng suất lệch ban đầu ($K_0$), đồng thời lựa chọn và cải tiến mô hình đàn dẻo Lade để tính toán chuyển vị ngang hố đào thay cho các mô hình truyền thống.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng cơ sở lý thuyết biến dạng bé trong cơ học môi trường liên tục và phương pháp phần tử hữu hạn (PTHH) với bài toán biến dạng phẳng. Về mặt lý thuyết đàn dẻo, tác giả tiến hành khảo sát và đánh giá nhược điểm của 3 mô hình kinh điển đối với bài toán dỡ tải hố đào:
-
Mô hình Mohr-Coulomb: Đặc trưng bởi 5 tham số ($E, \nu, c, \varphi, \psi$). Nhược điểm là giả thiết quan hệ ứng suất - biến dạng tuyến tính trước phá hoại trong khi thực tế là phi tuyến; chỉ xuất hiện biến dạng thể tích giãn nở khi đất đạt trạng thái phá hoại; đánh giá sức kháng cắt không thoát nước cao hơn thực tế. Khi dỡ tải giảm $\sigma_3$, mô hình không mô tả được sự suy giảm mô đun biến dạng thực tế.
-
Mô hình Cam-Clay cải tiến: Xác định qua các tham số ($M, \Gamma, \lambda, \kappa, p_c, \nu$). Đường ứng suất thí nghiệm nén ba trục giảm $\sigma_3$ có vi phân:
$$dq = -\frac{3}{2}dp$$
Biểu thức mặt chảy:
$$q^2 - M^2(p'_0 p' - p'^2) = 0$$
Khi đạo hàm tiếp tuyến mặt chảy với tỷ số $p'/p'_0 < 0,11$ (với $M=1$), đất nền chuyển sang trạng thái đàn hồi (mô đun tiếp tuyến tăng lên). Điều này mâu thuẫn với thực tế cơ học đất: khi độ lệch ứng suất $q$ tăng thì mô đun tiếp tuyến phải suy giảm.
-
Mô hình Hyperbol (Duncan-Chang): Sử dụng các tham số ($K_L, K_{ur}, n, R_f, c, \varphi$). Biểu thức mô đun đàn hồi tiếp tuyến $E_t$:
$$E_t = \left[1 - \frac{R_f(1 - \sin\varphi)(\sigma_1 - \sigma_3)}{2c\cos\varphi + 2\sigma_3\sin\varphi}\right]^2 E_i$$
Khi xét biến thiên theo $\sigma_3$, đạo hàm $\partial E_t / \partial \sigma_3$ xuất hiện trường hợp dương khi:
$$2c\cos\varphi + 2\sigma_1\sin\varphi < 0$$
Điều này dẫn đến hệ quả phi lý là đất trở nên cứng hơn khi dỡ tải. Khi $c=0$, tỷ số suy giảm mô đun khi giảm $\sigma_3$ lớn hơn nhiều so với khi tăng $\sigma_1$.
| Mô hình đất nền |
Tham số đầu vào chính |
Đặc trưng mặt phá hoại / mặt chảy |
Hạn chế chính trong bài toán hố đào sâu |
| Mohr-Coulomb |
$E, \nu, c, \varphi, \psi$ |
Đường bao phá hoại tuyến tính Mohr-Coulomb |
Quan hệ ứng suất - biến dạng là đoạn thẳng; không mô phỏng được độ suy giảm độ cứng khi dỡ tải ngang |
| Cam-Clay cải tiến |
$M, \Gamma, \lambda, \kappa, p_c, \nu$ |
Mặt chảy dẻo hình elip trong mặt phẳng $p-q$ |
Khi $p'/p'_0 < 0,11$, mô hình dự báo đất quay lại đàn hồi (tăng mô đun), trái quy luật vật lý |
| Hyperbol |
$K_L, K_{ur}, n, R_f, c, \varphi$ |
Mặt phá hoại Mohr-Coulomb, hàm hyperbol |
Đạo hàm mô đun tiếp tuyến theo $\sigma_3$ phi tuyến mạnh, có thể làm đất cứng lên bất thường |
| Lade cải tiến |
$M, \lambda_1, m, \eta_1, \alpha, \beta, h, \psi, C, p, b$ |
Mặt phá hoại mở rộng, mặt thế năng biến dạng dẻo và mặt chảy dẻo độc lập |
Phản ánh đúng quá trình suy giảm độ cứng và giãn nở thể tích khi giảm ứng suất ngang $\sigma_3$ |
Từ các phân tích trên, tác giả lựa chọn và xây dựng Mô hình Lade cải tiến. Mô hình này thiết lập các hàm toán học dựa trên không gian ứng suất chính, bao gồm:
- Đặc trưng đàn hồi phi tuyến;
- Mặt phá hoại dạng hàm bậc ba mở rộng với các tham số cường độ $\eta_1, m$;
- Mặt thế năng biến dạng dẻo $g$ xác định qua tham số $\alpha, \beta$;
- Chuẩn dẻo và mặt chảy dẻo $f$ điều khiển bởi các tham số $h, \psi$;
- Quy luật tái bền và hóa mềm phụ thuộc công biến dạng dẻo với các thông số $C, p, b$.
