Chương I: Cơ sở lý luận - Chương II: Vấn đề chuyển dịch từ ngữ từ Hán sang Việt (Có liên quan đến hình tượng người anh hùng, người quân tử trong thơ Đường) - Chương III: Cách tiếp nhận ẩn dụ chỉ hình tượng người anh hùng, người quân tử trong thơ Đường ở Việt Nam. 5 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Thơ và đặc điểm của ngôn ngữ thơ 1. Thơ là gì? Trước khi đi vào tìm hiểu về ngôn ngữ thơ, chúng ta cần phải biết “thơ là gì?”.Theo tác giả Hữu Đạt viết trong cuốn “Ngôn ngữ thơ ca Việt Nam” thì từ trước tới nay, trong giới nghiên cứu và phê bình đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thơ.
Theo ông, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa nào đầy đủ, hoàn hảo, phản ánh về thơ một cách bản chất nhất, đặc trưng nhất. Mỗi định nghĩa mới chỉ đúng từ một góc độ, một phương tiện trên những quan niệm khác nhau về thơ ca. Nhìn một cách khái quát, ông đã nêu ra mấy khuynh hướng sau đây: a. Khuynh hướng thần thánh hoá thơ ca.
Khuynh hướng này cho thơ là một cái gì đó thuộc về thần linh tối cao, do thượng đế sáng tạo rồi nhập vào con người. Ở Việt Nam, một số nhà thơ của phong trào Thơ Mới chịu ảnh hưởng của quan niệm này luôn coi thơ là những hình thức nguyện cầu để trở về với Thượng đế.Sống trong xã hội đương thời, bế tắc, thi sĩ làm thơ coi thơ chỉ là những lời than vãn, những tiếng kêu than xót xa khẩn cầu lên đấng tối cao những nguyện ước của người sống trong cõi trần ai bất hạnh. Khuynh hướng thứ hai là khuynh hướng hình thức chủ nghĩa khi định nghĩa thơ ca. Khuynh hướng này tuy không duy tâm siêu hình nhưng lại lý tưởng hoá thơ ca.
Từ chỗ đề cao quá mức tới chỗ coi thơ ca là cõi vô biên tuyệt đối, là cái nơi mà con người không thể vươn tới được. Ở Việt Nam, Thanh Tâm Tuyền, một nhà thơ lãng mạn cũng đã từng nêu ra quan điểm ấy. Thơ sẽ còn lại mãi mãi để nhắc nhở cho thời đại, cho lịch sử, cho những người đang sống và những người kế tiếp rằng hành động của họ chưa đạt tới đích do thơ ca phóng ra. Khuynh hướng thứ ba là khuynh hướng quan tâm tới mặt phản ánh của thơ, tới sự sáng tạo – hay là tính chất nghệ thuật độc đáo của thơ.
Ví dụ, 6 z nhà thơ Tố Hữu cho rằng “Thơ là biểu hiện tính chất của cuộc sống”. Xuân Diệu thì quan niệm “Thơ là lọc lấy tinh chất, là sự phản ánh vào trong tâm tình”.17] Những quan niệm trên đây tuy đã đề cập tới mặt bản chất của thơ ca và đã nêu được phần nào vai trò quan trọng của con người trong sự sáng tạo nghệ thuật. Song về cơ bản vẫn chưa nêu được những đặc trưng riêng biệt của thơ ca với các thể loại khác. Hai phương thức cơ bản của ngôn ngữ thơ Nhà văn Gooc-ki đã từng khẳng định “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học”.
Thơ là một thể loại của văn học, vậy không thể có thơ nếu không có ngôn ngữ. Nói cách khác, trong thơ ngôn ngữ là yếu tố quan trọng nhất mà nếu như thiếu nó thì thơ không còn lý do để tồn tại nữa. Nhưng so với các thể loại khác như văn xuôi, kịch, thơ lại có những đặc điểm ngôn ngữ riêng. Một trong những phương thức làm nên những đặc điểm ấy là Phương thức tạo hình và phương thức biểu hiện.
