Luận văn thạc sĩ nghiên cứu diễn tiến sạch ký sinh trùng plasmodium vivax sau điều trị thuốc chloroquine phosphate và một số chỉ điểm phân tử tiềm năng liên quan kháng thuốc tại tỉnh gia lai

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu diễn tiến sạch ký sinh trùng Plasmodium vivax sau điều trị chloroquine phosphate và chỉ điểm phân tử liên quan kháng thuốc tại Gia Lai.

Trường đại học

Đại học Quy Nhơn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn
91
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Nghiên cứu diễn tiến sạch ký sinh trùng Plasmodium vivax sau điều trị Chloroquine là một vấn đề quan trọng trong y học hiện đại. Sốt rét do Plasmodium vivax gây ra vẫn là một thách thức lớn tại nhiều khu vực, đặc biệt là tại tỉnh Gia Lai. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong việc điều trị và phòng ngừa, tình trạng kháng thuốc vẫn đang gia tăng. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của Chloroquine trong việc làm sạch ký sinh trùng và xác định các chỉ điểm phân tử liên quan đến kháng thuốc. Việc theo dõi diễn tiến của bệnh nhân sau điều trị là cần thiết để đảm bảo hiệu quả điều trị và phát hiện sớm tình trạng kháng thuốc.

1.1. Tính cấp thiết của nghiên cứu

Sốt rét vẫn là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong tại nhiều quốc gia, đặc biệt là ở khu vực Đông Nam Á. Tại Việt Nam, số ca mắc sốt rét vẫn còn cao, đặc biệt ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên. Tỉnh Gia Lai là một trong những tỉnh có tỷ lệ mắc sốt rét cao, với nhiều ca mắc Plasmodium vivax. Việc nghiên cứu diễn tiến sạch ký sinh trùng sau điều trị Chloroquine không chỉ giúp cải thiện hiệu quả điều trị mà còn cung cấp thông tin quan trọng về tình trạng kháng thuốc tại khu vực này.

II. Tổng quan tài liệu

Nghiên cứu về Plasmodium vivax đã chỉ ra rằng loài ký sinh trùng này có khả năng kháng thuốc Chloroquine tại nhiều khu vực trên thế giới. Các nghiên cứu trước đây đã ghi nhận tình trạng kháng thuốc ở một số quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Tại Gia Lai, mặc dù chưa có báo cáo chính thức về kháng thuốc, nhưng việc theo dõi thường xuyên là cần thiết để phát hiện sớm tình trạng này. Các chỉ điểm phân tử có thể giúp xác định khả năng kháng thuốc của Plasmodium vivax và từ đó đưa ra các biện pháp điều trị phù hợp.

2.1. Tình hình kháng thuốc tại Việt Nam

Tình trạng kháng thuốc Chloroquine đã được ghi nhận tại nhiều tỉnh thành ở Việt Nam. Các nghiên cứu cho thấy rằng Plasmodium vivax có dấu hiệu giảm nhạy với Chloroquine tại một số khu vực. Việc theo dõi và nghiên cứu tình trạng kháng thuốc là rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả điều trị và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Các chỉ điểm phân tử có thể cung cấp thông tin quý giá về tình trạng kháng thuốc và giúp các nhà nghiên cứu đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời.

III. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai với sự tham gia của các bệnh nhân mắc sốt rét do Plasmodium vivax. Phương pháp nghiên cứu bao gồm theo dõi diễn tiến làm sạch ký sinh trùng sau điều trị Chloroquine và phân tích các chỉ điểm phân tử liên quan đến kháng thuốc. Các bệnh nhân sẽ được theo dõi trong vòng 28-42 ngày sau điều trị để đánh giá hiệu quả của thuốc và phát hiện tình trạng tái xuất hiện ký sinh trùng.

3.1. Quy trình theo dõi bệnh nhân

Quy trình theo dõi bệnh nhân bao gồm việc thu thập mẫu bệnh phẩm, thực hiện các xét nghiệm cần thiết để xác định sự hiện diện của ký sinh trùng. Các chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng sẽ được ghi nhận để đánh giá hiệu quả điều trị. Việc phân tích các chỉ điểm phân tử sẽ giúp xác định khả năng kháng thuốc của Plasmodium vivax và từ đó đưa ra các biện pháp điều trị phù hợp.