Về phương pháp thực nghiệm, tác giả không sử dụng thí nghiệm gia tải quy ước mà thiết kế sơ đồ thí nghiệm nén ba trục giảm ứng suất ngang (sơ đồ RTC - Reduced Triaxial Compression, tương ứng mã đường ứng suất $TX_116$). Mẫu đất dính nguyên dạng được cố kết dưới áp lực buồng ban đầu tạo trạng thái ứng suất lệch $K_0$, sau đó giữ nguyên ứng suất dọc trục $\sigma_1$ và giảm dần có kiểm soát áp lực buồng $\sigma_3$ cho đến khi mẫu đạt trạng thái phá hoại.
Về công cụ tính toán, tác giả xây dựng phần mềm chuyên dụng LadeDeep dựa trên phương pháp phần tử hữu hạn. Mã nguồn được viết bằng ngôn ngữ lập trình kỹ thuật (chi tiết tại Phụ lục C của luận án), tích hợp các phần tử thanh dàn, dầm (mô phỏng tường vây, thanh chống), phần tử tấm tam giác đẳng tham số (mô phỏng khối đất nền), phần tử tiếp xúc (interface) mô phỏng ma sát đất - kết cấu, và thuật toán giải lặp phi tuyến mô phỏng từng giai đoạn đào dỡ tải và hạ mực nước ngầm.
Nguồn dữ liệu thực nghiệm và kiểm chứng bao gồm kết quả thí nghiệm trên các mẫu đất sét tại phòng thí nghiệm Địa kỹ thuật (Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, Trường Đại học Xây dựng) và số liệu quan trắc thực địa tại các công trình: Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Dự án Hoabinh Green City Minh Khai (Hà Nội) và Công trình đập thủy điện số 2.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu đánh giá điều kiện địa kỹ thuật hố đào sâu
Chương 1 hệ thống hóa các đặc điểm kỹ thuật và hiện tượng biến dạng nền khi thi công hố đào sâu đô thị. Tác giả phân tích 4 hiện tượng địa kỹ thuật nguy hiểm: dịch chuyển ngang của thành hố đào và hệ tường chắn, lún sụt bề mặt đất xung quanh, hiện tượng trồi đáy hố đào do giảm tải trọng thẳng đứng kết hợp chênh lệch cột nước ngầm, và hiện tượng xói ngầm/chảy cát vào lòng hố.
Về mặt cơ học, chương này phân tích bản chất các đường ứng suất: nén thủy tĩnh (HC), nén ba trục thông thường (CTC), kéo ba trục giảm dần (RTE), kéo ba trục thông thường (CTE), nén ba trục giảm ứng suất ngang (RTC), nén cắt đơn giản (SS). Tác giả chứng minh rằng vùng đất sau lưng tường chắn hố đào thuộc vùng dỡ tải ngang (vùng E theo Wong, 2009), chịu ứng suất cắt tăng do $\sigma_3$ giảm dần.
Chương 1 điểm lại các phương pháp tính toán: phương pháp giải tích đơn giản (áp lực đất Rankine, Coulomb giả thiết trạng thái giới hạn chủ động/bị động hoàn toàn), phương pháp dầm trên nền đàn hồi (mô hình Winkler, Blum), và phương pháp phần tử hữu hạn. Tác giả chứng minh về mặt toán học rằng các mô hình đàn dẻo hiện hành (Mohr-Coulomb, Cam-Clay cải tiến, Hyperbol) đều bộc lộ khiếm khuyết nghiêm trọng khi giải bài toán dỡ tải $\sigma_3$. Khảo sát quy chuẩn hiện hành (TCXDVN 194:2006, TCVN 9363-2012) cho thấy công tác khảo sát mới tập trung vào chỉ tiêu cơ lý quy ước, thiếu các thí nghiệm mô phỏng đúng đường ứng suất dỡ tải.
