Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học và kết quả điều trị nhiễm nấm trên bệnh nhân bỏng nặng tại bệnh viện bỏng quốc gia

Luận án tiến sĩ y tế phân tích nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học và kết quả điều trị nhiễm nấm trên bệnh nhân bỏng nặng tại bệnh, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm,

Trường đại học

Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương

Chuyên ngành

Dịch tễ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sỹ y học

2020

172
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Dịch tễ học nhiễm nấm ở bệnh nhân bỏng nặng

Nghiên cứu tập trung vào dịch tễ học nhiễm nấm ở bệnh nhân bỏng nặng tại Bệnh viện Bỏng Quốc gia. Tỷ lệ nhiễm nấm được xác định dựa trên các yếu tố như diện tích bỏng, thời gian điều trị, và tình trạng miễn dịch. Kết quả cho thấy, nhiễm nấm xảy ra phổ biến ở những bệnh nhân có diện tích bỏng lớn và thời gian nằm viện kéo dài. Các yếu tố nguy cơ bao gồm sử dụng kháng sinh phổ rộng, can thiệp y tế xâm lấn, và suy giảm miễn dịch. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nhiễm nấm không chỉ ảnh hưởng đến vết thương mà còn có thể lan rộng gây nhiễm trùng huyết.

1.1. Tỷ lệ nhiễm nấm

Tỷ lệ nhiễm nấm ở bệnh nhân bỏng nặng được ghi nhận là cao, đặc biệt ở những bệnh nhân có diện tích bỏng trên 30%. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nuôi cấy và phân tích sinh học phân tử để xác định sự hiện diện của nấm. Kết quả cho thấy, Candida là loại nấm phổ biến nhất, chiếm hơn 60% các trường hợp nhiễm nấm. Các loại nấm khác như AspergillusFusarium cũng được phát hiện nhưng với tỷ lệ thấp hơn.

1.2. Yếu tố liên quan

Các yếu tố liên quan đến nhiễm nấm bao gồm diện tích bỏng lớn, thời gian điều trị kéo dài, và sử dụng kháng sinh phổ rộng. Nghiên cứu chỉ ra rằng, bệnh nhân có diện tích bỏng trên 30% có nguy cơ nhiễm nấm cao gấp 3 lần so với những bệnh nhân có diện tích bỏng nhỏ hơn. Ngoài ra, việc sử dụng catheter tĩnh mạch trung tâm và thở máy cũng làm tăng nguy cơ nhiễm nấm.

II. Hiệu quả điều trị nhiễm nấm

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả điều trị nhiễm nấm ở bệnh nhân bỏng nặng bằng các phác đồ kháng nấm khác nhau. Kết quả cho thấy, việc sử dụng fluconazoleamphotericin B mang lại hiệu quả cao trong điều trị nhiễm Candida. Tuy nhiên, một số chủng nấm đã xuất hiện tình trạng kháng thuốc, đặc biệt là với fluconazole. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định độ nhạy của nấm với thuốc để lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp.

2.1. Phương pháp điều trị

Các phương pháp điều trị nhiễm nấm bao gồm sử dụng thuốc kháng nấm như fluconazole, amphotericin B, và voriconazole. Nghiên cứu chỉ ra rằng, fluconazole là lựa chọn đầu tay trong điều trị nhiễm Candida, trong khi amphotericin B được sử dụng cho các trường hợp nhiễm nấm nặng hoặc kháng thuốc. Việc kết hợp các loại thuốc kháng nấm cũng được áp dụng để tăng hiệu quả điều trị.

2.2. Đánh giá kết quả

Kết quả điều trị được đánh giá dựa trên thời gian sạch nấm trong mô sinh thiết và máu. Nghiên cứu ghi nhận, 70% bệnh nhân đạt được kết quả điều trị tốt sau 14 ngày sử dụng thuốc kháng nấm. Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong vẫn cao ở những bệnh nhân nhiễm nấm xâm lấn, đặc biệt là khi điều trị bắt đầu muộn. Nghiên cứu khuyến nghị việc chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời để cải thiện kết quả điều trị.