IV. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian làm sạch ký sinh trùng Plasmodium vivax sau điều trị Chloroquine là nhanh chóng, trong vòng 48 giờ. Tuy nhiên, một số bệnh nhân có dấu hiệu tái xuất hiện ký sinh trùng trong quá trình theo dõi, cho thấy khả năng giảm nhạy với Chloroquine. Các chỉ điểm phân tử liên quan đến kháng thuốc cũng đã được xác định, cung cấp thông tin quan trọng cho việc điều trị và phòng ngừa sốt rét trong tương lai.

4.1. Đánh giá hiệu lực thuốc

Đánh giá hiệu lực của Chloroquine cho thấy tỷ lệ làm sạch ký sinh trùng đạt trên 95%. Tuy nhiên, tình trạng tái xuất hiện ký sinh trùng cần được chú ý, vì đây có thể là dấu hiệu của tình trạng kháng thuốc. Việc theo dõi thường xuyên và nghiên cứu sâu hơn về các chỉ điểm phân tử sẽ giúp cải thiện hiệu quả điều trị và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

V. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin về hiệu quả của Chloroquine trong điều trị sốt rét do Plasmodium vivax mà còn chỉ ra tình trạng kháng thuốc tại tỉnh Gia Lai. Dữ liệu thu thập được sẽ góp phần vào việc điều chỉnh chính sách thuốc và cải thiện chiến lược phòng chống sốt rét tại khu vực. Việc nâng cao kỹ năng cho cán bộ y tế trong nghiên cứu thực địa cũng là một trong những mục tiêu quan trọng của nghiên cứu này.

5.1. Đóng góp cho chính sách y tế

Dữ liệu về tình trạng kháng thuốc sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách điều chỉnh phác đồ điều trị cho phù hợp với tình hình thực tế. Việc nâng cao nhận thức về tình trạng kháng thuốc và các chỉ điểm phân tử sẽ giúp cải thiện hiệu quả điều trị và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Nghiên cứu này cũng mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo về kháng thuốc và điều trị sốt rét.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu diễn tiến sạch ký sinh trùng plasmodium vivax sau điều trị thuốc chloroquine phosphate và một số chỉ điểm phân tử tiềm năng liên quan kháng thuốc tại tỉnh gia lai

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Sốt rét hiện vẫn còn là một bệnh phổ biến và hiện đang lưu hành tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, nhất là tại khu vực các quốc gia châu Phi, Nam Mỹ, Đông Nam Á [42]. Hàng năm sốt rét (SR) đã gây mắc và tử vong lên đến hàng triệu người và là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong và ảnh hưởng đến sức khỏe và phát triển kinh tế cho cộng đồng dân các vùng miền cao nguyên Việt Nam. Mặc dù, SR trong thời gian gần 5 năm qua đã giảm thấp, song khu vực miền Trung-Tây Nguyên vẫn phải đối mặt với thách thức và khó khăn do đặc điểm phức tạp: vector truyền bệnh chính vẫn tồn tại và có nguy cơ tái phục hồi, cơ cấu ký sinh trùng sốt rét với Plasmodium falciparum (P. falciparum) chiếm trên 70%, dân di biến động quy mô lớn nên khó có biện pháp phòng chống hiệu quả, đặc biệt tình trạng đa kháng thuốc lan rộng, dẫn đến bệnh diễn tiến nặng, tái phát nhiều, tỷ lệ chuyển SR ác tính và tử vong do SR cao hơn.

