CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HÓA LỎNG ĐÊ SÔNG 1. Khái quát về hóa lỏng nền đê sông do động đất trên thế giới 1. Định nghĩa về động đất Động đất (Earthquake, Shock, quake, seism, macroseism) là một chuyển động hay rung đột ngột trong vỏ quả đất sinh ra do sự giải phòng tức thời năng lượng biến dạng được tích lũy dần từ trước. Có nhiều nguyên nhân gây ra động đất như kiến tạo mảng, nủi lửa phun trào, đứt gãy nội khối, tương tác giữa nước với khối đất đá trong vở quả đất, và do con người gây ra như nổ sâu trong lòng đất (tác nhân nguồn gốc hóa học hay hạt nhân), hoặc do xây dựng các hồ chứa lớn làm mất cân bằng tự nhiên của khối đất đá.
Tuy nhiên giải thích mới và thuyết phục hơn cả hiện nay về nguyên nhân động đất là do sự trôi dạt lục địa và kiến tạo mảng kích thích nủi lửa hoạt động. Động đất có thể làm hư hại công trình do: lực quán tính, làm thay đổi các tính chất cơ lí của khối đất đá như hóa mềm - hóa lỏng, sự đứt gãy do chuyển vị, sự hình thành các sóng nước lớn ở biển hay các hồ chứa. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ xét đến hiện tượng hóa lỏng, một trong những tác hại lớn nhất do động đất gây ra đối với đất rời bão hòa nước. Các đặc trưng cơ bản của động đất 1.
Chấn tâm, chấn tiêu và sóng động đất Trong một trận động đất người ta đưa ra khái niệm chấn tiêu và chấn tâm. + Chấn tiêu là vị trí nằm trong thạch quyển, nơi xảy ra sự phá hủy và bức xạ các sóng địa chấn. + Chấn tâm là hình chiếu theo phương đứng của chấn tiêu lên mặt đất. + Khoảng cách từ chấn tiêu đến chấn tâm được gọi là độ sâu chấn tiêu (H).
Khoảng cách từ chấn tiêu và chấn tâm đến điểm quan trắc được gọi tương ứng là tiêu cự hoặc khoảng cách chấn tiêu (R) và tâm cự hoặc khoảng cách chấn tâm (ΔL) Hình 1. 5 Tùy thuộc vào độ sâu của chấn tiêu (H) mà động đất có thể được phân thành các loại: • Động đất nông H < 70km • Động đất trung bình H = 70 - 300 km • Động đất sâu H > 300km) Các trận động đất mạnh thường xảy ra ở độ sâu H = 30 - 100km Hình 1.1: Sơ đồ thông số vị trí của một trận động đất Hình 1.2: Sơ đồ truyền sóng động đất + Sóng động đất: Có ba loại sóng đàn hồi: Sóng ngang, sóng dọc và sóng mặt được truyền từ chấn tiêu tạo nên chấn động cảm nhận được là nguyên nhân gây hư hại công trình, tạo lực quán tính làm thay đổi các tính chất của đất đá như hóa mềm lỏng gây sạt 6 lở khối đất đá hay các công trình nhà xưởng, cầu cống, chảy nổ và sóng thần làm chết nhiều sinh mạng. Trong ba loại sóng nóng chỉ có hai loại truyền trong khối đất đá gọi là sóng khối có tên gọi sóng P (Primary Wave - sóng dọc) và sóng S (Secondary Wave - sóng ngang). Người ta đã lập được quan hệ tương quan giữa độ dài chấn tiêu và magnitud cúa một trận động đất.
Trong phạm vi toàn cầu: log L = 0,67 M - 2,94 [ Well, and Copersmith, 1994] Tại Việt Nam: log L = 0,5 M - 1,06 ± 0,3 [ N.Đ Xuyên, 1997] Căn cứ sự truyền sóng P và S từ chấn tiêu đến trạm quan sát cũng có thể lập biểu thức định vị sơ bộ vị trí của chấn tiêu: T = t - to = R/v (1.1) Trong đó: t 0 - thời điểm phát sinh động đất; t - thời điểm ghi được sóng địa chấn đầu tiên ở trạm quan sát; R – khoảng cách chấn tiêu; v – vận tốc truyền sóng địa chấn. Trong động đất gần, xem mặt đất như phẳng, R có thể xác định theo tọa độ không gian φ, λ, h còn trạm địa chấn có tọa độ φ 0 , λ 0 , do vậy R = (ϕ − ϕ0 ) + ( λ − λ0 ). 2 2 Vì vậy phương trình (1.1) có dạng sau gồm 4 ẩn số: T =t − t0 = (ϕ − ϕ0 ) + ( λ − λ0 ) + h 2 / v 2 2 a. Sóng P Sóng P là sóng sơ cấp (sóng nén, sóng dọc) gây nén - dãn nở liên tục môi trường sóng truyền qua, theo phương truyền sóng.
Nó lan truyền được trong vật rắn cũng như như lỏng (dung nham núi lửa và nước), hạt sóng truyền theo phương song song với phương truyền song và sóng S - sóng thứ cấp (sóng cắt, sóng ngang) truyền theo phương vuông góc với phương truyền sóng. Tốc độ truyền sóng P lớn hơn tôc độ truyền sóng S và có tác dụng tăng áp lực nước lỗ rỗng dư gây hóa mềm, hóa lỏng khối đất đá.3: Biến dạng gây ra do sóng khối (a) Sóng P (b) Sóng S (Bolt, 1993) b. Sóng S Sóng S là sóng thứ cấp chuyển động theo phương vuông góc với phương truyền của sóng và cắt khối đá trên mặt bên, có tốc độ truyền sóng chậm hơn sóng P và không truyền được trong môi trường lỏng (dung nham, nước). Trong một trận động đất xảy ra trước tiên người ta cảm nhận thấy sóng P, sau đó ít lâu sóng S mới tới và nó sẽ làm hư hại công trình.
