Luận án tiến sĩ về dịch tễ học và yếu tố nguy cơ hội chứng chuyển hóa ở Thừa Thiên Huế

Luận án tiến sĩ phân tích dịch tễ học và yếu tố nguy cơ hội chứng chuyển hóa tại Thừa Thiên Huế, cung cấp giá trị dự báo quan trọng.

Trường đại học

Đại học Huế

Chuyên ngành

Y tế công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

175
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. TỔNG QUAN VỀ HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA

1.1.1. Lịch sử và danh pháp hội chứng chuyển hoá

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về hội chứng chuyển hóa

Hội chứng chuyển hóa (HCCH) là một nhóm các rối loạn chuyển hóa liên quan đến nhau, bao gồm béo phì trung tâm, rối loạn lipid máu, tăng glucose máu và tăng huyết áp. Theo nghiên cứu, HCCH không chỉ là một vấn đề sức khỏe cá nhân mà còn là một thách thức lớn đối với sức khỏe cộng đồng, đặc biệt ở các nước đang phát triển như Việt Nam. Tỉ lệ mắc HCCH đang gia tăng nhanh chóng, với ước tính khoảng 28% người trưởng thành tại Việt Nam mắc hội chứng này. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nghiên cứu và hiểu rõ hơn về đặc điểm dịch tễ học của HCCH tại các địa phương, đặc biệt là tại tỉnh Thừa Thiên Huế.

1.1. Đặc điểm dịch tễ học của hội chứng chuyển hóa

Nghiên cứu dịch tễ học cho thấy HCCH có sự phân bố không đồng đều giữa các nhóm dân cư. Tại Thừa Thiên Huế, tỉ lệ mắc HCCH ở người dân từ 25 tuổi trở lên có sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng. Các yếu tố như tuổi tác, giới tính, tình trạng kinh tế và lối sống đều ảnh hưởng đến nguy cơ mắc hội chứng này. Đặc biệt, thói quen ăn uống không lành mạnh và thiếu hoạt động thể chất là những yếu tố nguy cơ chính dẫn đến sự gia tăng tỉ lệ mắc HCCH. Việc phân tích các yếu tố này giúp xác định các nhóm dân cư có nguy cơ cao, từ đó có thể đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời.

1.2. Các yếu tố nguy cơ của hội chứng chuyển hóa

Các yếu tố nguy cơ của HCCH bao gồm yếu tố di truyền, môi trường và lối sống. Nghiên cứu cho thấy rằng yếu tố di truyền có thể làm tăng nguy cơ mắc HCCH, đặc biệt là trong các gia đình có tiền sử mắc bệnh. Ngoài ra, các yếu tố môi trường như chế độ ăn uống không hợp lý, thói quen ít vận động và căng thẳng tâm lý cũng đóng vai trò quan trọng. Việc nhận diện và đánh giá các yếu tố nguy cơ này là cần thiết để xây dựng các chương trình phòng ngừa hiệu quả, nhằm giảm thiểu tỉ lệ mắc HCCH trong cộng đồng.

II. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên một mẫu đại diện của người dân tỉnh Thừa Thiên Huế từ 25 tuổi trở lên. Phương pháp nghiên cứu bao gồm thiết kế nghiên cứu bệnh chứng, trong đó các đối tượng được phân loại thành nhóm bệnh và nhóm chứng dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH. Dữ liệu được thu thập thông qua bảng hỏi và các chỉ số nhân trắc như vòng bụng, chỉ số khối cơ thể (BMI) và huyết áp. Phân tích thống kê được thực hiện để xác định mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ và sự xuất hiện của HCCH.