Sốt rét do loài Plasmodium vivax ở người Mặc dù, sốt rét trên toàn cấu trong thời gian gần 20 năm qua đã cải thiện rất rõ với số ca mắc và tử vong giảm thấp, nhưng thời gian qua do nhiều nguyên nhân khác quan lẫn chủ quan cho thấy bệnh SR khiến thế giới phải đối mặt với nhiều thách thức và khó khăn, phức tạp. Việt Nam thời gian qua cũng đạt được nhiều thành quả quan trọng trong Chương trình phòng chống sốt rét (PCSR), đặc biệt từ đầu năm 2015 đến nay vẫn còn biến động tại một số vùng và số bệnh nhân sốt rét (BNSR) và ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) tăng đáng kể tại một số huyện trọng điểm trong khu vực miền Trung-Tây Nguyên và Nam bộ Lâm Đồng với nhiều yếu tố góp phần vào như sự phục hồi các vector truyền bệnh chính, tình hình KSTSR kháng thuốc đang dùng, quần thể dân di biến động, dân giao lưu biên giới, dân đi rừng ngủ rẫy quy mô lớn chưa có biện pháp phòng chống hiệu quả. Đồng thời, phải kể đến tình trạng đa kháng thuốc do P. falciparum đang lan rộng ở vùng SRLH.

Sốt rét do P. vivax đang đe dọa ít nhất 40% dân số toàn cầu, phần lớn số ca này từ Đông Nam Á, châu Phi và Tây Thái Bình Dương, Nam Mỹ. vivax với sự phân bố về mặt địa lý trên toàn cầu khá rộng, lên đến 2,85 tỷ người có nguy cơ 5 nhiễm và khoảng 250 triệu ca mắc P. vivax mỗi năm (trong đó 75% số ca xảy ra ở Nam Á và Đông Nam Á), kể cả SRAT và tử vong do P.

vivax, có những năm tỷ lệ P. vivax chiếm đến 25-40% của gần 515 triệu BNSR chung trên toàn cầu. Về gánh nặng của bệnh, cho dù P. vivax được đánh giá ít nghiêm trượng hơn P.

falciparum, nhất là tại các vùng châu Phi, châu Á, song chúng đã gây tác hại không nhỏ đến sức khỏe cộng đồng và số liệu sốt rét toàn cầu đều chỉ ra P. vivax lan truyền ở toàn bộ vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới, ôn đới, ngoại trừ Tây Phi. vivax vẫn là một mối đe dọa sức khỏe cộng đồng quan trọng và nhiễm trùng mạn tính, có khả năng gây ra các đợt tái phát xa sau thời gian “ngủ đông” kéo dài, có thể gây các biến chứng, thậm chí tử vong. falciparum giảm đáng kể tại nhiều vùng, vì thế trong cơ cấu KSTSR thấy có vẻ P.

vivax tăng lên tương đối, điều đó cho thấy vai trò ‘thể ngủ” cần chú ý và tình trạng lan truyền sốt rét do loài này là cần chú trọng đặc biệt bởi muỗi sốt rét sẽ tiếp tục làm lan truyền bệnh trong cộng đồng [42]. Đặc biệt trong bối cảnh chúng ta đang tiến đến loại trừ sốt rét (LTSR) tại nhiều nước thì sự gia tăng P. vivax sẽ là một thách thức. Việc loại trừ P.

vivax cần phải có chiến lược mới làm thế nào xác định ổ chứa ký sinh trùng, đảm bảo thuốc điều trị tiệt căn, đủ liều, an toàn và hiệu quả trên cả thể trong máu và trong tế bào gan. Hiện nay, nhóm làm việc liên quan đến P. vivax trên thế giới đang tập trung nghiên cứu các khía cạnh này. Các nghiên cứu phần lớn tập trung giám sát sự di chuyển của ký sinh trùng P.

vivax nội tại và xuyên biên giới các nước vì tính di chuyển loài P. falciparum, phát hiện sớm các ổ chứa và ứng phó các ổ dịch P. vivax nên một số tiếp cận mới nhằm xác định và xác định quy mô ổ chứa P. vivax, phát triển công cụ tìm các chỉ điểm phân tử để đánh giá kháng thuốc do P.

vivax với chloroquine phosphate (CQ). Tính đa dạng của P. vivax cao tại các vùng tiền LTSR, số ca P. vivax “nhập khẩu” sẽ là ổ chứa ký sinh trùng quan trọng.