Sóng mặt Sóng mặt (Surface Wave) là loại sóng thứ ba của sóng động đất. Sóng mặt hình thành do sóng khối tương tác với bề mặt hay các lớp mặt của quả đất. Khi sóng mặt truyền trên mặt đất, biên độ sóng giảm dần theo chiều sâu. Sóng mặt được tạo nên bởi tương tác giữa các sóng khối với bề mặt hoặc các lớp mặt trên bề mặt của trái đất.
Sóng mặt chỉ chuyển động dọc theo mặt đất với tốc độ chậm hơn sóng khối và biên độ giảm theo hàm mũ theo chiều sâu. Sóng này tương tự các gợn sóng trên mặt hồ nên chuyển động của sóng phần lớn ngoài mặt đất.4: Biến dạng gây ra do sóng mặt (a) Sóng Rayleigh (b) Sóng Love (Bolt, 1993) 8 1. Các đặc trưng cơ bản của động đất a. Cường độ và độ lớn của động đất Có hai cách chủ yếu để đánh giá độ mạnh của động đất là cường độ dựa trên mức tàn phá về nhà cửa công trình và cảm nhận - phản ứng của con người và độ lớn của trận động đất dựa trên năng lượng thoát ra từ động đất đó.
Cường độ động đất (I) được xây dựng trên chứng cứ lịch sử phá hoại quan sát được về nhà công trình và phản ứng của con người để lập ra một thang bậc định tính về hậu quả của các trận động đất đã xảy ra trước khi có các dụng cụ đo chính xác. Độ lớn của động đất –M Độ lớn động đất là một chuẩn định lượng về năng lượng thoát ra của một trận động đất thể hiện trên biên độ cực đại của chấn đồ, do Richter đưa ra sử dụng đầu tiên từ 1935 để phân hạng động đất ở nam California và được gọi là “thang độ lớn động đất richter” (độ Richter). Ngày nay người ta sử dụng các thang độ lớn cơ bản sau để phân hạng động đất về độ lớn. Tuỳ thuộc vào các sóng địa chấn được sử dụng ta có độ lớn địa phương (local magnitude) M L , độ lớn theo sóng mặt (Surface ware magnitude) Ms, độ lớn theo sóng khối (body wave magnitude) M b , độ lớn theo moment địa chấn (moment magnitude) M w.
Độ lớn địa phương M L (độ Richter) Thang độ lớn của Richter được xây dựng dựa trên giả thiết được minh chứng qua một số quan sát ở Nhật bản và California rằng các đường tắt dần theo khoảng cách của logarit biên độ pha cực đại ghi được trong các trận động đất mạnh yếu khác nhau thì song song với nhau, nghĩa là khoảng cách giữa hai đường cong tắt dần không thay đổi theo khoảng cách chấn tâm. Vậy nếu lấy đường tắt dần pha cực đại trong một trận động đất nào đó làm chuẩn rồi tính khoảng cách từ các đường tắt dần trong các trận động đất quan sát tới đường đó ta sẽ được đại lượng để so sánh độ lớn của các trận động đất khác nhau. Richter gọi đại lượng đó là độ lớn (Magnitude), ký hiệu là M L. Độ Richter được định nghĩa là logarit cơ số 10 của tỷ số giữa biên độ cực đại A của các sóng địa chấn do động đất gây ra (đo theo phương ngang) và biên độ cực đại A 0 9 của các sóng địa chấn tương tự của một trận động đất chuẩn theo Richter (1935, 1958).
A = M log= logA − log A0 (1.2) A0 Trong đó A là biên độ lớn nhất của dao động đo bằng µm trên thành phần nằm ngang của băng ghi động đất bằng máy địa chấn Wood - Anderson (máy địa chấn chu kỳ ngắn dùng ở California thời ấy, có chu kỳ riêng T 0 = 0,8 sec, hệ số tắt dần η = 0,8 và độ khuếch đại lớn nhất V max = 2800 m/s) ở khoảng cách Δ =100 km; log A o là đường tắt dần chuẩn - đường tắt dần pha cực đại trong động đất có M = 0. Để cho mọi trận động đất ghi nhận được vào thời gian ấy đều có M ≥ 0, Richter đồng nhất trận động đất M = 0 với trận động đất yếu nhất mà máy Wood - Anderson còn ghi được ở California thời bấy giờ. Thang này được Richter áp dụng đầu tiên ở California được lập cho các trận động đất chấn tiêu nông. Đối với các khu vực khác, muốn xác định M L cần phải xây dựng đường chuẩn logAo.(Δ) riêng vì đường tắt dần pha cực đại có thể thay đổi từ khu vực này sang khu vực khác.5: Sơ đồ định nghĩa magnitud địa phương theo Richter Đường log Ao của Richter cho động đất nông ở nam California biểu thị gần đúng bằng công thức: log A0 = 5,12 − 2,56.3) A o đo bằng µm, Δ - bằng km, và 10 < Δ < 600km.
Như vậy công thức Richter xác định magnitud của động đất ở California là: 10 = M L log A + 2,56.4) Ở khoảng cách Δ = 100km, log Ao = 0, Ao = 1µm và M = log A. Cho nên cũng có thể xác định độ lớn động đất bằng logarit cơ số 10 của biên độ pha cực đại đo được bằng µm trên băng ghi động đất bằng máy địa chấn Wood - Anderson. Vì độ khuếch đại của máy bằng 2800, nên biên độ dao động của nền đất sẽ nhỏ hơn biên độ đo được trên băng ghi 2800 lần và công thức tính magnitude động đất sẽ là: = M L log A + 2,56.