Phương thức tạo hình của ngôn ngữ thơ Bất cứ một tác phẩm nghệ thuật nào khi tồn tại cũng phải có hai mặt: Mặt phản ánh (nói về đối tượng) và mặt biểu hiện (thể hiện sự sáng tạo của con người). Hai mặt này bao giờ cũng gắn bó chặt chẽ với nhau và tồn tại không tách rời với nhau. Tuy nhiên, do đặc trưng của từng thể loại, loại hình nghệ thuật, do đặc điểm phong cách của từng nghệ sĩ, có khi mặt này hoặc mặt kia được nổi lên vị trí hàng đầu, còn mặt còn lại thì bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Ví dụ, người ta thường gọi các ngành như hội hoạ, điêu khắc là các ngành nghệ thuật tạo hình.
Còn các ngành như nhảy múa, âm nhạc, văn học…là các ngành nghệ thuật biểu hiện. Tất nhiên, chúng ta cần phải hiểu rằng, ngay trong nghệ thuật vẫn có tính chất biểu hiện và ngược lại, trong ngành nghệ thuật cũng có tính chất tạo hình. Có điều là, ở mỗi ngành nghệ thuật, chất liệu xây dựng nên phương thức tạo hình là hoàn toàn khác nhau. 7 z Chẳng hạn, để làm nên phương thức tạo hình thì các nhà nghệ sĩ ở ngành hội hoạ phải dung màu sắc, ở ngành điêu khắc phải dùng ngôn ngữ.
Cho nên, ngôn ngữ chính là cái chất liệu mà các nhà thơ sử dụng để làm nên tính chất tạo hình trong thơ. Một đặc điểm nổi bật của phương thức tạo hình là phản ánh trực tiếp đối tượng, nghĩa là miêu tả đối tượng như nó vốn có trong thực tế khách quan. Một tác phẩm thơ ca có tính chất tạo hình là một tác phẩm đem đến cho người đọc những bức tranh sinh động về cuộc sống, hiện thực và thực tế khiến người ta có thể cảm nhận được. Muốn như vậy, nhà nghệ sĩ phải sử dụng hai thao tác cơ bản là thao tác lựa chọn và thao tác kết hợp.Thao tác lựa chọn cho phép nhà nghệ sĩ lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ như là các bức tranh riêng lẻ về hiện thực.
Thao tác kết hợp cho phép nhà nghệ sĩ xây dựng những bức tranh chung rộng lớn hơn bằng việc kết hợp những bức tranh riêng lẻ này lại với nhau theo những quy luật nhất định. Tài năng của nhà nghệ sĩ được đánh giá ở chỗ, với một số lượng hữu hạn các đơn vị ngôn ngữ, anh ta phải làm như thế nào đó để tạo được những bức tranh vô hạn về thế giới khách quan cũng như về thế giới nội tâm của con người. Khi hoạt động với tư cách là chất liệu của ngành nghệ thuật tạo hình thì chức năng định danh của ngôn ngữ sẽ nổi lên hàng đầu. Trong trường hợp này, tính đa dạng về ngữ nghĩa, tính giàu có về mặt biểu tượng sẽ bị khử bỏ.18] Phương thức biểu hiên trong ngôn ngữ thơ Phương thức biểu hiện chính là việc khai thác các khả năng biểu hiện của các đơn vị ngôn ngữ thông qua thao tác lựa chọn và thao tác kết hợp trong quá trình tổ chức văn bản.
Thao tác lựa chọn cho phép nhà nghệ sĩ lựa chọn một đơn vịtrong một loạt các đơn vị có giá trị tương đương với nhau, có thể thay thế nhau trên trục dọc. Thao tác kết hợp nhà nghệ sĩ, sau khi đã lựa chọn, có thể tạo ra những kết hợp bất ngờ, sáng tạo dựa trên những tiền đề vật chất mà ngôn ngữ dân tộc cho phép. Ngôn ngữ và cấu tạo hình tượng thơ Trong bộ môn lý luận văn học, hiện nay thuật ngữ “hình tượng” và “tính hình tượng” vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất. Ngay cả trong các công trình nổi tiếng, nhưng khái niệm này cũng không được bàn đến một cách thấu đáo.Vậy “hình tượng” là gì và “tính hình tượng” là gì? Theo tác giả Hữu Đạt [11,tr.