Chương 2: Thí nghiệm xác định thông số đặc trưng của đất nền trên máy ba trục giảm ứng suất ngang
Chương 2 trình bày quá trình nghiên cứu thực nghiệm nhằm thu thập thông số đầu vào sát thực tế. Tác giả chỉ ra các hạn chế của máy ba trục thông thường và máy ba trục hiện đại trên thế giới (máy GDS LVDT đo biến dạng nhỏ, máy gắn cảm biến tiệm cận, máy ba trục thật True Triaxial Test $\sigma_1 \neq \sigma_2 \neq \sigma_3$ do giá thành cao và khó tương thích với thực hành).
Từ đó, tác giả nghiên cứu giải pháp cải tiến hệ thống thiết bị thí nghiệm nén ba trục truyền thống tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội: bổ sung bộ điều khiển giảm áp lực buồng chính xác, cảm biến áp lực và biến dạng thể tích, hệ thống ghi nhận số liệu tự động. Quy trình thí nghiệm $TX_116$ được chuẩn hóa:
- Tạo áp lực buồng và ứng suất dọc trục ban đầu tương ứng với trạng thái ứng suất tĩnh nguyên trạng của mẫu đất tại độ sâu lấy mẫu ($K_0$);
- Duy trì cố kết đẳng hướng hoặc bất đẳng hướng;
- Giữ tải trọng thẳng đứng $\sigma_1 = \text{const}$, điều khiển van xả giảm áp lực buồng $\sigma_3$ với tốc độ kiểm soát nhằm theo dõi biến dạng dọc trục $\varepsilon_l$, biến dạng thể tích $\varepsilon_v$ và sự biến đổi của ứng suất lệch $(\sigma_1 - \sigma_3)$.
Kết quả thí nghiệm trên các mẫu đất dính (Mẫu 1, Mẫu 3, Mẫu 11...) cho thấy đường cong quan hệ ứng suất - biến dạng trong thí nghiệm giảm $\sigma_3$ có độ dốc ban đầu lớn hơn, độ dẻo biểu hiện rõ rệt và giá trị mô đun biến dạng tiếp tuyến suy giảm nhanh hơn so với thí nghiệm CTC thông thường. Biểu đồ vòng tròn Mohr từ thí nghiệm giảm $\sigma_3$ xác định đường bao phá hoại có độ dốc và tung độ gốc khác biệt, phản ánh đúng sức kháng cắt thực tế của khối đất chịu dỡ tải hông.
Chương 3: Mô hình Lade cải tiến cho bài toán hố đào sâu
Chương 3 tập trung xây dựng công thức giải tích cho mô hình Lade cải tiến và tích hợp vào thuật toán PTHH. Trên cơ sở mô hình gốc của Lade (1977) và Lade - Jacobsen (2002), tác giả điều chỉnh các hàm thành phần để tương thích với ứng xử dỡ tải ngang:
- Đặc trưng đàn hồi: Biến dạng đàn hồi được tách biệt, mô đun đàn hồi dỡ tải - gia tải lại $E_{ur}$ phụ thuộc vào hàm lũy thừa của ứng suất chính nhỏ nhất $\sigma_3$.
- Mặt phá hoại: Xác định trong không gian ứng suất thông qua hàm bất biến bậc một $I_1$ và bậc ba $I_3$:
$$f_n = \left(\frac{I_1^3}{I_3} - 27\right)\left(\frac{I_1}{p_a}\right)^m - \eta_1 = 0$$
Trong đó $p_a$ là áp lực khí quyển; $m, \eta_1$ là các thông số vật liệu xác định từ thực nghiệm nén ba trục giảm $\sigma_3$.
- Mặt thế năng biến dạng dẻo: Dùng để xác định tỷ lệ các thành phần số gia biến dạng dẻo theo quy luật chảy phi liên kết:
$$g = I_1^3 - (27 + \beta I_1^\alpha) I_3 = 0$$
- Mặt chảy dẻo và quy luật cứng hóa: Hàm chảy dẻo $f_p$ phát triển phụ thuộc vào công biến dạng dẻo tích lũy $W_p$, điều khiển cơ chế biến cứng và hóa mềm của đất dính sau khi đạt đỉnh cường độ.