III. Thành phần loài nấm và kháng thuốc

Nghiên cứu xác định thành phần loài nấm gây nhiễm trùng ở bệnh nhân bỏng nặng và đánh giá mức độ kháng thuốc của các loài nấm này. Kết quả cho thấy, Candida albicans là loại nấm phổ biến nhất, chiếm 45% các trường hợp, tiếp theo là Candida tropicalisAspergillus fumigatus. Nghiên cứu cũng phát hiện tình trạng kháng thuốc gia tăng, đặc biệt là với fluconazole, khiến việc điều trị trở nên khó khăn hơn.

3.1. Thành phần loài nấm

Nghiên cứu sử dụng phương pháp hình thái và sinh học phân tử để xác định thành phần loài nấm. Kết quả cho thấy, Candida albicans là loại nấm phổ biến nhất, chiếm 45% các trường hợp. Các loại nấm khác như Candida tropicalis, Aspergillus fumigatus, và Fusarium cũng được phát hiện nhưng với tỷ lệ thấp hơn. Nghiên cứu nhấn mạnh sự đa dạng của các loài nấm gây bệnh và sự cần thiết của việc xác định chính xác loài nấm để điều trị hiệu quả.

3.2. Kháng thuốc

Nghiên cứu đánh giá mức độ kháng thuốc của các loài nấm với các loại thuốc kháng nấm phổ biến. Kết quả cho thấy, Candida albicans có tỷ lệ kháng fluconazole cao nhất, lên đến 20%. Các loài nấm khác như Aspergillus fumigatusFusarium cũng cho thấy sự kháng thuốc với amphotericin Bvoriconazole. Nghiên cứu khuyến nghị việc sử dụng các xét nghiệm độ nhạy thuốc để lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học và kết quả điều trị nhiễm nấm trên bệnh nhân bỏng nặng tại bệnh viện bỏng quốc gia

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Bỏng là một tổn thương thường gặp, cả trong chiến tranh và thời bình. Trên bệnh nhân bỏng nặng xuất hiện nhiều rối loạn bệnh lý khác nhau, trong đó có suy giảm miễn dịch toàn thân và tại chỗ, do đó bệnh nhân bỏng có nguy cơ cao bị nhiễm trùng. Nhiễm trùng trên bệnh nhân bỏng có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau như vi khuẩn, nấm… Cho đến nay nhiễm trùng vẫn là một trong những nguyên nhân tử vong hàng đầu ở bệnh nhân bỏng [1]. Với sự tiến bộ trong chăm sóc bệnh nhân, xuất hiện của nhiều loại kháng sinh thế hệ mới, phổ rộng đã kiểm soát khá hiệu quả căn nguyên nhiễm khuẩn trên bệnh nhân bỏng.

Những tiến bộ này, tuy nhiên không làm giảm được tình trạng nhiễm nấm, đôi khi còn tạo điều kiện thuận lợi cho nấm phát triển trên một cơ địa thuận lợi là những bệnh nhân bỏng, đặc biệt là bệnh nhân bỏng nặng. Nhiễm nấm trên bệnh nhân bỏng có nhiều mức độ khác nhau, có thể chỉ là nấm phát triển trên bề mặt tổn thương, ở các bệnh phẩm không vô khuẩn (như dịch đường tiêu hóa, hô hấp.) hay nấm xâm lấn sâu xuống vùng mô lành, nhiễm nấm huyết. Nhiễm nấm bỏng do nhiều loài nấm khác nhau. Candida chiếm thành phần chủ yếu, bao gồm cả Candida albicans và Candida non-albicans, ngoài ra còn một số loại nấm sợi như Aspegillus, Fusarium, Mucor….