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu bao gồm 1600 người dân tại 8 xã/phường thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế. Các đối tượng được chọn ngẫu nhiên và phải đáp ứng tiêu chí từ 25 tuổi trở lên. Việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu đảm bảo tính đại diện cho dân số địa phương, giúp kết quả nghiên cứu có thể áp dụng rộng rãi. Các thông tin về tiền sử bệnh lý, thói quen sinh hoạt và chế độ ăn uống của đối tượng cũng được thu thập để phục vụ cho việc phân tích.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu bao gồm việc sử dụng bảng hỏi để thu thập thông tin về các yếu tố nguy cơ và tình trạng sức khỏe của đối tượng. Các chỉ số nhân trắc như vòng bụng, BMI và huyết áp được đo lường trực tiếp. Dữ liệu thu thập được phân tích bằng phần mềm thống kê để xác định mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ và HCCH. Phân tích đa biến cũng được thực hiện để kiểm tra ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau đến nguy cơ mắc HCCH.

III. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ mắc HCCH ở người dân tỉnh Thừa Thiên Huế là 28%, với sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm tuổi và giới tính. Các yếu tố nguy cơ như thừa cân, béo phì, tăng huyết áp và rối loạn lipid máu đều có mối liên quan chặt chẽ với sự xuất hiện của HCCH. Đặc biệt, vòng bụng được xác định là chỉ số dự báo quan trọng cho HCCH, với giá trị dự đoán cao ở cả nam và nữ. Những phát hiện này cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng các chương trình can thiệp nhằm giảm thiểu tỉ lệ mắc HCCH trong cộng đồng.

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là người dân từ 25 tuổi trở lên, với tỉ lệ nam và nữ tương đối cân bằng. Đặc điểm dân số cho thấy sự phân bố tuổi tác và tình trạng kinh tế có ảnh hưởng lớn đến nguy cơ mắc HCCH. Những người có thu nhập thấp và trình độ học vấn thấp có xu hướng mắc HCCH cao hơn. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các chương trình giáo dục sức khỏe nhằm nâng cao nhận thức về HCCH và các yếu tố nguy cơ liên quan.

3.2. Đặc điểm dịch tễ học hội chứng chuyển hóa

Tỉ lệ mắc HCCH ở người dân tỉnh Thừa Thiên Huế cho thấy sự gia tăng đáng kể trong những năm gần đây. Các yếu tố như thói quen ăn uống không lành mạnh, thiếu hoạt động thể chất và căng thẳng tâm lý được xác định là những nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng này. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có sự khác biệt rõ rệt về tỉ lệ mắc HCCH giữa các vùng khác nhau trong tỉnh, điều này cho thấy cần có các biện pháp can thiệp phù hợp với từng khu vực.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Hội chứng chuyển hóa là một nhóm các biểu hiện rối loạn chuyển hóa như: Béo phì trung tâm, rối loạn lipid máu, tăng glucose máu lúc đói và tăng huyết áp, là một trong những thách thức quan trọng hiện nay về sức khỏe cộng đồng ở các nước đã và đang phát triển trong đó có Việt Nam. Các biểu hiện rối loạn chuyển hóa nói trên còn được gọi là yếu tố nguy cơ chuyển hóa, có liên quan với nhau, trực tiếp đẩy nhanh quá trình hình thành đái tháo đường típ 2 gấp 5 lần và phát triển bệnh tim mạch gấp 2-3 lần, dẫn đến tần suất tử vong do bệnh tim mạch như nhồi máu cơ tim, suy tim mạn tính, đột quỵ… [39]. Hậu quả của hội chứng chuyển hóa là gánh nặng về kinh tế, xã hội và có nguy cơ tử vong cao. Trong bối cảnh đại dịch, tỉ lệ bệnh nhân mắc hội chứng chuyển hóa nhập viện và tử vong do COVID - 19 cao hơn [136].

Trên thế giới và ở Việt Nam, hội chứng chuyển hóa ngày càng gia tăng, có tính thời sự, có liên quan đến sự phát triển kinh tế xã hội và lối sống của con người. Theo ước tính của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế, 40% người dân trưởng thành Mỹ mắc hội chứng chuyển hóa. Ở một số khu vực trên thế giới, tỉ lệ người dân mắc hội chứng chuyển hóa dao động từ 11,9% đến 43,3% [43], [91], [116]. Tại Việt Nam, tỉ lệ mắc hội chứng chuyển hóa trong những năm gần đây không ngừng gia tăng.