Chương này trình bày chi tiết thuật toán xác định 11 thông số của mô hình Lade cải tiến từ kết quả thí nghiệm ở Chương 2. Đánh giá độ tin cậy được thực hiện bằng cách mô phỏng lại đường cong quan hệ ứng suất - biến dạng dọc trục và biến dạng thể tích, cho thấy độ trùng khớp cao giữa lý thuyết và thực nghiệm. Cuối chương giới thiệu cấu trúc phần mềm LadeDeep, bao gồm sơ đồ khối giải lặp phi tuyến Newton-Raphson cải biên, quy trình thành lập ma trận độ cứng tổng thể $[K]_s$, véc-tơ lực nút tương đương $[F]_s$, và xử lý điều kiện biên chuyển vị qua từng bước đào đất và đặt thanh chống.
Chương 4: Áp dụng tính toán hố đào sâu theo mô hình Lade cải tiến
Chương 4 kiểm chứng tính đúng đắn của phương pháp và phần mềm đề xuất thông qua việc phân tích 3 công trình thực tế có đầy đủ hồ sơ địa kỹ thuật và số liệu quan trắc chuyển vị bằng ống đo nghiêng (inclinometer):
- Công trình Bệnh viện Trung ương Quân đội 108:
Hố đào sâu trong khu vực nội đô Hà Nội, địa tầng gồm các lớp đất sét pha, bùn sét yếu đến cát pha. Mô hình hóa bài toán với hệ tường vây bê tông cốt thép kết hợp thanh chống thép hình. Tác giả so sánh kết quả chuyển vị ngang lớn nhất của đỉnh tường sau khi đào đến đáy móng giữa 3 nguồn số liệu:
- Tính toán theo mô hình Mohr-Coulomb: Chuyển vị lớn hơn nhiều so với thực tế;
- Đo đạc quan trắc thực địa bằng inclinometer;
- Tính toán bằng phần mềm LadeDeep theo mô hình Lade cải tiến (sử dụng thông số từ thí nghiệm giảm $\sigma_3$).
Kết quả tính từ mô hình Lade cải tiến bám sát đường cong đo đạc quan trắc thực tế, sai số chuyển vị đỉnh tường giảm rõ rệt so với mô hình Mohr-Coulomb.
-
Công trình Hoabinh Green City (Minh Khai, Hà Nội):
Công trình có quy mô hố đào sâu thi công qua các lớp sét dẻo mềm và cát bão hòa nước, sử dụng hệ tường vây và nhiều tầng thanh chống. Tính toán được thực hiện chi tiết cho giai đoạn đào thứ 4 (giai đoạn bất lợi nhất). Biểu đồ phân bố áp lực ngang và chuyển vị thân tường theo chiều sâu cho thấy mô hình Lade cải tiến dự báo hình dạng uốn của tường và giá trị chuyển vị ngang cực đại sát với số liệu đo đạc thực tế, loại bỏ hiện tượng phóng đại chuyển vị quá mức của mô hình Mohr-Coulomb.
-
Công trình đập thủy điện số 2:
Áp dụng mô hình để đánh giá ứng xử khối đất gia cố và tường chắn trong điều kiện địa chất phức tạp. Kết quả khẳng định khả năng hội tụ của phần mềm LadeDeep và tính ổn định của mô hình Lade cải tiến khi mô tả các giai đoạn giải phóng ứng suất hông.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã đạt được các kết quả khoa học và đóng góp mới sau:
- Về mặt khoa học và lý luận:
- Khẳng định và chứng minh bằng thực nghiệm rằng thí nghiệm nén ba trục giảm ứng suất ngang (giữ $\sigma_1$, giảm $\sigma_3$, có xét ứng suất lệch ban đầu $K_0$) mô phỏng đúng bản chất cơ học trạng thái ứng suất - biến dạng của khối đất thành hố đào trong quá trình thi công dỡ tải. Kết quả biến dạng và sức kháng cắt thu được khác biệt có tính quy luật so với thí nghiệm nén ba trục truyền thống (tăng $\sigma_1$, giữ $\sigma_3$).
- Xây dựng thành công mô hình đất nền Lade cải tiến phù hợp cho bài toán hố đào sâu, khắc phục triệt để các điểm bất hợp lý về mặt cơ học của các mô hình kinh điển (Mohr-Coulomb, Cam-Clay cải tiến, Hyperbol) khi giải bài toán dỡ tải hông.