Hiện nay đã xuất hiện tình trạng nấm kháng với thuốc kháng nấm. Mức độ kháng thuốc khác nhau với từng loài nấm và từng loại thuốc kháng nấm. Trong lâm sàng, lý tưởng nhất là từng chủng nấm gây bệnh ở mỗi bệnh nhân cần được xác định độ nhạy để lựa chọn thuốc tuy nhiên do nhiều khó khăn khác nhau nên vấn đề này không thực hiện được trên thực tiễn. Do đó, đa số các hướng dẫn điều trị hiện nay đều dựa vào các thông số thành phần loài và mức độ kháng thuốc kháng nấm trên các loài nấm phân lập được ở từng khu 2 vực, bệnh viện để lựa chọn phác đồ điều trị.

Tại Việt Nam hàng năm có hàng ngàn bệnh nhân bị bỏng, trong đó có rất nhiều bệnh nhân nặng, phải điều trị tại các đơn vị Hồi sức tích cực [2]. Đã có một số thông báo lâm sàng về bệnh nhân bỏng nhiễm nấm huyết [3], [4]. Tuy nhiên tình trạng nhiễm nấm trên bệnh nhân bỏng còn ít được chú ý nghiên cứu. Các xét nghiệm để chẩn đoán nấm không được thực hiện thường qui như chẩn đoán nhiễm khuẩn do đó các thông tin về tình hình nhiễm nấm trên bệnh nhân bỏng rất hạn chế.

Điều trị nhiễm nấm ở bệnh nhân bỏng còn khó khăn do thiếu các thông tin về căn nguyên gây bệnh cũng như tình trạng đáp ứng với thuốc kháng nấm của mầm bệnh, thiếu các nghiên cứu đánh giá về hiệu quả phác đồ điều trị áp dụng trong lâm sàng. Những thông tin về nhiễm nấm trên bệnh nhân bỏng tại Việt Nam là rất cần thiết nhằm đề ra những hướng dẫn về chăm sóc, chẩn đoán, điều trị bệnh nhân. Do đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài luận án “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học và kết quả điều trị nhiễm nấm trên bệnh nhân bỏng nặng tại Bệnh viện Bỏng quốc gia (2017 – 2019)” với 3 mục tiêu: 1. Xác định tỷ lệ và một số yếu tố liên quan nhiễm nấm ở bệnh nhân bỏng nặng (03/2017 – 12/2019).

Xác định thành phần loài nấm ở bệnh nhân bỏng nặng bằng phương pháp hình thái và sinh học phân tử. Đánh giá độ nhạy của nấm với một số thuốc kháng nấm và kết quả điều trị nhiễm nấm ở bệnh nhân bỏng nặng. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tỷ lệ và yếu tố liên quan nhiễm nấm trên bệnh nhân bỏng 1.

Khái niệm, phân loại 1. Khái niệm và đặc điểm bỏng Bỏng là một loại tổn thương/chấn thương hoặc vết thương do những yếu tố không phải cơ học mà do yếu tố nhiệt (nóng/lạnh), hóa, bức xạ (ion hóa, không ion hóa. Trong đó bỏng do nhiệt là chủ yếu. Bỏng là tổn thương hay gặp.

Ở Hoa Kỳ mỗi năm có khoảng 2 triệu người (khoảng 1% dân số) bị bỏng, trong đó có 70.000 phải vào viện điều trị nội trú. Hậu quả do bỏng rất nặng nề, trên thế giới mỗi năm có 206.000 người tử vong do bỏng, trong đó 2/3 là ở các nước đang phát triển [1]. Việt Nam là nước đang phát triển, do đó người dân có nguy cơ bỏng cao hơn so với các nước phát triển. Bỏng được coi là một bệnh với các giai đoạn khác nhau, giai đoạn phản ứng cấp tính (trong 48 - 72 giờ đầu) với đặc trưng là sốc bỏng, giai đoạn nhiễm trùng – nhiễm độc cùng các biến chứng (từ ngày thứ 3 tới ngày 60 sau bỏng), giai đoạn phục hồi [1].