32] thì “hình tượng” được hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp. Theo nghĩa hẹp, “hình tượng” là cách biểu hiện làm cho lời nói thêm cụ thể và có nhiều màu sắc. Các định nghĩa cổ truyền thường xác định “hình tượng” là “sự phản ánh hiện thực một cách khái quát dưới hình thức đơn lẻ”. Nói như Goocki, “Hình tượng nghệ thuật…hầu như bao giờ cũng rộng hơn và sâu hơn tư tưởng, nó hản ánh cuộc sống con người với cuộc sống tinh thần nhiều hình nhiều vẻ cùng với tất cả những mâu thuẫn về tình cảm và ý chí của nó.
Tác phẩm nghệ thuật đối với cuộc sống thực tế và sinh động hơn…” Khi phân tích thơ, việc đầu tiên chúng ta cần phân biệt rõ giữa cái gọi là hình tượng nghệ thuật chung và hình tượng văn học nói chung. Vì rõ ràng là không phải chỉ có văn học mới có hình tượng và mới phản ánh cuộc sống bằng hình tượng. Điêu khắc, hội họa, âm nhạc đều có những hình tượng riêng của nó, tức là phản ánh cuộc sống theo cách riêng mang tính chất đặc thù của mình. Ta có thể định nghĩa hình tượng văn học như sau: “Hình tượng văn học nghệ thuật là một bức tranh sinh động nhất của cuộc sống được xây dựng bằng ngôn ngữ nhờ có trí tưởng tượng, óc sáng tạo và cách đánh giá của nhà nghệ sĩ”.
“Tính hình tượng là cái tồn tại phụ thuộc vào văn cảnh, nó tồn tại ở bề mặt văn bản, trên những mối quan hệ cụ thể, còn hình tượng là cái thuộc về cấu trúc chiều sâu của văn bản. Nó là sự tổng hòa hay là sự đồng hiện của tất cả những cái hình tượng của văn cảnh ấy. Nói một cách khác, hình tượng là cái nằm ở phía trong của những mối quan hệ. Khái niệm về ẩn dụ 1.
Sơ lược về lịch sử nghiên cứu ẩn dụ Ẩn dụ là một hiện tượng đã được nghiên cứu từ thời cổ đại (khoảng thế kỷ thứ IV trước công nguyên) ở nhiều cấp độ khác nhau. Ẩn dụ không chỉ được nghiên cứu trong các lĩnh vực thuộc về ngữ văn học, mà còn được nghiên cứu ở nhiều các lĩnh vực khác như: triết học, tâm lý học, phong cách học, từ vựng học và gần đây nhất là dụng học và ngôn ngữ học tri nhận. Lý thuyết về ẩn dụ bắt đầu hình thành từ thời triết học Hy Lạp. Ẩn dụ theo tiếng Hy Lạp lúc bấy giờ là (metaphor) có nghĩa là chuyển từ chỗ này sang một chỗ khác, tức có nghĩa là chuyển đổi.
Sau này khái niệm chuyển đổi ấy được vận dụng vào việc xác định nghĩa của từ theo phương thức ẩn dụ là hiện tượng chuyển nghĩa. Trong ẩn dụ một sự vật được miêu tả hay được định nghĩa bằng những từ biểu thị một sự vật khác, có sự tương đồng hay sự giống nhau với sự vật trước. Trong các công trình nghiên cứu của các học giả Trung Hoa cổ đại thì ẩn dụ được thể hiện qua cách chỉ sự ví von, bóng bẩy và thường ẩn chứa trong lời khởi đầu của các bài ca dao dân ca sau này và được ghi lại rất nhiều trong các tác phẩm Kinh Thi nổi tiếng. Đến thời hiện đại cũng xuất hiện khá nhiều công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học về ẩn dụ.
Có thể kể ra như: R.