- Về mặt thực tiễn và kỹ thuật:
- Thiết kế và chế tạo thành công thiết bị thí nghiệm nén ba trục giảm ứng suất ngang trên cơ sở cải tiến máy nén ba trục hiện có tại Việt Nam, đưa ra quy trình vận hành thí nghiệm chi tiết, khả thi và tiết kiệm kinh phí.
- Lập trình hoàn chỉnh bộ phần mềm phần tử hữu hạn LadeDeep chuyên dụng cho bài toán hố đào sâu, tích hợp mô hình Lade cải tiến và các loại phần tử kết cấu chống giữ, tiếp xúc đất - tường.
- Đề xuất quy trình đồng bộ từ công tác khảo sát hiện trường, thí nghiệm xác định thông số trên máy ba trục giảm $\sigma_3$, đến mô hình hóa tính toán chuyển vị tường chắn. Kết quả áp dụng tại Bệnh viện 108 và Hoabinh Green City chứng minh phương pháp mới giảm thiểu sai số dự báo chuyển vị, mang lại độ tin cậy kỹ thuật cao cho công tác thiết kế kết cấu chắn giữ.
Về kiến nghị, tác giả đề xuất đưa thí nghiệm ba trục giảm ứng suất ngang vào quy trình khảo sát địa kỹ thuật bổ sung cho các công trình ngầm đô thị quy mô lớn; đồng thời khuyến nghị các đơn vị tư vấn thiết kế sử dụng mô hình đàn dẻo phù hợp với đường ứng suất dỡ tải nhằm tối ưu hóa kích thước kết cấu chắn giữ, tránh lãng phí vật liệu do sai số hệ thống của các mô hình truyền thống.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Căn cứ vào phạm vi và nội dung trình bày trong văn bản, luận án tồn tại một số giới hạn kỹ thuật:
- Đối tượng đất nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các loại đất dính có tính gắn kết, có khả năng lấy mẫu nguyên dạng không bị xáo động để gia công mẫu nén ba trục; chưa mở rộng sang đất rời, đất cát bão hòa nước hoặc đất cuội sỏi.
- Mô hình bài toán phẳng (biến dạng phẳng 2D) chưa xét đến hiệu ứng vòm không gian 3 chiều tại các góc hố đào hoặc hố đào có hình dạng phức tạp.
- Giả thiết điều kiện thi công nhanh đối với đất dính chưa xét đến đầy đủ quá trình tiêu tán áp lực nước lỗ rỗng theo thời gian (bài toán cố kết thấm - biến dạng kết hợp dài hạn).
Hướng nghiên cứu phát triển tiếp theo gồm:
- Mở rộng hoàn thiện thiết bị thí nghiệm ba trục giảm ứng suất ngang để thí nghiệm được cho cả đất cát và đất bùn sét yếu bão hòa nước;
- Phát triển mô hình Lade cải tiến và nâng cấp phần mềm LadeDeep lên không gian 3 chiều (3D FEM) nhằm mô phỏng chính xác hiệu ứng góc hố đào và tương tác phức tạp giữa các hố đào lân cận.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Kỹ thuật Xây dựng Công trình ngầm, Địa kỹ thuật xây dựng và Nền móng công trình: Tham khảo phương pháp luận phân tích đường ứng suất, công thức giải tích mô hình đàn dẻo Lade cải tiến và phương pháp lập trình phần tử hữu hạn (Phụ lục B và C).
- Kỹ sư thiết kế kết cấu công trình ngầm: Cung cấp cách nhìn định lượng về sai số của mô hình Mohr-Coulomb và Hardening Soil khi dùng phần mềm thương mại; nắm bắt phương pháp lựa chọn thông số đàn dẻo phù hợp cho bài toán dỡ tải hông.
- Các phòng thí nghiệm địa kỹ thuật: Bản vẽ và nguyên lý cải tiến buồng nén ba trục truyền thống thành hệ thống giảm áp lực buồng (Phụ lục A) có tính ứng dụng thực tế cao, chi phí thấp, dễ triển khai tại các cơ sở kiểm định ở Việt Nam.
- Cơ quan quản lý và chủ đầu tư dự án ngầm đô thị: Cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá mức độ an toàn của biện pháp thi công tầng hầm, kiểm soát rủi ro chuyển vị công trình lân cận.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao các mô hình đất nền phổ biến như Mohr-Coulomb hay Plaxis thường dự báo chuyển vị ngang hố đào lớn hơn thực tế?