Trong giai đoạn nhiễm trùng nhiễm độc có quá trình viêm, nhiễm trùng tại chỗ, lân cận và toàn thân. Các cơ quan, đặc biệt là gan, thận chịu tác động của nhiễm độc – nhiễm trùng, xuất hiện các rối loạn chức năng và tổn thương thực thể, tạo vòng xoắn bệnh lý và làm bệnh bỏng nặng hơn. Hiện nay thời kỳ nhiễm trùng nhiễm độc là thời kỳ có tỷ lệ có biến chứng và tử vong cao nhất [1]. Diện tích và độ sâu bỏng: Để đánh giá, tiên lượng bỏng thì diện tích và độ sâu bỏng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Để tính diện tích bỏng có thể áp dụng nhiều phương pháp khác nhau như phương pháp Blokhin, phương pháp con số 9 của Pulaski EJ, Tennison CW và Walace A. Ở Việt Nam Lê Thế 4 Trung đề xuất phương pháp 1 - 3 - 6 - 9 – 18 [1]. Độ sâu bỏng thường được chia thành hai nhóm gồm bỏng nông - bỏng độ I, II và III; (tổn thương một phần da -(partial thichness burn) và bỏng sâu - bỏng độ IV và V (toàn bộ da - full thickness burn) [1]. Bỏng càng rộng, độ sâu càng lớn thì bệnh bỏng càng nặng.

Với cùng diện tích bỏng thì trẻ em (< 15 tuổi) hoặc người già (>65 tuổi) sẽ tiên lượng nặng hơn do đó chỉ tiêu đánh giá mức độ nặng khác nhau giữa người trưởng thành và trẻ em, người già [1]. Các tổn thương do bỏng gây ra tình trạng ức chế miễn dịch, dẫn tới việc bệnh nhân (BN) bỏng dễ bị biến chứng nhiễm khuẩn. Tổn thương bỏng làm mất lớp da che phủ, bảo vệ cơ thể do đó tạo điều kiện cho sự xâm nhập của mầm bệnh. Chấn thương bỏng gây một stress mạnh, gây tăng tiết các chất adrenocorticotropic hormone (ACTH), cortisol là các chất gây ức chế các cơ quan lympho trong cơ thể; hoại tử bỏng là nguồn sinh sản ra nhiều chất gây suy giảm miễn dịch như các kháng thể tự thân từ mô bỏng, các đa peptit gây ức chế miễn dịch, postaglandin (PG) đặc biệt là PGE2 là chất gây ức chế miễn dịch mạnh.

Suy giảm miễn dịch xuất hiện sớm, kéo dài trong suốt quá trình điều trị, có thể tự phục hồi nhưng cũng có thể phát triển nặng hơn, thậm chí thành trạng thái xóa bỏ miễn dịch, tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển [1]. Khái niệm và vai trò y học của nấm Theo phân loại hiện nay nấm (fungi) được coi là một giới riêng, có những đặc điểm sau đây: Là những sinh vật có nhân thực, có thành tế bào, dị dưỡng (heterotrophic) và sinh sản bằng bào tử [5], [6]. Nấm có thể có kích thước lớn (nấm rơm, mộc nhĩ.) hay kích thước rất nhỏ, phải quan sát dưới kính hiển vi gọi là vi nấm. Nấm có hai bộ phận chính là bộ phận sinh dưỡng và bộ phận sinh sản.

Dựa vào hình thể bộ phận sinh dưỡng vi nấm được gọi là nấm men hoặc nấm sợi. Nấm men: Có cấu tạo đơn bào, hình cầu hoặc trái xoan, kích thước 3 - 15 µm; khuẩn lạc nấm men 5 thường nhẵn, giống khuẩn lạc của vi khuẩn. Nấm sợi gồm những sợi nấm có cấu tạo đa bào, có loại sợi không vách ngăn (thường có đường kính lớn trên 5 µm), có loại có vách ngăn (thường nhỏ, 2 - 4 µm). Bộ phận sinh sản là nhiều loại bào tử với hình thể, kích thước rất đa dạng [5], [6].