Các nghiên cứu gần đây cũng đã chỉ ra có mã vạch mới đối với các phân lập lâm sàng P. vivax, các hệ thống giải trình tự khác đang phát triển để xác định nguồn gốc địa lý của nhiễm trùng nhưng cần có nhiều chỉ điểm hơn. Các nhà khoa học ở Đại học Menzies (Úc) đã thiết lập bộ gen P. vivax toàn cầu để xác định các chỉ điểm mới, điều này sẽ hỗ trợ 6 cho công tác giám sát và đưa ra các biện pháp can thiệp phòng chống và xác định cơ chế kháng đối với loài P.

Ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc trên toàn cầu và tại Việt Nam Nửa đầu thế kỷ 20, việc giảm tình hình SR dựa vào rất nhiều biện pháp phòng chống sốt rét (PCSR) có hiệu quả. Các thành công sớm này đã được nâng lên thêm nhờ vào việc sử dụng chloroquine (CQ) rộng rãi. Vào những năm 1950, chiến lược loại trừ SR đã khởi động trong một thập niên đã đạt được một phần tham vọng của mục đích là khắc phục các thử thách cũng như ngăn chặn chủng P. Nửa sau thế kỷ cuộc chiến chống lại đã có phần suy giảm khi KSTSR phát triển và hình thành kháng CQ và rồi đến các thuốc khác.

Dù có nhiều tiến bộ trong “thiết kế” các liệu pháp thuốc mới song các hoạt chất đó vẫn có tuổi thọ ngắn vì tình trạng kháng diễn ra quá nhanh và có tính ảnh hưởng toàn cầu. Chính vì vậy, chiến lược PCSR đã phần nào suy giảm và gánh nặng bệnh tật vì thế tăng thêm. Triển vọng toàn cảnh sốt rét vào đầu thế kỷ 21 có vẻ khả quan hơn. Một nguồn tài chính khổng lồ sẵn sàng phát triển cho cơ sở hạ tầng và các nhu cầu thiết yếu để ngăn chặn KSTSR.

Một trong những cơ sở nền tảng của chương trình phòng chống hôm nay là chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời ca bệnh SR với thuốc hiệu lực cao. Các liệu pháp thuốc mới có thành phần artemisinin và dẫn chất là trọng tâm của tiếp cận mới này, từ đó về khía cạnh thực hành chúng đã cho ra các liệu pháp điều trị với tỷ lệ chữa khỏi cao và tiềm năng ngăn chặn lan truyền tốt nhất [42]. Tác động một thời gian ngắn nhưng với hiệu lực cao đã làm giảm đi dung khối KSTSR rất lớn và số KSTSR còn lại vẫn bị loại bỏ bởi lượng thuốc tồn lại nhưng hiệu quả kém hơn, do đó cần thuốc đi cặp đôi. Dưới sự khuyến cáo của TCYTTG, hiện đã có ít nhất 80 quốc gia dùng liệu pháp thuốc phối hợp có gốc artemisinin (Artemisinine-based Combination Therapies_ACTs) tại các vùng sốt rét lưu hành (SRLH).

Về định nghĩa, kháng thuốc là khả năng của một chủng KSTSR sống sót hoặc nhân lên mặc dù đã được chỉ định một liều thuốc SR hợp lý và bản thân bệnh nhân có hấp thu thuốc bình thường. Kháng với một thuốc SR có thể là một hậu quả của mối liên quan đáp ứng giữa nồng độ - hiệu quả thuốc đó. Vì đặc tính dược động học của thuốc SR thay đổi rất rộng tùy thuộc giữa các bệnh nhân với nhau, khi xét 7 về định nghĩa của kháng thuốc SR cũng có khi gặp phải trường hợp nồng độ thuốc trong huyết tương bình thường (vì chúng còn liên quan chuyển hóa, phân bố, thải trừ thuốc trong cơ thể). Kháng thuốc không nhất thiết luôn xem nó như một ca thất bại điều trị nghĩa là thất bại với việc làm sạch KSTSR trong máu và/ hoặc giải quyết các triệu chứng lâm sàng khi đã chỉ định thuốc đúng thuốc sốt rét.