Nguyên nhân chính nằm ở thông số đầu vào và bản chất mô hình hóa. Các phần mềm thường sử dụng thông số thu được từ thí nghiệm nén ba trục thông thường (tăng $\sigma_1$, giữ nguyên $\sigma_3$). Sơ đồ gia tải này không mô tả đúng bản chất dỡ tải ngang ($\sigma_1$ giữ nguyên, $\sigma_3$ giảm) của đất sau lưng tường chắn hố đào. Mô hình Mohr-Coulomb giả thiết ứng xử đàn hồi tuyến tính trước phá hoại nên đánh giá sai độ cứng tiếp tuyến của đất trong quá trình biến dạng dỡ tải, dẫn đến kết quả chuyển vị tính toán bị phóng đại so với quan trắc (như tại dự án Nhiêu Lộc - Thị Nghè, sai số lớn hơn từ 15% đến 27%).
2. Mô hình Cam-Clay cải tiến gặp lỗi toán học/vật lý nào khi giải bài toán dỡ tải giảm ứng suất ngang $\sigma_3$?
Trong thí nghiệm giảm $\sigma_3$, độ nghiêng của đường ứng suất là $dq/dp = -3/2$. Khi giải phương trình vi phân mặt chảy elip của mô hình Cam-Clay cải tiến, tại trạng thái ứng suất trung bình có tỷ số $p'/p'_0 < 0,11$ (với $M=1$), tiếp tuyến mặt chảy làm đất quay trở lại trạng thái làm việc đàn hồi hoàn toàn (mô đun tiếp tuyến $E_t$ tăng lên). Điều này trái với thực tế vật lý: khi đất bị đào dỡ tải hông làm độ lệch ứng suất $q$ tăng lên, mô đun biến dạng tiếp tuyến phải liên tục suy giảm.
3. Thí nghiệm ba trục mã hiệu TX_116 được luận án thiết lập có quy trình thực hiện như thế nào?
Thí nghiệm $TX_116$ là thí nghiệm nén ba trục giảm ứng suất ngang có xét ứng suất lệch ban đầu. Mẫu đất dính nguyên dạng được lắp vào buồng thí nghiệm đã cải tiến, tiến hành cấp tải tạo trạng thái ứng suất ban đầu tương ứng với hệ số áp lực đất tĩnh tự nhiên $K_0$. Trong quá trình thí nghiệm, hệ thống gia tải giữ không đổi ứng suất dọc trục $\sigma_1$, đồng thời xả áp suất buồng $\sigma_3$ giảm dần với tốc độ ổn định cho đến khi mẫu đất bị phá hoại trượt cắt, liên tục đo đạc biến dạng dọc trục và biến dạng thể tích.
4. Phần mềm LadeDeep do tác giả xây dựng có cấu trúc phần tử và năng lực tính toán ra sao?
Phần mềm LadeDeep được lập trình dựa trên phương pháp phần tử hữu hạn bài toán biến dạng phẳng. Chương trình tích hợp các loại phần tử: phần tử thanh dàn và thanh dầm chịu uốn mô phỏng tường cọc/tường vây và thanh chống văng; phần tử tam giác đẳng tham số mô phỏng khối đất nền theo quy luật đàn dẻo Lade cải tiến; phần tử tiếp xúc mô phỏng ma sát bề mặt tường - đất. Thuật toán giải lặp phi tuyến mô phỏng chính xác từng giai đoạn đào đất hạ mức biên cơ học và hạ mực nước ngầm.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Trường Huy đã giải quyết một vấn đề then chốt trong kỹ thuật xây dựng công trình ngầm: làm sáng tỏ cơ chế ứng xử dỡ tải ngang của khối đất sau lưng tường chắn hố đào sâu đô thị. Bằng việc cải tiến thành công thiết bị thí nghiệm nén ba trục giảm ứng suất ngang, hoàn thiện hệ thống công thức giải tích cho mô hình đất nền Lade cải tiến và xây dựng phần mềm phần tử hữu hạn LadeDeep, công trình đã thiết lập một quy trình kỹ thuật hoàn chỉnh và đồng bộ. Kết quả kiểm chứng tại các dự án thực tế như Bệnh viện 108 và Hoabinh Green City chứng minh phương pháp đề xuất dự báo chính xác chuyển vị ngang thành hố đào, khắc phục sai số hệ thống của các mô hình kinh điển, đóng góp thiết thực cho công tác thiết kế và an toàn thi công công trình ngầm tại Việt Nam.