Phần lớn nấm sống trong đất, trên các chất hữu cơ ở môi trường, ví dụ Aspergillus, Fusarium. sinh ra các bào tử phát tán đến môi trường mới gặp điều kiện thuận lợi lại có thể nẩy mầm, phát triển. Một số nấm có thể sống hội sinh ở người và động vật; ví dụ có thể phát hiện một số loài nấm men Candida như C. ở bề mặt niêm mạc, da của người bình thường.

Do đó người có thể nhiễm nấm từ môi trường bên ngoài, qua đường hô hấp, tiêu hóa, qua các vết thương hở (như tổn thương bỏng), hoặc nấm hội sinh trong cơ thể [5], [6]. Trừ một vài loại nấm như nấm da (dermatophytes) sống ký sinh bắt buộc, phần lớn nấm ký sinh gây bệnh ngẫu nhiên. Chỉ một số ít nấm có khả năng gây bệnh ở người bình thường còn hầu hết nấm chỉ có khả năng gây bệnh ở những người có yếu tố nguy cơ (suy giảm khả năng bảo vệ của cơ thể). Cơ chế bảo vệ của cơ thể gồm cơ chế bảo vệ không đặc hiệu như sự toàn vẹn của da, niêm mạc, hệ các vi sinh vật hội sinh, các tế bào thực bào., các immunoglobulins và bổ thể đóng vai trò opsonin.

Cơ chế bảo vệ đặc hiệu gồm các đáp ứng tế bào và dịch thể. Trong số các yếu tố bảo vệ, da có vai trò đặc biệt quan trọng trong ngăn chặn và tiêu diệt tác nhân gây bệnh xâm nhập cơ thể [5], [6]. Phân loại bệnh nấm: Có nhiều cách phân loại bệnh nấm. Theo dịch tễ học bệnh được chia thành bệnh nấm lưu hành (endemic: Bệnh do nấm Coccidioides immitis, Histoplasma capsulatum) và bệnh cơ hội (opportunistic: Candida, Aspergillus, Cryptococcus).

Theo hình thái nấm bệnh được phân thành bệnh do nấm men, bệnh do nấm sợi và bệnh do nấm 6 lưỡng dạng. Thông thường nhất là phân loại theo tổn thương giải phẫu, có thể phân thành hai loại chính là bệnh nấm ở da và bệnh nấm dưới da - nội tạng [5], [6]. Thuật ngữ bệnh nấm xâm lấn thường được dùng để chỉ nhiễm nấm huyết và các trường hợp nấm xâm lấn các cơ quan nội tạng. Candida và Aspergillus là những tác nhân thường gặp nhất trong số các căn nguyên bệnh nấm xâm lấn.

Khái niệm, phân loại nhiễm nấm trên bệnh nhân bỏng Một bệnh nhân (BN) được chẩn đoán nhiễm nấm khi phát hiện được nấm từ bất kỳ vị trí nào trên cơ thể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu dịch tễ học và hiệu quả điều trị nhiễm nấm ở bệnh nhân bỏng nặng tại Bệnh viện Bỏng Quốc gia là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc phân tích tình hình nhiễm nấm ở bệnh nhân bỏng nặng, đồng thời đánh giá hiệu quả của các phương pháp điều trị hiện tại. Nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết sâu sắc về dịch tễ học, các yếu tố nguy cơ, và cách tiếp cận điều trị tối ưu, giúp cải thiện kết quả lâm sàng cho bệnh nhân. Đây là nguồn tham khảo hữu ích cho các chuyên gia y tế và nhà nghiên cứu trong lĩnh vực bỏng và nhiễm trùng.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu y học liên quan, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối liên quan giữa resistin visfatin với một số nguy cơ tim mạch chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2, Luận án tiến sĩ nghiên cứu mô bệnh học sarcom xương nguyên phát theo phân loại của tổ chức y tế thế giới who năm 2013, hoặc Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu điều trị ung thư vú giai đoạn di căn bằng hóa trị phối hợp anthracycline và taxane watermark. Mỗi tài liệu này đều mang đến góc nhìn chuyên sâu về các vấn đề y khoa, giúp bạn nắm bắt thêm thông tin và ứng dụng trong thực tiễn.