Theo nghiên cứu của một số tác giả, tỉ lệ người dân mắc hội chứng chuyển hóa tăng từ 12% năm 2001 lên 28,0% năm 2014 [14], [30]. Do đó, chiến lược dự phòng ban đầu là cần thiết để giảm tỉ lệ mắc và tử vong liên quan đến hội chứng chuyển hóa. Để kiểm soát bệnh không lây nhiễm nói chung, Tổ chức Y tế thế giới kêu gọi thực hiện nhiều biện pháp trong đó có kiểm soát các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm [133]. Đồng thời, khuyến cáo sử dụng bộ công cụ STEPS (Tiếp cận bậc thang trong giám sát yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm) để đánh giá để theo dõi xu hướng các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm trong nước và so sánh giữa các quốc gia [133].

Tại tỉnh Thừa Thiên Huế, nghiên cứu của Đoàn Phước Thuộc cho thấy tỉ lệ mắc một số bệnh không lây nhiễm của người dân tỉnh Thừa Thiên Huế tăng cao. Tỉ lệ người dân mắc tăng huyết áp, đái tháo đường và rối loạn lipid lần lượt là 44,1%; 1 luan an 8,1% và 62,9%; tỉ lệ mắc mới phát hiện, tỉ lệ người dân không điều trị và điều trị không thường xuyên chiếm chủ yếu [28]. Trong khi đó, tuyến y tế cơ sở vẫn chưa được đầu tư và trang bị sẵn sàng để đáp ứng với sự gia tăng nhanh chóng của bệnh đái tháo đường và bệnh lý tim mạch trong cộng đồng [31], [32]. Do đó, xác định giá trị của một số chỉ số dự báo hội chứng chuyển hóa; trong đó các chỉ số nhân trắc là các chỉ số đánh giá đơn giản, thực hiện dễ dàng, không xâm lấn, rẻ tiền và có hiệu quả để người dân có thể tiếp cận được dễ dàng, bác sĩ ở trạm y tế xã/ phường có thể áp dụng để tiết kiệm chi phí cho người dân là cần thiết.

Xuất phát từ những vấn đề trên, nhằm cung cấp những thông tin để đề ra chiến lược có hiệu quả và phù hợp với bối cảnh hiện nay; đồng thời đưa ra được những khuyến cáo cụ thể để dự phòng hội chứng chuyển hóa và xác định các chỉ số dự báo hội chứng chuyển hóa có thể ứng dụng cho cá nhân và tại tuyến y tế cơ sở, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học, các yếu tố nguy cơ và giá trị dự báo hội chứng chuyển hóa của người dân tỉnh Thừa Thiên Huế” với các mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm dịch tễ học của hội chứng chuyển hóa ở người dân từ 25 tuổi trở lên thuộc một số vùng của tỉnh Thừa Thiên Huế. Phân tích một số yếu tố nguy cơ của hội chứng chuyển hóa ở đối tượng nghiên cứu 3. Ước tính giá trị của một số chỉ số dự báo hội chứng chuyển hóa ứng dụng ở cá nhân và tại tuyến y tế cơ sở Ý nghĩa khoa học của đề tài: Qua nghiên cứu này giúp hiểu rõ hơn xu hướng và đặc điểm dịch tễ học của hội chứng chuyển hóa trong những năm gần đây.

Các yếu tố nguy cơ của hội chứng chuyển hóa được đánh giá cụ thể theo tiếp cận bậc thang trong giám sát yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm (STEPS) và được chứng minh bằng thiết kế nghiên cứu bệnh chứng. Nghiên cứu cung cấp những cơ sở khoa học để xây dựng các chỉ số dự báo, đề cập đến giá trị của một số chỉ số đã được nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới. 2 luan an Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Nghiên cứu giúp cập nhật dịch tễ học hội chứng chuyển hóa. Đây là nghiên cứu mô tả đặc điểm dịch tễ học hội chứng chuyển hóa sau 14 năm so với nghiên cứu của Huỳnh Văn Minh (2008) thực hiện tại tỉnh Thừa Thiên Huế.