Do vậy, trong khi kháng thuốc sẽ dẫn đến thất bại điều trị, nhưng không phải tất cả trường hợp thất bại điều trị đều là do kháng thuốc. Thất bại điều trị có thể do sử dụng liều không đúng, vấn đề chấp nhận điều trị của bệnh nhân, chất lượng thuốc kém, tương tác giữa các thuốc, hấp thu thuốc kém, hoặc chẩn đoán nhầm bệnh. Hiện tại, tình trạng kháng thuốc diễn biến rất phức tạp, nên việc giám sát cần xem như một công việc thường quy để theo dõi sự xuất hiện kháng cũng như quy mô lan rộng là cần thiết. Các thông tin ghi nhận được từ các nghiên cứu kháng thuốc sẽ giúp hướng dẫn lựa chọn phác đồ điều trị và tiên đoán mô hình kháng trong tương lai.

Lịch sử kháng thuốc SR đã cho thấy bức tranh toàn cảnh về tình hình và quy mô ký sinh trùng sốt rét (KSTSR), đặc biệt là loài P. falciparum kháng thuốc trên thế giới, các thông tin cập nhật về nghiên cứu đánh giá hiệu lực thuốc SR toàn cầu của Tổ chức Y tế thế giới [39] cũng chứng minh rằng dùng thuốc chống SR đơn trị liệu trong phạm vi rộng và thời gian dài là một trong những nguyên nhân làm P. falciparum phát triển kháng với tất cả thuốc sốt rét. Một số thuốc sốt rét tổng hợp vừa mới ra đời đã xuất hiện kháng ngay sau đó chưa đầy 1 năm (sulfadoxin/pyrimethamin ra đời năm 1967 và cũng trong năm đó xuất hiện kháng; Atovaquone ra đời và xuất hiện kháng năm 1996; thuốc Proguanil trong năm 1949) hoặc có loại thuốc sau khi giới thiệu chỉ 5 - 7 năm (CQ ra đời 1945 và xuất hiện kháng đầu tiên năm 1957; mefloquine ra đời 1977 và xuất hiện kháng 1982); tuy nhiên với các thuốc sốt rét có nguồn gốc thiên nhiên như quinine ra đời rất lâu trong lịch sử (1632) nhưng xuất hiện quá trình phát triển kháng rất chậm (mãi đến năm 1910), artemisinin và dẫn xuất ra đời vào những năm 1990 và đến năm 2009 đã ghi nhận kháng tại biên giới Thái Lan - Campuchia.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu diễn tiến sạch ký sinh trùng Plasmodium vivax sau điều trị Chloroquine và chỉ điểm phân tử kháng thuốc tại Gia Lai là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của Chloroquine trong điều trị bệnh sốt rét do Plasmodium vivax gây ra, đồng thời phân tích các chỉ điểm phân tử liên quan đến kháng thuốc tại tỉnh Gia Lai. Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình kháng thuốc, giúp các nhà khoa học và chuyên gia y tế đưa ra chiến lược điều trị hiệu quả hơn, đặc biệt trong bối cảnh kháng thuốc đang trở thành vấn đề toàn cầu.

Để mở rộng kiến thức về các bệnh ký sinh trùng và kháng thuốc, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ba bệnh ký sinh trùng truyền lây giữa động vật và người tại huyện bắc yên tỉnh sơn la, hoặc Luận án nghiên cứu thực trạng một số yếu tố liên quan đến nhiễm giun lươn strongyloides spp và kết quả điều trị bằng ivermectin tại huyện đức hoà tỉnh long an 2017 2018. Ngoài ra, Luận án thực trạng kháng kháng sinh của một số vi khuẩn thường gặp ở cộng đồng và một số yếu tố liên quan ở việt nam năm 2018 2019 cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về tình hình kháng thuốc tại Việt Nam.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức chuyên sâu mà còn giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề y tế liên quan đến ký sinh trùng và kháng thuốc.