Từ đó, thấy được xu hướng mắc hội chứng chuyển hóa của người dân để đề ra chiến lược có hiệu quả và phù hợp với bối cảnh hiện tại. Kết quả luận án xác định các dạng kết hợp của thành tố hội chứng chuyển hóa, nhất là sự xuất hiện của thành tố vòng bụng kết hợp với huyết áp tăng giúp cán bộ y tế cơ sở có thể chuyển tuyến kịp thời, người dân phát hiện sớm các nguy cơ. Các yếu tố nguy cơ của hội chứng chuyển hóa được đánh giá cụ thể theo tiếp cận bậc thang trong giám sát yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm (STEPS) và được chứng minh bằng thiết kế nghiên cứu bệnh chứng. Do đó, dễ dàng đưa ra được những khuyến cáo cụ thể để dự phòng hội chứng chuyển hóa.

Xác định giá trị của một số chỉ số dự báo hội chứng chuyển hóa; trong đó các chỉ số nhân trắc là các chỉ số đánh giá đơn giản, thực hiện dễ dàng, không xâm lấn, rẻ tiền và có hiệu quả để người dân có thể tiếp cận được dễ dàng, bác sĩ ở trạm y tế xã/ phường có thể áp dụng để tiết kiệm chi phí cho người dân. 3 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA 1. Lịch sử và danh pháp hội chứng chuyển hoá Eskil Kylin đã có những mô tả lần đầu tiên vào năm 1923 khi phát hiện có sự hiện diện đồng thời của một nhóm bất thường đó là tăng huyết áp (THA), tăng glucose máu, béo phì và tăng acid uric máu [95].

Năm 1947, Vague đã chia béo phì ra làm hai loại, béo dạng nữ (gynoid) và béo dạng nam (android). Béo dạng nữ được đặc trưng bởi sự tập trung của mô mỡ ở quanh đùi và mông, trong khi béo dạng nam đặc trưng bởi sự tập trung của mô mỡ quanh bụng. Béo dạng nam có liên quan nhiều đến kháng insulin và nguy cơ tim mạch [124]. Từ giữa những năm 1960, một số nhà khoa học đã có những nghiên cứu độc lập ở các quốc gia khác nhau, công bố những quan sát về tập hợp các thành phần khác nhau của hội chứng chuyển hóa (HCCH).

Ở Pháp, Camus (1966) đã ghi nhận tam chứng chuyển hóa bao gồm bệnh gút, đái tháo đường (ĐTĐ) và tăng lipid máu. Tại Ý, Avogaro và Crepaldi (1967) đã mô tả nhiều bệnh nhân bị đồng thời bị tăng lipid máu, béo phì và đái tháo đường và thỉnh thoảng bị THA và bệnh mạch vành kèm theo gọi là hội chứng đa chuyển hóa. Tại Tây Đức, Mehnert và Kuhlmann (1968) đã nghiên cứu các bất thường chuyển hóa liên quan đến thói quen ăn uống và lối sống ở các quốc gia phát triển [92]. Những năm đầu 1970, Hanefeld M đã mở rộng các quan sát trước đây, nhấn mạnh nguy cơ cao mắc xơ vữa ở những người trong nhóm các rối loạn này.

Gần 10 năm sau, vào năm 1981, Hanefeld M và Leonhardt W dựa trên dữ liệu dịch tễ học và sinh lý bệnh, đã mô tả HCCH bao gồm: ĐTĐ típ 2, tăng insulin máu, béo phì, THA, tăng lipid máu, gút, và bệnh máu khó đông. Các tác giả này lưu ý những rối loạn ở trên phát triển dựa trên nền tảng của yếu tố di truyền và yếu tố môi trường như chế độ dinh dưỡng quá cao và thiếu hoạt động thể lực và dẫn đến sự phát triển của xơ vữa động mạch [109]. 4 luan an Năm 1988, Gerald Reaven mô tả “Hội chứng X”, bao gồm một nhóm các yếu tố nguy cơ bệnh lý mạch vành như THA, tăng glucose máu, tăng triglycerid và hạ HDL-C máu. Reaven cũng đưa ra giả thuyết coi kháng insulin có vai trò trung tâm trong cơ chế bệnh sinh của hội chứng X [103].

Tăng triglyceride Giảm HDL Cholesterol Kháng insulin Tăng glucose máu Tăng huyết áp Sơ đồ 1. Hội chứng X: Tập hợp các bất thƣờng chuyển hóa liên quan đến đề kháng insulin (Reaven đề xuất 1988) [103] Một năm sau, Norman Kaplan đã bổ sung vào các rối loạn được mô tả bởi Reaven một yếu tố quan trọng, đó là béo phì trung tâm. Từ đó trở đi, béo phì trung tâm được coi là một trong những thành phần điển hình của hội chứng. Kaplan đã tóm tắt các đặc điểm chính của hội chứng gồm 4 thành phần: Béo phì trung tâm, rối loạn glucose máu đói, tăng triglycerid máu và huyết áp tăng và đặt tên là tứ chứng chết người để chỉ ra tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển của bệnh tim mạch [77].

Trong những năm tiếp theo DeFronzo và Ferrannini (1991) đã đưa vào mô hình của mình vai trò chính của đề kháng insulin ở mô mỡ và những thay đổi liên quan đến chuyển hóa axit béo tự do, và gọi là hội chứng kháng insulin [55]. Năm 1998, một nhóm chuyên gia của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) thống nhất tên gọi là HCCH và khuyến cáo không nên gọi là kháng insulin. Định nghĩa này nhấn mạnh vai trò quan trọng của những biểu hiện bất thường có thể gây ra nguy hiểm cho người bệnh bao gồm: Béo phì trung tâm, giảm dung nạp glucose, tăng glucose máu, tăng triglyceride máu, microalbumin niệu [41]. Năm 2001, Chương trình giáo dục quốc gia về cholesterol – Bảng điều trị dành cho người trưởng thành III (NCEP – ATP III) xem HCCH là một yếu tố nguy cơ phức tạp của bệnh tim mạch và ĐTĐ típ 2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về dịch tễ học và yếu tố nguy cơ hội chứng chuyển hóa ở Thừa Thiên Huế" của tác giả Nguyễn Thị Hường, dưới sự hướng dẫn của PGS. Đoàn Phước Thuộc và TS. Lê Văn Chi, được thực hiện tại Đại học Huế vào năm 2022. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ liên quan đến hội chứng chuyển hóa tại khu vực Thừa Thiên Huế. Bài luận án không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình sức khỏe cộng đồng mà còn giúp xác định các yếu tố nguy cơ, từ đó đưa ra các giải pháp can thiệp hiệu quả nhằm cải thiện sức khỏe cho người dân.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến y tế công cộng và dịch tễ học, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận án tiến sĩ về mật độ xương và loãng xương ở người thừa cân béo phì, nghiên cứu này cũng đề cập đến các yếu tố nguy cơ sức khỏe; Nghiên cứu nồng độ IgA, IgG, IgM huyết tương ở bệnh nhân hội chứng thận hư nguyên phát, cung cấp thông tin về các chỉ số sinh học liên quan đến sức khỏe; và Nghiên cứu mức lọc cầu thận bằng cystatin C ở bệnh nhân tiền đái tháo đường và đái tháo đường típ 2, nghiên cứu này cũng liên quan đến các yếu tố nguy cơ trong bệnh lý nội khoa. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề sức khỏe hiện nay.